MỌI THỨ Ở ĐÚNG VỊ TRÍ CỦA NÓ


Hơn một thế kỷ trước, khuất sau cánh rừng thẳm và bên bờ một hồ nước sâu, sừng sững một tòa dinh thự cổ kính của vị nam tước. Bao bọc lấy tòa nhà là một hào nước sâu ken đặc những khóm lau sậy. Ngay sát đầu cầu dẫn vào cổng chính, một gốc liễu già nua uốn mình, rủ bóng rợp cả mặt hào.
Một ngày nọ, từ con ngõ hẹp chợt vang lên những tiếng tù và dồn dập xen lẫn tiếng vó ngựa rầm rập cuồng nộ. Cô bé chăn ngỗng cuống cuồng lùa bầy ngỗng lánh xa khỏi cây cầu trước khi đám người đi săn phóng ngựa ập tới. Thế nhưng, đám người lao đến với tốc độ kinh hoàng, buộc cô bé phải vội leo tót lên thành cầu thu mình lại để tránh bị bầy ngựa giày xéo. Dáng vẻ cô bé mỏng manh, nhỏ nhắn, khuôn mặt toát lên nét hiền từ cùng đôi mắt xanh biếc sáng ngời-nhưng tên nam tước nào có màng đến những điều tốt đẹp ấy. Vừa giật cương phóng ngang qua, ông ta lật ngược chiếc roi da trên tay, thô bạo dùng cán roi hích mạnh một cú làm cô bé ngã lộn nhào xuống lòng mương.
"Mọi thứ phải ở đúng vị trí của nó!" ông ta gầm lên. "Xuống vũng bùn đi, mi!" Rồi ông ta ngửa cổ cười sằng sặc đắc ý với trò đùa tàn nhẫn của chính mình, kéo theo cả đám tùy tùng hùa vào cười hố hố. Cả đoàn người ầm ĩ hò hét, hòa lẫn cùng tiếng bầy chó săn tru tréo vang dội.
Phúc đức thay, trong khoảnh khắc rớt xuống, cô bé tội nghiệp luống cuống bám víu được vào một trong những cành liễu đang la đà rủ rễ, nhờ thế mà không bị chìm nghỉm dưới lớp bùn lầy. Đợi bóng gã nam tước cùng đám thợ săn và bầy chó khuất dạng sau cánh cổng lâu đài, cô bé mới dùng hết sức bình sinh tự đu người ngoi lên. Nhưng cành liễu gãy gập ngay phần ngọn, khiến cô bé chới với suýt ngã ngửa về phía bụi lau, nếu không có một bàn tay rắn rỏi từ trên cao kịp thời tóm chặt lấy. Đó là tay của một chú bán hàng rong. Chú đã chứng kiến toàn bộ cảnh tượng kinh hãi từ đằng xa và vội vã lao đến ứng cứu.
"Mọi thứ ở đúng vị trí của nó," chú khẽ nói, nhại lại câu nói cộc cằn của tay nam tước hợm hĩnh, trong lúc kéo cô bé lên bờ đất khô. Chú định bụng chắp lại nhánh liễu vào chỗ vừa gãy, nhưng "mọi thứ ở đúng vị trí của nó" nào có phải lúc nào cũng dễ bề sắp đặt. Vậy là chú cắm phăng cành liễu xuống nền đất tơi xốp. "Cứ lớn lên và xanh tốt hết mức có thể nhé," chú thủ thỉ, "cho đến khi mi vươn cành tạo thành một cây sáo tuyệt đỉnh thổi cho mấy kẻ bên kia nghe. Giá như ngài nam tước cao quý cùng gia tộc ông ta chịu để mắt tới, ta thèm khát cho họ nếm thử lời thách thức này biết chừng nào."
