
XVI. Bác sĩ Livesey kể tiếp: Con tàu bị bỏ lại như thế nào

Lúc bấy giờ độ chừng một giờ rưỡi chiều - tức ba hồi chuông1 theo cách gọi của dân đi biển - hai chiếc thuyền con đã rời tàu Hispaniola hướng vào bờ. Thưa các vị, thuyền trưởng, ngài địa chủ và tôi lúc ấy đang chụm đầu bàn bạc tình hình dưới khoang. Chỉ cần ông trời ban cho một luồng gió, chúng tôi đã xông ra xử lý sáu tên phản loạn còn nán lại trên boong, chặt đứt dây neo và kéo buồm giong ra khơi thẳng tiến. Khốn nỗi, mặt biển lặng ngắt như tờ, tuyệt nhiên không một gợn gió. Và rồi, như để khoét sâu thêm vào cái tình cảnh bất lực ấy, Hunter bước xuống khoang báo tin thằng bé Jim Hawkins đã lén tót lên một chiếc thuyền để lẻn lên bờ cùng với bọn chúng.
Chúng tôi nào có mảy may hồ nghi lòng trung thành của Jim Hawkins, chỉ là cả bọn đều vô cùng nơm nớp cho sự an nguy của cậu bé. Với cái điệu bộ hầm hầm sát khí của đám thủy thủ lúc bấy giờ, cơ hội để chúng tôi còn được gặp lại cậu e chỉ mỏng manh như sợi mành trước gió. Chúng tôi vội vã ùa lên boong tàu. Dưới cái nắng thiêu đốt, lớp nhựa đường trét giữa những ván gỗ sôi sùng sục; không khí lợm giọng của bãi neo đậu bốc lên nồng nặc khiến tôi buồn nôn muốn lộn mửa. Nếu trên đời này có nơi nào ám sẵn thứ mùi tử khí của bệnh sốt rét và kiết lỵ, thì hẳn phải là cái vũng neo tàu đáng nguyền rủa này. Sáu tên vô lại đang chui rúc dưới bóng một cánh buồm ở mũi tàu mà càu nhàu lẩm bẩm. Phía trên bờ, chúng tôi thấp thoáng thấy hai chiếc thuyền con đã được cột chặt ở sát cửa sông đổ ra biển, mỗi chiếc có một gã ngồi canh chừng. Một trong hai gã cứ vô tư huýt sáo vang bài "Lillibullero2".
Cái sự chờ đợi mòn mỏi mới thật là một màn tra tấn thần kinh, đến mức chúng tôi quyết định tôi và Hunter sẽ hạ chiếc thuyền nhỏ xuống rồi chèo vào bờ để thăm dò động tĩnh.
Thay vì rẽ ngoặt sang cánh phải theo hướng hai chiếc thuyền kia, Hunter và tôi cắm cúi chèo một mạch thẳng tiến về phía pháo đài đã được đánh dấu sẵn trên tấm bản đồ. Khi thấy bóng dáng chúng tôi lù lù xuất hiện, hai gã canh thuyền trên bờ tỏ ra lúng túng ra mặt; tiếng huýt sáo bài "Lillibullero" bỗng chốc im bặt, và tôi thấp thoáng thấy hai gã chụm đầu bàn tán xem nên ứng phó ra sao. Giả dụ lúc ấy chúng ba chân bốn cẳng chạy đi cấp báo cho Silver, thì cục diện có lẽ đã xoay chuyển theo một hướng khác. Nhưng tôi đồ chừng chúng đã bị trói buộc bởi mệnh lệnh cấm rời vị trí, nên cả hai đành chôn chân tại chỗ, và điệu huýt sáo "Lillibullero" lại cất lên như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Bờ biển lượn thành một khúc quanh thoai thoải, tôi liền khéo léo bẻ lái lợi dụng dải đất ấy làm bình phong che khuất tầm nhìn. Thế nên, ngay sát thời khắc thuyền chạm bãi, chúng tôi đã hoàn toàn khuất bóng hai chiếc thuyền kia. Vừa cập bờ, tôi lập tức nhảy phốc xuống, đầu lót thêm chiếc khăn lụa to bản dưới vành mũ để che nắng, tay lăm lăm hai khẩu súng ngắn đã nạp đạn sẵn sàng nhả đạn phòng thân, rồi vắt chân lên cổ chạy thục mạng.