Sau đó, chú rảo bước vào lâu đài. Nhưng chú chẳng bước lên sảnh đường tráng lệ; thân phận chú quá thấp hèn để bén mảng đến nơi ấy. Chú vòng ra khu nhà dành cho gia nhân, nơi đám nam nữ hầu bàn đang xúm xít săm soi và bới móc đống hàng hóa của chú. Trong khi đó, từ phía tầng trên-nơi đám khách khứa thượng lưu đang trác táng-dội xuống những tràng gào thét, tru tréo mà họ gọi là ca hát. Trông họ ra sức thét gào đến khản cổ. Những tràng cười hô hố bỉ ổi lẫn trong tiếng chó sủa ầm ĩ dội tuột ra ngoài qua những khung cửa sổ đang mở toang hoác. Tất thảy đều đang ngập ngụa trong men say rượu thịt. Rượu vang cùng bia bọt tràn trề trào ra khỏi mép bình và ly cốc; thậm chí bầy chó săn cũng được đặc cách chè chén chung mâm với những người chủ hào phóng của chúng. Đám người cho gọi chú bán hàng rong lên, song rốt cuộc cũng chỉ để bày trò tiêu khiển mua vui. Men rượu bốc hỏa lên đỉnh đầu, vắt kiệt chút lý trí cuối cùng của bọn họ. Họ trút ngược rượu vào một chiếc vớ bẩn rồi ép chú phải nốc cùng-tất nhiên là phải uống ực một hơi-và thói bạo ngược đó lại được tôn vinh là một trò đùa kiệt xuất, châm ngòi cho những tràng cười bùng nổ man dại. Trên chiếu bạc đỏ đen, cả những cơ ngơi đồn điền bạt ngàn, cùng với tính mạng tá điền và gia súc, đều bị lôi ra cá cược trong một ván bài vô bổ để rồi nướng sạch sành sanh.
"Mọi thứ ở đúng vị trí của nó," chú hàng rong lẩm bẩm ngán ngẩm, ngay khi vừa chuồn êm khỏi cái chốn mà mình thầm gọi là vũng lầy tội lỗi Sodom và Gomorrah1 trên kia. "Con đường lớn thênh thang mới đích thị là vị trí đúng đắn của mình; cái cơ ngơi tráng lệ đó hoàn toàn không dành cho mình." Khi rảo bước trên con đường quen thuộc, chú trông thấy cô bé đang mải mê chăn ngỗng, và cháu lễ phép gật đầu chào chú bằng một nụ cười hiền hậu thân thương.
Ngày nối ngày rồi tuần lại qua tuần, cành liễu mà người bán hàng rong cắm xuống phần đất ven hào quanh lâu đài đã bám rễ thật sâu. Nó cứ thế vươn lên tươi tốt, xanh rì, mạnh mẽ nhú ra vô vàn nhánh non mơn mởn.
Nhìn thấy cành liễu đã đâm chồi nảy lộc, cô bé chăn ngỗng vui sướng đến ngập lòng. "Cái cây này," cô bé thầm nghĩ, "bây giờ hẳn là cây của mình rồi."
Cái cây hiển nhiên đang ngày một đâm chồi nảy lộc, tràn trề sức sống, thế nhưng bên trong tòa lâu đài, đằng sau những chuỗi ngày chìm đắm trong yến tiệc và bài bạc, mọi thứ lại đang mục ruỗng và lụi tàn; bởi vì tiệc tùng và cờ bạc vốn dĩ giống như những trục lăn trơn tuột, chẳng một ai có thể đứng vững trên đó mà không ngã nhào. Sáu năm chưa kịp trôi qua, ngài nam tước cao quý ngày nào đã phải lê bước khỏi cổng lâu đài với hai bàn tay trắng, hóa thành một kẻ nghèo rớt mồng tơi. Dinh thự lộng lẫy lập tức được sang tay cho một thương gia giàu có. Và vị thương gia ấy, thật trớ trêu thay, lại chính là người bán hàng rong từng bị ngài nam tước biến thành trò tiêu khiển và bị ép uống rượu từ một chiếc vớ. Ấy thế nhưng, lòng trung thực và sự cần mẫn luôn là ngọn gió lành thổi căng cánh buồm, đã xuôi dòng đưa người bán hàng rong trở thành tân chủ nhân của toàn bộ cơ ngơi vốn thuộc về nam tước. Kể từ giây phút ấy, mọi sới bạc trong dinh thự hoàn toàn bị cấm tiệt.
Vị tân chủ nhân rước về dinh một người vợ hiền thảo, và đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là cô bé chăn ngỗng thuở nào. Người con gái luôn mang trong tim tấm lòng sắt son và bản tính thiện lương ấy, giờ đây rạng rỡ và diễm lệ trong những xiêm y lụa là, cốt cách chẳng khác chi một phu nhân quyền quý sinh ra trong nhung lụa. Giữa nhịp đời hối hả này, nếu cứ nán lại mà kể lể ngọn ngành chuyện đó đã diễn ra thế nào thì e là hơi dông dài, nhưng sự tình quả thật đã xoay vần như thế, và những phần tuyệt diệu nhất vẫn còn đang đợi chờ ở phía trước.
Sống trong cơ ngơi cổ kính lúc bấy giờ mới thật là một lạc thú êm đềm làm sao. Đích thân phu nhân xắn tay lo liệu chuyện bếp núc cửa nhà, trong khi đức lang quân đứng ra trông nom mọi việc giao thương. Phước lành cứ thế ùa vào tổ ấm của họ, bởi lẽ nơi đâu có sự chính trực dẫn lối, nơi đó sự thịnh vượng ắt sẽ đâm chồi. Tòa dinh thự cũ kỹ được quét dọn tươm tất và sơn phết lại rực rỡ, con hào quanh năm ứ nước nay được rút cạn để nhường chỗ cho một vườn cây ăn trái trĩu quả. Lát ván sàn được đánh bóng loáng đến mức hệt như một bàn cờ tinh tươm, và vạn vật dường như đều toát lên vẻ bừng sáng, ngập tràn hỉ hoan.
Vào những đêm mùa đông dài lê thê lạnh giá, phu nhân của dinh thự ung dung ngồi quay xa cùng các tỳ nữ giữa sảnh đường thênh thang. Người chồng, khi tóc đã nhuốm màu sương gió, cũng nghiễm nhiên trở thành một vị quan tòa đáng kính. Cứ mỗi tối Chủ nhật, ông lại quây quần đọc Kinh Thánh cho cả gia đình, bởi bầy trẻ giờ đây đã lần lượt ra đời. Chúng thảy đều được dưỡng dục theo cách hoàn mỹ nhất, dẫu cho chẳng phải đứa trẻ nào cũng mang sẵn trí tuệ kiệt xuất hơn người-nhưng đó vốn là chuyện thường tình ở mọi mái ấm. Trong lúc ấy, cành liễu nhỏ bé nơi cổng lâu đài năm nào đã vươn mình thành một đại thụ rực rỡ, hiên ngang đứng đó, tự do tự tại, chẳng màng đến bất kỳ sự trói buộc nào.
"Đó là cây gia phả của gia đình ta," đôi vợ chồng già mỉm cười hiền từ bảo ban, "và vì vậy, cái cây này phải được nâng niu và tôn trọng, kể cả bởi những kẻ không được khôn ngoan cho lắm."
Một trăm năm đã trôi qua, và cảnh vật nơi đây đã khoác lên mình một diện mạo hoàn toàn khác lạ. Hồ nước ngày nào nay chỉ còn là bãi đất hoang, trong khi tòa lâu đài cổ kính của vị nam tước xưa kia cũng đã gần như lùi vào dĩ vãng. Tất cả những gì sót lại chỉ là một vũng nước đọng, đoạn hào sâu hoắm cùng vài mảng tường hoang tàn, đổ nát. Ngay sát cạnh tàn tích ấy là một cây liễu rủ khổng lồ-chính là cái cây gia phả thuở trước. Nó vẫn hiên ngang bám trụ ở đó, kiêu hãnh phô bày vẻ lộng lẫy tuyệt mỹ mà một cây liễu có thể vươn tới khi được tự do sinh trưởng. Dẫu thân cây đã nứt toác từ gốc đến ngọn, dẫu những trận cuồng phong đã uốn thân nó còng xuống, thì cái cây vẫn vững vàng vượt qua tất thảy. Từ những vết nứt hay hốc cây nơi gió cuốn bụi đất lọt vào, những mầm non và những đóa hoa lại bừng lên sức sống. Tít trên cao, nơi những cành lớn vươn ra các nhánh, đám mâm xôi dại quấn quýt đan cài vào nhau, trông hệt như một khu vườn treo lơ lửng giữa không trung. Thậm chí, một nhánh tầm gửi bé nhỏ cũng đã kịp cắm rễ tại đây, vươn mình xanh tốt, mảnh mai và duyên dáng, lẩn khuất giữa những cành liễu già đang in bóng rủ xuống mặt nước u tối bên dưới. Mỗi bận gió biển tràn vào, những vòm lá liễu lại khẽ khàng reo lên xào xạc. Có một lối mòn vắt ngang qua cánh đồng, chạy ngay sát bên gốc cây.