Sải bước chưa đầy một trăm thước, tôi đã chạm mặt khu pháo đài.
Công trình này được cất lên theo cách thức sau: một mạch suối trong vắt tuôn trào gần sát đỉnh một ngọn đồi thoai thoải. Ngay trên đỉnh đồi, ôm trọn lấy mạch nước, người ta đã dựng lên một căn nhà gỗ vững chãi. Quy mô của nó đồ sộ đến mức có thể chứa chấp tới bốn chục mạng người nếu cần kíp, hai bên vách còn khoét sẵn những lỗ châu mai dùng làm điểm tựa để chĩa súng ra ngoài nhắm bắn. Xung quanh căn nhà, toàn bộ cây cối đã bị phát quang ráo trọi, tạo thành một khoảng đất trống trải được vây bọc bởi một hàng rào gỗ cao tới sáu feet, tuyệt nhiên không khoét cửa nẻo lối ra lối vào nào. Hàng rào kiên cố đến mức khó lòng quật ngã trong một sớm một chiều, mà khoảng đất quang đãng kia thì lại chẳng có lấy một góc khuất để những kẻ bao vây nương mình. Những người cố thủ bên trong căn nhà gỗ nắm trọn vẹn mọi lợi thế chiến thuật; họ chỉ việc ung dung nấp mình trong vỏ bọc và tỉa gục kẻ thù hệt như người ta đi săn chim trĩ. Tất cả những gì họ cần chỉ là cắt cử người canh gác cẩn mật và tích trữ đủ lương thảo. Bởi lẽ, trừ phi bị đánh úp bất thình lình, còn không thì dẫu có cả một trung đoàn xông lên, họ vẫn dư sức cố thủ vững vàng chốn này.
Tuy nhiên, chi tiết ghim chặt lấy sự chú ý của tôi lại chính là mạch suối. Bởi lẽ, dẫu chúng tôi đang chiếm giữ một vị trí khá đắc địa dưới hầm tàu Hispaniola, tha hồ thừa mứa súng ống, đạn dược, lương khô và rượu ngon, thế nhưng lại lỡ đánh rơi một thứ sống còn - chúng tôi hoàn toàn cạn kiệt nước ngọt. Tôi đương chìm vào dòng suy tưởng ấy thì bỗng đâu một tiếng thét xé lòng của kẻ đang oằn mình trước tử thần xé toạc sự tĩnh lặng của hòn đảo. Tôi vốn dĩ chẳng lạ lẫm gì với những cái chết đẫm máu - xưa kia tôi từng tòng quân dưới trướng Thái tử Công tước xứ Cumberland3, bản thân tôi cũng từng nếm mùi thương tích ở trận Fontenoy4 - nhưng thú thật, tiếng thét ấy vẫn khiến tim tôi lỡ đi vài nhịp. Ý nghĩ đầu tiên vọt qua đầu tôi khi ấy là: "Thằng bé Jim Hawkins chết rồi".
Bản lĩnh của một cựu quân nhân quả thực có giá trị, nhưng tư duy của một bác sĩ trong những khoảnh khắc này còn phát huy tác dụng gấp bội phần. Trong nghề nghiệp của chúng tôi, sự chần chừ là điều tối kỵ. Chẳng chớp mắt do dự, tôi lập tức đưa ra quyết định chớp nhoáng, không để lãng phí dù chỉ một giây đồng hồ, quay ngoắt lại bãi biển và lao ngay lên chiếc thuyền con.