Trên đỉnh đồi, kề bên khu rừng và thu trọn vào tầm mắt một khung cảnh vô cùng tráng lệ, là tòa dinh thự mới của ngài nam tước. Tòa nhà phô trương những ô cửa sổ lắp kính trong veo đến độ tưởng chừng như lớp kính ấy không hề tồn tại. Dải bậc thang thênh thang dẫn lên lối vào được trang hoàng tựa hồ một giàn hoa hồng rực rỡ, đan xen cùng những loài cây kiểng lá to. Bãi cỏ thì mướt mát, xanh rờn, tựa như từng ngọn cỏ đều được người ta tỉ mẩn lau chùi sạch sẽ mỗi sớm, mỗi chiều. Bên trong đại sảnh là cơ man nào những bức danh họa đắt tiền. Những chiếc ghế tựa, ghế bành bọc lụa lóng lánh và nhung êm ái đến mức trông như thể chúng có sinh khí và tự mình cựa quậy được. Đó đây là những chiếc bàn mặt đá cẩm thạch trắng muốt, cùng những cuốn sách bọc nhung viền vàng xa xỉ. Quả thực, nơi này đích thị là chốn ngự trị của những kẻ ngập trong nhung lụa, những con người thuộc tầng lớp thượng lưu-chính là vị nam tước đời mới và gia quyến của ông ta.
Mỗi một món đồ vật thảy đều được bài trí sao cho tôn lên vẻ hài hòa với tổng thể nội thất. Phương châm của gia đình này vẫn mãi là, "Mọi thứ phải ở đúng vị trí của nó." Vì lẽ đó, những bức tranh từng một thời là niềm tự hào và vinh dự ngất trời của ngôi nhà cũ, nay lại bị đem treo lây lất ngoài hành lang dẫn xuống khu nhà của người ở. Chúng bị xem chẳng khác gì đống rác rưởi bỏ đi; thảm hại nhất phải kể đến hai bức chân dung cũ mèm. Một bức vẽ gã đàn ông đội mái tóc giả nạm phấn, khoác chiếc áo choàng màu hồng nhạt; bức kia là chân dung một người đàn bà với mái tóc uốn lọn cũng rắc đầy phấn trắng, tay mân mê đóa hồng. Xung quanh mỗi bức vẽ đều được trang trí bằng một vòng lá liễu lượn lờ. Cả hai bức họa giờ đây đều rách bươm, lủng lỗ chỗ, bởi lẽ những cậu nam tước con luôn lôi hai ông bà cụ này ra làm hồng tâm để tập bắn cung. Dẫu vậy, đó lại chính là chân dung của vị quan tòa và phu nhân đáng kính-tổ tiên trực hệ của cái gia đình đang ngự trị hiện tại.
"Nhưng họ không thực sự thuộc về dòng họ chúng ta," một cậu nam tước nhỏ bĩu môi nói, "ông ấy chỉ là một gã bán hàng rong, còn bà ấy là một con bé chăn ngỗng. Họ nào có giống như ba với mẹ."
Thế nên, chỉ vì đã nhuốm màu xưa cũ, những bức tranh kia bị phán là đồ vô giá trị. Và vẫn trung thành với cái phương châm "Mọi thứ phải ở đúng vị trí của nó", cả ông cố lẫn bà cố của cái gia đình danh giá ấy đã bị tống khứ không thương tiếc ra ngoài hành lang của đám gia nhân.
Con trai của vị mục sư trong vùng đang làm gia sư tại một dinh thự bề thế. Một ngày nọ, anh đưa các học trò của mình-những cậu tiểu nam tước-cùng người chị cả vừa hoàn thành lễ thêm sức2 đi dạo. Họ ung dung rảo bước trên con đường mòn vắt ngang qua cánh đồng, dẫn lối đến bên gốc liễu già nua. Vừa thong dong dạo bước, vị nữ nam tước trẻ vừa kết những bông hoa dại nhổ từ bờ rào thành một vòng hoa xinh xắn, cẩn thận đặt "mỗi bông một chỗ của nó", tạo nên một tổng thể vô cùng diễm lệ. Cùng lúc ấy, cô say sưa lắng nghe từng lời bộc bạch từ con trai vị mục sư. Cô rất ưng thuận khi nghe anh thao thao bất tuyệt về những điều kỳ diệu của tạo hóa, cũng như về những danh nhân lỗi lạc trong chiều dài lịch sử. Quả thực, cô sở hữu một tâm hồn thuần khiết với những nếp nghĩ và xúc cảm thanh cao, cùng một trái tim chan chứa tình yêu thương dành cho mọi tạo vật vạn năng của Thượng Đế.
Cả nhóm dừng chân bên gốc liễu già. Cậu út trong số các tiểu nam tước nằng nặc đòi xin một nhành cây để đẽo thành chiếc sáo, y như cái cách cậu vẫn thường làm với bao cây liễu khác. Người gia sư thuận tay bẻ gãy một cành. "Ôi, anh đừng làm thế!" vị nữ nam tước trẻ hoảng hốt kêu lên, nhưng cành liễu thì đã lìa thân mất rồi. "Tôi thực lòng rất tiếc," cô khẽ khàng nói tiếp, "đó là báu vật cổ thụ lẫy lừng của gia tộc chúng tôi, và tôi trân quý nó hơn cả. Ở nhà, ai nấy đều lôi chuyện này ra để châm chọc tôi, nhưng tôi chẳng hề màng tới. Thực ra, có một giai thoại kể về cái cây ấy đấy."
Thế rồi, cô bắt đầu kể lại những bối cảnh mà chúng ta vốn đã tường tận: về tòa lâu đài cổ kính, về anh bán hàng rong và cô bé chăn ngỗng-những người đã chạm mặt nhau lần đầu tiên tại chính nơi này và cũng là cội nguồn tổ tiên của gia tộc quý tộc mà nữ nam tước trẻ thuộc về. "Đôi vợ chồng hiền hậu năm xưa nhất quyết từ chối tước vị," cô kể. "Phương châm sống của họ là 'Mọi thứ ở đúng vị trí của nó', và họ coi việc dùng tiền bạc để mua danh chuộc tước là điều mạt rệp vô cùng. Ông nội tôi, vị nam tước đầu tiên của dòng họ, chính là con trai của họ. Ông là một học giả uyên bác, được các bậc vương tôn công tử và công chúa nể trọng, luôn là thượng khách tại các buổi dạ yến chốn cung đình. Dẫu vậy, khi trở về nhà, mọi người lại đem lòng yêu mến ông nội nhất, dù tôi chẳng thể hiểu nổi nguyên do. Hình như có một sợi dây vô hình nào đó từ cặp vợ chồng già tổ tiên kia vẫn luôn níu kéo trái tim tôi hướng về họ. Hẳn là ở trong ngôi nhà cổ kính thuở ấy, cảnh tượng thật ấm cúng và chan chứa tình thân biết nhường nào, khi bà chủ điềm nhiên ngồi quay xa cùng các tì nữ, còn người chồng thì cất giọng dõng dạc đọc Kinh Thánh cho cả nhà cùng nghe!"
"Họ quả thực là những con người vô cùng đáng mến và thấu tình đạt lý," người gia sư điềm đạm đáp lời. Và rồi, mạch chuyện dần chuyển hướng sang chủ đề về giới quý tộc và tầng lớp bình dân. Cách anh gia sư bàn luận uyên thâm về mục đích và ý nghĩa tồn tại của giới quý tộc khiến người ta dễ dàng quên đi xuất thân bần hàn của anh.
"Quả là một hồng phúc khi được cất tiếng khóc chào đời trong một gia tộc sở hữu địa vị kiệt xuất trên thế gian, và được thừa hưởng một nguồn sức mạnh nội tại luôn hối thúc chúng ta dấn thân vào những điều cao cả và hữu ích. Thật êm ái làm sao khi mang một danh gia vọng tộc tựa như tấm giấy thông hành mở toang cánh cửa bước vào giới thượng lưu danh giá nhất. Dẫu vậy, sự quý phái đích thực bao giờ cũng lớn lao và đáng để tôn kính. Nó hệt như một đồng tiền xu được khắc nổi dấu ấn khẳng định giá trị của chính mình. Nhưng, thật là một sự ngộ nhận tày đình của thời đại chúng ta-một vết xe đổ mà không ít nhà thơ đã trót sa chân-khi quả quyết rằng bất cứ ai sinh ra mang dòng máu quý tộc cũng nghiễm nhiên là phường độc ác hay ngu muội, và rằng hễ cứ đi sâu vào những tầng lớp bần cùng dưới đáy xã hội, ta lại càng dễ dàng chạm mặt những nhân cách chói lòa và vĩ đại. Tôi cho rằng tư duy ấy hoàn toàn sai lệch. Bởi lẽ, dù ở bất kỳ nấc thang nào của xã hội, cô vẫn có thể dễ dàng tìm thấy những người đàn ông và phụ nữ sở hữu những nét tính cách nhân hậu và tuyệt mỹ vô ngần.