May mắn thay, Hunter là một tay chèo cừ khôi. Mái chèo của anh quạt nước văng tung tóe, đẩy con thuyền lướt đi thoăn thoắt, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã cập mạn con tàu buồm.
Vừa bước lên boong, tôi liền nhận ra vẻ hoảng loạn hằn rõ trên nét mặt của mọi người, mà âu đó cũng là lẽ thường tình. Ngài địa chủ đáng kính đang ngồi thẫn thờ, gương mặt trắng bệch, hẳn là đang tự dằn vặt về tai họa khôn lường mà ngài đã vô tình đẩy tất cả chúng tôi vào. Phía mũi tàu, một trong sáu gã thủy thủ phe địch trông cũng thê thảm chẳng kém gì.
"Ngài xem kìa," Thuyền trưởng Smollett hất đầu về phía gã thủy thủ ấy, khẽ nói. "Tên này có vẻ chưa quen với mấy chuyện kinh hồn táng đởm này. Hắn suýt nữa đã lăn ra ngất xỉu khi nghe thấy tiếng la hét ban nãy đấy, thưa bác sĩ. Chỉ cần chúng ta khéo léo tác động thêm chút nữa, chắc chắn hắn sẽ ngả về phe ta."
Tôi liền mang kế hoạch của mình ra bàn bạc cùng thuyền trưởng. Rất nhanh chóng, cả hai thống nhất từng đường đi nước bước để sẵn sàng hành động.
Chúng tôi cắt cử lão Redruth trấn thủ ngay lối đi hẹp nối giữa khoang tàu và mũi tàu. Lão được trang bị dăm ba khẩu súng hỏa mai5 đã nạp sẵn đạn, nấp sau một tấm đệm dày để làm vật che chắn. Trong lúc đó, Hunter điều khiển con thuyền nhỏ vòng ra phía cửa mạn đuôi tàu, còn Joyce và tôi thì hối hả chuyển đồ đạc xuống thuyền. Nào là những thùng thuốc súng, súng hỏa mai, vài bao bánh quy, mấy thùng thịt lợn muối, một thùng rượu cognac thượng hạng, và đương nhiên không thể thiếu hộp thuốc y tế vô giá của tôi.
Trong khi chúng tôi tất bật chuyển đồ, ngài địa chủ và thuyền trưởng vẫn kiên cường bám trụ trên boong. Thuyền trưởng dõng dạc gọi tên gã lái tàu - kẻ đang cầm đầu đám phản loạn.
"Anh Hands," thuyền trưởng đanh giọng, "ở trên này đang có hai người chúng ta, và mỗi người đều lăm lăm hai tay hai khẩu súng ngắn. Chỉ cần một trong sáu người các anh dám hó hé động tĩnh gì, kẻ đó sẽ phải bỏ mạng ngay tắp lự."
Lời đe dọa đanh thép khiến bọn chúng thoáng chốc sửng sốt. Sau một hồi xì xầm bàn tán, cả đám nháo nhào chui tọt xuống hầm tàu phía mũi, lăm le vòng ra phía sau để đánh úp chúng tôi. Thế nhưng, vừa thò mặt ra đến hành lang, thấy lão Redruth đang lăm lăm tay súng đứng đợi sẵn, bọn chúng vội vã tháo lui. Lát sau, lại có một cái đầu thập thò định ngoi lên boong.
"Chui xuống hầm ngay, lũ chó!" thuyền trưởng quát như sấm nổ.
Cái đầu kia lập tức rụt biến. Và từ lúc ấy trở đi, chúng tôi không còn nghe thấy bất kỳ động tĩnh nào từ sáu gã thủy thủ hèn nhát đó nữa.

Đến lúc này, vừa hối hả quăng đồ đạc xuống vừa cố gắng sắp xếp sao cho gọn gàng, chúng tôi đã chất đầy ắp hàng hóa lên chiếc thuyền nhỏ. Joyce và tôi thoăn thoắt chui qua cửa mạn tàu phía đuôi, rồi ra sức chèo hướng vào bờ với tốc độ nhanh nhất có thể.