"Mẹ tôi từng kể cho tôi nghe về một nhân vật như thế, và tôi có thể dẫn chứng cho cô thêm vô vàn người giống vậy nữa. Có một bận, mẹ tôi đến thăm tư dinh của một vị quý tộc trong thị trấn; bà ngoại tôi-nếu tôi nhớ không nhầm-đã lớn lên dưới mái nhà của gia tộc ấy. Một ngày nọ, khi mẹ tôi và vị quý tộc nọ tình cờ ở lại một mình, thì một bà lão chống nạng lụ khụ khập khiễng bước vào sân. Lão bà này vẫn thường lui tới đây vào mỗi Chủ nhật và lúc nào cũng mang về một món quà. 'A, bà lão tội nghiệp kia rồi,' vị quý tộc thốt lên; 'bà ấy lê bước mới nhọc nhằn làm sao!' Và ngay trước khi mẹ tôi kịp mường tượng ra ngụ ý trong lời ông, ông đã phi vội ra khỏi phòng và chạy ào xuống lầu để đón bà lão. Dẫu bản thân cũng đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy3, vị quý tộc già vẫn tự tay trao tận nơi món quà mà bà lão đến nhận, cốt chỉ để bà chẳng phải cắn răng chịu đựng thêm một bước đi đớn đau nào nữa. Hành động đó tuy chỉ là một việc vặt vãnh cỏn con, nhưng, tựa như hai đồng tiền kẽm của người đàn bà góa phụ trong Kinh Thánh4, nó đã rung lên một hồi chuông vang dội tận đáy sâu cõi lòng.
"Đấy! Đó mới chính là những thi liệu sáng giá để giới văn nhân thi sĩ phóng bút ngợi ca, bởi lẽ chúng sẽ xoa dịu và gắn kết toàn thể nhân loại lại thành một tình anh em ruột thịt. Thế nhưng, khi một sinh linh phàm tục bé mọn, chỉ cậy nhờ vào cái mác dòng dõi tổ tiên danh gia vọng tộc mà dám vênh váo chồm lên hệt như một con ngựa Ả Rập bất kham giữa đường phố, hay buông lời rẻ rúng miệt thị những thân phận thường dân bần hàn, thì đó chính là dấu hiệu cho thấy sự quý phái đang mấp mé bên bờ vực của sự lụi tàn-nó giờ đây chỉ còn là lớp vỏ bọc rỗng tuếch, giả tạo hệt như chiếc mặt nạ kịch câm do Thespis5 sáng tạo ra. Và quả thực, người đời lúc nào cũng khoái trá khôn tả khi được chứng kiến những kẻ huênh hoang như vậy biến thành trò cười cho thiên hạ."
Đó là toàn bộ bài diễn thuyết hùng hồn của anh gia sư-phải thừa nhận là nó khá dài dòng, nhưng dẫu sao thì trong suốt lúc thao thao bất tuyệt, anh cũng đã kịp gọt xong chiếc sáo nhỏ.
Tối hôm ấy, một bữa dạ tiệc linh đình được tổ chức tại Dinh thự. Khắp sảnh đường rộng lớn chật ních khách khứa-vài vị từ các điền trang lân cận, số khác lặn lội đến từ tận thủ đô xa xôi. Nổi bật giữa đám đông là một nhóm phu nhân ăn vận lộng lẫy, kẻ thanh lịch đài các, người lại diêm dúa kệch cỡm; ở một góc khác, mấy vị giáo sĩ từ các giáo xứ quanh vùng đang túm tụm lại, khuôn mặt ai nấy đều trang nghiêm như thể đang đứng trước một đám tang. Ấy thế nhưng, đây tuyệt nhiên chẳng phải tang lễ; đáng lẽ đó phải là một buổi tụ tập chung vui, ngặt nỗi niềm vui dường như vẫn chưa chịu gõ cửa. Tiếng đàn ca hát xướng vang vọng khắp các căn phòng, mở màn bằng tiết mục của một vị khách, rồi dần dà đến lượt những người khác nối tiếp. Cậu nam tước nhỏ cũng trịnh trọng lôi cây sáo của mình ra trổ tài, nhưng khổ nỗi cả cậu lẫn cha cậu - người cố gắng thử vận may ngay sau đó, đều chẳng làm nên trò trống gì. Rốt cuộc, cây sáo tội nghiệp bị phán quyết là một thứ đồ bỏ đi.
"Nhưng chắc chắn anh đây cũng là một người am tường âm luật," một quý ông hóm hỉnh cất lời, lái sự chú ý của mọi người về phía anh gia sư. "Đã là người gọt sáo, ắt hẳn anh cũng phải là một tay thổi sáo cừ khôi. Nghe đâu anh là một thiên tài toàn năng cơ mà, thứ đang rất được thời giá chuộng lạ lùng-chẳng có gì sánh nổi với thiên tài đâu. Nào, lại đây; tôi tin là anh sẽ đủ rộng lượng để bỏ bùa mê cả hội trường này bằng món nhạc cụ cỏn con ấy." Vừa dứt lời, ông ta dúi cây sáo vào tay anh, cao giọng tuyên bố dõng dạc rằng anh gia sư chuẩn bị ban ân cho cả thảy quan khách bằng một màn độc tấu tuyệt kỹ.
Quá dễ để nhìn thấu mưu đồ của đám người đang rắp tâm lôi anh ra làm trò tiêu khiển, nên đương nhiên, anh một mực chối từ. Nhưng bọn họ cứ thi nhau ép uổng, dồn ép dai dẳng đến độ cuối cùng, trong sự mệt mỏi cùng cực và chán chường bủa vây, anh đành cam chịu cầm lấy cây sáo và chậm rãi đưa lên môi.
Thật là một cây sáo kỳ lạ! Một luồng âm thanh phát ra từ nó, vang dội, lanh lảnh và rung bần bật, hệt như tiếng còi của một cỗ máy hơi nước khổng lồ-không, còn chói tai hơn thế rất nhiều. Nó gào rít xuyên qua dinh thự, luồn lách qua những khu vườn và cánh rừng thẳm, rồi vang vọng hàng dặm dài khắp chốn đồng quê. Và quyện cùng âm thanh ấy là một cơn cuồng phong dữ dội, từng hơi thở bão táp của nó gầm lên rành rọt từng tiếng: "Mọi thứ về đúng vị trí của nó!"
Ngay tắp lự, vị nam tước, kẻ tự xưng là chủ nhân của Dinh thự, bị trận cuồng phong cuốn thốc lên, quẳng tọt ra ngoài cửa sổ, rồi bị nhốt kín mít trong căn phòng của người gác cổng chỉ trong một cái chớp mắt. Bản thân người gác cổng lại được nâng bổng lên, chẳng phải đưa vào phòng khách-không, vì nơi đó không xứng với tấm lòng anh ta-mà bay thẳng vào khu nhà của gia nhân. Nơi ấy, những tên hầu hạ ngạo mạn xỏ chân trong đôi bít tất lụa đang run lẩy bẩy vì kinh hãi khi phải chứng kiến một kẻ thấp hèn như vậy nay lại chễm chệ ngồi chung bàn với chúng.
Thế nhưng, giữa sảnh đường rộng lớn, vị nữ nam tước trẻ được luồng gió nhẹ nhàng đưa đến chiếc ghế danh dự, nơi cô hoàn toàn xứng đáng được an tọa, và chỗ của người gia sư là ngay sát bên cạnh cô. Nơi đó, hai người họ sánh vai nhau, trông hệt như một cặp cô dâu chú rể rạng ngời trước mặt toàn thế giới. Riêng một vị bá tước già, bậc trưởng bối xuất thân từ một trong những gia tộc danh giá bậc nhất xứ sở, vẫn an vị y nguyên chỗ cũ, chẳng hề mảy may bị một luồng khí mỏng nào mạo phạm, bởi lẽ cây sáo thần này vô cùng công minh. Còn vị quý ông trẻ ra chiều hóm hỉnh, kẻ vừa mới châm ngòi cho toàn bộ vụ náo động kinh thiên động địa này, thì bị gió cuốn cắm thẳng đầu xuống bùn, gia nhập ngay vào bầy ngỗng om sòm ngoài sân cầm súc.
Cách đó nửa dặm ngoài vùng nông thôn, cây sáo tiếp tục phô diễn những điều kỳ diệu. Gia đình của một tay trọc phú, những kẻ luôn huênh hoang đi lại bằng cỗ xe bốn ngựa kéo, đều bị tống khứ không thương tiếc văng cả ra khỏi cửa sổ xe. Hai lão nông dân, những kẻ phất lên quá đỗi nhanh chóng để rồi vênh váo chối bỏ cả đám họ hàng ruột thịt nghèo hèn, cũng bị thổi bay tuột thẳng xuống mương nước bùn lầy. Quả là một cây sáo nguy hiểm bậc nhất! Nhưng may mắn thay, ngay khi vừa cất lên âm thanh đầu tiên, nó đã vỡ tan tành và rồi được anh gia sư cẩn thận cất giấu vào sâu trong túi áo. "Mọi thứ về đúng vị trí của nó!"