Tuy nhiên, chuyến đi thứ hai này đã thực sự đánh động lũ hải tặc đứng gác dọc bờ biển. Tiếng huýt sáo bài "Lillibullero" bỗng dưng bặt tắt; và ngay trước khi chiếc thuyền của chúng bị khuất sau doi đất nhỏ, một gã hải tặc đã kịp chạy vọt lên bờ rồi mất hút. Trong đầu tôi chợt nảy ra ý định thay đổi kế hoạch, lao tới phá hủy luôn thuyền của bọn chúng. Thế nhưng, tôi lại e ngại tên Silver cùng đồng bọn có thể đang lảng vảng ngay gần đó. Nếu quá liều lĩnh, rất có thể xôi hỏng bỏng không.
Chúng tôi nhanh chóng cập bến ngay tại vị trí cũ và lập tức bắt tay vào việc khuân vác đồ tiếp tế lên nhà gỗ. Ở chuyến đi bộ đầu tiên, cả ba chúng tôi đều mang vác trĩu trịt, hì hục ném đống hàng hóa qua hàng rào. Sau đó, chúng tôi để Joyce ở lại làm nhiệm vụ canh chừng. Dù chỉ có một thân một mình, anh ta lại được trang bị tới nửa tá súng hỏa mai. Hunter và tôi vội vã quay lại chiếc thuyền nhỏ, tiếp tục chất đồ lên vai. Cứ thế, chúng tôi làm việc quần quật không một phút ngơi tay. Cho tới khi toàn bộ hàng hóa đã được cất giữ an toàn, hai người hầu liền nhanh chóng vào vị trí chiến đấu bên trong nhà gỗ. Còn tôi lại dốc toàn lực, gò lưng chèo thuyền quay ngược trở lại con tàu Hispaniola.
Quả thực, việc chúng tôi liều lĩnh thực hiện chuyến chở hàng thứ hai nghe qua thì có vẻ táo bạo, nhưng tình hình thực tế lại không đến nỗi quá mạo hiểm. Dĩ nhiên là bọn hải tặc có ưu thế vượt trội về quân số, nhưng chúng tôi lại nắm giữ lợi thế tuyệt đối về vũ khí. Chẳng một tên nào trên bờ có trong tay khẩu súng hỏa mai. Do đó, trước khi chúng kịp tiến đến đủ gần để dùng súng ngắn, chúng tôi hoàn toàn tự tin có thể hạ gục ít nhất nửa tá tên trong số chúng.
Ngài địa chủ đã đợi sẵn tôi nơi ô cửa sổ đuôi tàu, vẻ hoảng loạn ban nãy dường như tan biến sạch. Ngài chộp lấy sợi dây mũi thuyền, thoăn thoắt buộc chặt. Chúng tôi tức tốc tuồn đồ đạc xuống thuyền, hối hả như đang giành giật lấy từng tia hy vọng sống sót. Chỗ hàng hóa ấy mang theo gồm thịt lợn muối, thuốc súng và bánh quy khô. Về phần vũ khí, ngài địa chủ, tôi, Redruth cùng thuyền trưởng, mỗi người thủ sẵn một khẩu súng hỏa mai và một thanh đoản kiếm6 giắt lưng. Số vũ khí và đạn dược còn lại, chúng tôi thẳng tay ném xuống biển sâu chừng hai sải rưỡi. Xuyên qua làn nước trong vắt, dưới ánh mặt trời rực rỡ, người ta vẫn có thể nhìn thấy lớp thép ánh lên những tia sáng loang loáng nằm ngoan ngoãn trên dải cát trắng tinh.
Ngay lúc này, thủy triều bắt đầu rút, khiến con tàu lắc lư nhè nhẹ quanh trục neo. Từ hướng hai chiếc thuyền nhỏ, tiếng í ới gọi nhau văng vẳng dội lại. Âm thanh ấy tuy giúp chúng tôi phần nào an tâm về tình cảnh của Joyce và Hunter đang ở tít phía đông, nhưng đồng thời cũng là hồi chuông thúc giục cả nhóm phải lập tức nhổ neo tẩu thoát.
Redruth từ tốn lùi bước khỏi vị trí gác ở hành lang, nhẹ nhàng thả người xuống thuyền. Chúng tôi liền khéo léo bẻ lái, lướt qua phần đuôi tàu đang nhô ra, cốt để Thuyền trưởng Smollett có thể bước xuống một cách dễ dàng nhất.
"Bọn mày có nghe rõ không?" thuyền trưởng cất giọng.
Phía mũi tàu vẫn lặng ngắt như tờ, chẳng có lấy một tiếng hồi đáp.
"Ta đang nói anh đó, Abraham Gray - ta đang gọi anh đấy."
Không gian vẫn chìm trong im lặng.
"Gray à," ông Smollett tiếp lời, giọng đã cất cao hơn đôi chút, "ta sắp rời khỏi con tàu này, và ta ra lệnh cho anh phải đi theo thuyền trưởng của mình. Ta biết từ tận đáy lòng, anh là một người tử tế, và ta dám chắc trong đám bọn mày chẳng có kẻ nào thực sự xấu xa đến mức vô phương cứu chữa như vẻ ngoài của chúng. Trên tay ta đang là chiếc đồng hồ; ta cho anh đúng ba mươi giây để bước sang đây sát cánh cùng ta."
Lại một khoảng lặng nặng nề trôi qua.
"Nào, anh bạn tốt," thuyền trưởng vẫn kiên nhẫn; "đừng chần chừ thêm nữa. Dây dưa giây phút nào là ta đang đánh cược mạng sống của chính mình cùng các quý ông tử tế ở đây phút ấy."
Bất thình lình, một vụ ẩu đả nổ ra, tiếng đấm đá thụi nhau vang lên bình bịch. Thoắt cái, Abraham Gray lao vụt ra với một vết dao chém rướm máu bên má. Anh ta vắt chân lên cổ chạy bổ về phía thuyền trưởng, ngoan ngoãn hệt như một chú chó nghe tiếng huýt sáo của chủ.
"Tôi theo ngài, thưa ngài," anh ta dứt khoát đáp.
Và chỉ nội trong chớp mắt tiếp theo, cả anh ta lẫn thuyền trưởng đều đã buông mình xuống chiếc thuyền nhỏ. Chúng tôi lập tức lấy đà đẩy mạnh thuyền ra xa rồi ra sức chèo đi.
Vậy là chúng tôi đã thoát khỏi con tàu một cách êm thấm, dẫu cho hành trình đặt chân lên pháo đài trên bờ vẫn còn chưa ngã ngũ.
-
Hệ thống đánh chuông trên tàu biển xưa dùng để báo giờ và chia ca trực. 'Ba hồi chuông' vào đầu phiên gác chiều báo hiệu thời điểm đúng 1 giờ rưỡi. ↩
-
Một bài hành khúc nhịp điệu vui tươi, cực kỳ nổi tiếng của quân đội Anh từ cuối thế kỷ 17. Bài hát này rất phổ biến trong giới quân nhân và hải quân thời bấy giờ. ↩
-
Tước hiệu của Vương tử William Augustus (1721-1765), con trai Vua George II của Vương quốc Anh. Ông là một nhà chỉ huy quân sự nổi danh ở thế kỷ 18. ↩
-
Trận đánh lớn diễn ra năm 1745 tại Bỉ trong khuôn khổ Chiến tranh Kế vị Áo. Quân đội Anh chịu tổn thất nặng nề trước quân Pháp, nhưng binh lính Anh vẫn ghi dấu ấn vì chiến đấu rất dũng cảm. ↩
-
Loại súng trường cổ điển nạp đạn từ nòng, dùng mồi lửa hoặc đá lửa để kích nổ. Thời gian nhồi thuốc súng và nạp đạn rất lâu nên người ta thường phải nạp sẵn đạn cho nhiều khẩu cùng lúc. ↩
-
Loại gươm ngắn, lưỡi rộng và hơi cong (tiếng Anh là 'cutlass'), là vũ khí cận chiến đặc trưng của thủy thủ và hải tặc vì dễ vung chém trong không gian chật hẹp trên boong tàu. ↩

XVI. Narrative Continued by the Doctor: How the Ship Was Abandoned

t was about half past one-three bells in the sea phrase-that the two boats went ashore from the Hispaniola. The captain, the squire, and I were talking matters over in the cabin. Had there been a breath of wind, we should have fallen on the six mutineers who were left aboard with us, slipped our cable, and away to sea. But the wind was wanting; and to complete our helplessness, down came Hunter with the news that Jim Hawkins had slipped into a boat and was gone ashore with the rest.
It never occurred to us to doubt Jim Hawkins, but we were alarmed for his safety. With the men in the temper they were in, it seemed an even chance if we should see the lad again. We ran on deck. The pitch was bubbling in the seams; the nasty stench of the place turned me sick; if ever a man smelt fever and dysentery, it was in that abominable anchorage. The six scoundrels were sitting grumbling under a sail in the forecastle; ashore we could see the gigs made fast and a man sitting in each, hard by where the river runs in. One of them was whistling “Lillibullero.”
Waiting was a strain, and it was decided that Hunter and I should go ashore with the jolly-boat in quest of information.
The gigs had leaned to their right, but Hunter and I pulled straight in, in the direction of the stockade upon the chart. The two who were left guarding their boats seemed in a bustle at our appearance; “Lillibullero” stopped off, and I could see the pair discussing what they ought to do. Had they gone and told Silver, all might have turned out differently; but they had their orders, I suppose, and decided to sit quietly where they were and hark back again to “Lillibullero.”
There was a slight bend in the coast, and I steered so as to put it between us; even before we landed we had thus lost sight of the gigs. I jumped out and came as near running as I durst, with a big silk handkerchief under my hat for coolness’ sake and a brace of pistols ready primed for safety.
I had not gone a hundred yards when I reached the stockade.
This was how it was: a spring of clear water rose almost at the top of a knoll. Well, on the knoll, and enclosing the spring, they had clapped a stout loghouse fit to hold two score of people on a pinch and loopholed for musketry on either side. All round this they had cleared a wide space, and then the thing was completed by a paling six feet high, without door or opening, too strong to pull down without time and labour and too open to shelter the besiegers. The people in the log-house had them in every way; they stood quiet in shelter and shot the others like partridges. All they wanted was a good watch and food; for, short of a complete surprise, they might have held the place against a regiment.
What particularly took my fancy was the spring. For though we had a good enough place of it in the cabin of the Hispaniola, with plenty of arms and ammunition, and things to eat, and excellent wines, there had been one thing overlooked-we had no water. I was thinking this over when there came ringing over the island the cry of a man at the point of death. I was not new to violent death-I have served his Royal Highness the Duke of Cumberland, and got a wound myself at Fontenoy-but I know my pulse went dot and carry one. “Jim Hawkins is gone,” was my first thought.
It is something to have been an old soldier, but more still to have been a doctor. There is no time to dilly-dally in our work. And so now I made up my mind instantly, and with no time lost returned to the shore and jumped on board the jolly-boat.
By good fortune Hunter pulled a good oar. We made the water fly, and the boat was soon alongside and I aboard the schooner.
I found them all shaken, as was natural. The squire was sitting down, as white as a sheet, thinking of the harm he had led us to, the good soul! And one of the six forecastle hands was little better.
“There’s a man,” says Captain Smollett, nodding towards him, “new to this work. He came nigh-hand fainting, doctor, when he heard the cry. Another touch of the rudder and that man would join us.”
I told my plan to the captain, and between us we settled on the details of its accomplishment.
We put old Redruth in the gallery between the cabin and the forecastle, with three or four loaded muskets and a mattress for protection. Hunter brought the boat round under the stern-port, and Joyce and I set to work loading her with powder tins, muskets, bags of biscuits, kegs of pork, a cask of cognac, and my invaluable medicine chest.
In the meantime, the squire and the captain stayed on deck, and the latter hailed the coxswain, who was the principal man aboard.
“Mr. Hands,” he said, “here are two of us with a brace of pistols each. If any one of you six make a signal of any description, that man’s dead.”
They were a good deal taken aback, and after a little consultation one and all tumbled down the fore companion, thinking no doubt to take us on the rear. But when they saw Redruth waiting for them in the sparred galley, they went about ship at once, and a head popped out again on deck.
“Down, dog!” cries the captain.
And the head popped back again; and we heard no more, for the time, of these six very faint-hearted seamen.

By this time, tumbling things in as they came, we had the jolly-boat loaded as much as we dared. Joyce and I got out through the stern-port, and we made for shore again as fast as oars could take us.
This second trip fairly aroused the watchers along shore. “Lillibullero” was dropped again; and just before we lost sight of them behind the little point, one of them whipped ashore and disappeared. I had half a mind to change my plan and destroy their boats, but I feared that Silver and the others might be close at hand, and all might very well be lost by trying for too much.
We had soon touched land in the same place as before and set to provision the block house. All three made the first journey, heavily laden, and tossed our stores over the palisade. Then, leaving Joyce to guard them-one man, to be sure, but with half a dozen muskets-Hunter and I returned to the jolly-boat and loaded ourselves once more. So we proceeded without pausing to take breath, till the whole cargo was bestowed, when the two servants took up their position in the block house, and I, with all my power, sculled back to the Hispaniola.
That we should have risked a second boat load seems more daring than it really was. They had the advantage of numbers, of course, but we had the advantage of arms. Not one of the men ashore had a musket, and before they could get within range for pistol shooting, we flattered ourselves we should be able to give a good account of a half-dozen at least.
The squire was waiting for me at the stern window, all his faintness gone from him. He caught the painter and made it fast, and we fell to loading the boat for our very lives. Pork, powder, and biscuit was the cargo, with only a musket and a cutlass apiece for the squire and me and Redruth and the captain. The rest of the arms and powder we dropped overboard in two fathoms and a half of water, so that we could see the bright steel shining far below us in the sun, on the clean, sandy bottom.
By this time the tide was beginning to ebb, and the ship was swinging round to her anchor. Voices were heard faintly halloaing in the direction of the two gigs; and though this reassured us for Joyce and Hunter, who were well to the eastward, it warned our party to be off.
Redruth retreated from his place in the gallery and dropped into the boat, which we then brought round to the ship’s counter, to be handier for Captain Smollett.
“Now, men,” said he, “do you hear me?”
There was no answer from the forecastle.
“It’s to you, Abraham Gray-it’s to you I am speaking.”
Still no reply.
“Gray,” resumed Mr. Smollett, a little louder, “I am leaving this ship, and I order you to follow your captain. I know you are a good man at bottom, and I dare say not one of the lot of you’s as bad as he makes out. I have my watch here in my hand; I give you thirty seconds to join me in.”
There was a pause.
“Come, my fine fellow,” continued the captain; “don’t hang so long in stays. I’m risking my life and the lives of these good gentlemen every second.”
There was a sudden scuffle, a sound of blows, and out burst Abraham Gray with a knife cut on the side of the cheek, and came running to the captain like a dog to the whistle.
“I’m with you, sir,” said he.
And the next moment he and the captain had dropped aboard of us, and we had shoved off and given way.
We were clear out of the ship, but not yet ashore in our stockade.