Ngày hôm sau, chẳng ai nhắc lại sự việc kinh hoàng đó nữa, cứ như thể nó chưa từng xảy ra. Mọi chuyện đều được ỉm đi. Tất thảy vẫn y hệt như cũ, chỉ trừ một điều: hai bức chân dung nhuốm màu thời gian của người bán hàng rong và cô bé chăn ngỗng vẫn tiếp tục ngự trên bức tường sảnh đường, đúng nơi cơn cuồng phong đã cuốn chúng tới. Thế rồi, một vài chuyên gia nghệ thuật tình cờ trông thấy chúng. Khi những nhà thông thái ấy lớn tiếng tuyên bố rằng đây là những kiệt tác được cọ vẽ bởi bàn tay của một bậc thầy, hai bức chân dung lập tức được làm sạch, phục chế và mãi mãi về sau được người đời tung hô, tôn vinh. Trước đó, phỏng có ai hay biết đến giá trị đích thực của chúng đâu.
"Mọi thứ ở đúng vị trí của nó!" Rồi sẽ là như thế, mọi sự sẽ an bài vào đúng thời điểm của nó. Đừng vội âu lo. Dẫu rằng, điều đó có thể không xảy ra ngay tại chốn trần gian này. Bởi lẽ, mong cầu một sự công bằng trọn vẹn ở cõi đời này, e rằng cũng có chút thái quá.
-
Hai thành phố được nhắc đến trong Kinh Thánh, nổi tiếng vì sự suy đồi đạo đức và lối sống sa đọa, cuối cùng bị Thượng Đế giáng hỏa ngục thiêu rụi. ↩
-
Một nghi thức quan trọng trong đạo Kitô, đánh dấu sự trưởng thành về mặt tâm linh và đức tin của một tín hữu. ↩
-
Thành ngữ gốc Hán ("nhân sinh thất thập cổ lai hy"), mang ý nghĩa người sống thọ đến bảy mươi tuổi là điều xưa nay hiếm. ↩
-
Điển tích trong Tân Ước, kể về một góa phụ nghèo khó hiến dâng hai đồng tiền kẽm nhỏ bé nhưng được ngợi ca là quý giá hơn mọi của cải, biểu tượng cho tấm lòng chân thành dâng hiến tất cả những gì mình có. ↩
-
Một thi sĩ người Hy Lạp cổ đại sống vào thế kỷ thứ 6 TCN, được lịch sử ghi nhận là diễn viên đầu tiên của kịch nghệ phương Tây và là người khởi xướng việc dùng mặt nạ trên sân khấu. ↩
EVERYTHING IN ITS RIGHT PLACE


MORE than a hundred years ago, behind the wood and by a deep lake, stood an old baronial mansion. Round it lay a deep moat, in which grew reeds and rushes, and close by the bridge, near the entrance gate, stood an old willow that bent itself over the moat.
From a narrow lane one day sounded the clang of horns and the trampling of horses. The little girl who kept the geese hastened to drive them away from the bridge before the hunting party came galloping up to it. They came, however, with such haste that the girl was obliged to climb up and seat herself on the parapet of the bridge, lest they should ride over her. She was scarcely more than a child, with a pretty, delicate figure, a gentle expression of face, and two bright blue eyes-all of which the baron took no note of; but as he galloped past, he reversed the whip held in his hand, and in rough play gave the little goose-watcher such a push with the butt end that she fell backward into the ditch.
"Everything in its right place," cried he. "Into the puddle with you!" and then he laughed aloud at what he called his own wit, and the rest joined with him. The whole party shouted and screamed, and the dogs barked loudly.
Fortunately for herself, the poor girl in falling caught hold of one of the overhanging branches of the willow tree, by which she was able to keep herself from falling into the muddy pool. As soon as the baron, with his company and his dogs, had disappeared through the castle gate, she tried to raise herself by her own exertions; but the bough broke off at the top, and she would have fallen backwards among the reeds if a strong hand had not at that moment seized her from above. It was the hand of a peddler, who, at a short distance, had witnessed the whole affair and hastened up to give assistance.
"Everything in its right place," he said, imitating the noble baron, as he drew the little maiden up on dry ground. He would have restored the bough to the place from which it had been broken off, but "everything in its right place" is not always so easy to arrange, so he stuck the bough in the soft earth. "Grow and prosper as much as you can," said he, "till you produce a good flute for some of them over there. With the permission of the noble baron and his family, I should like them to hear my challenge."
So he betook himself to the castle, but not into the noble hall; he was too humble for that. He went to the servants' apartments, and the men and maids examined and turned over his stock of goods, while from above, where the company were at table, came sounds of screaming and shouting which they called singing-and indeed they did their best. Loud laughter, mingled with the howling of dogs, sounded through the open windows. All were feasting and carousing. Wine and strong ale foamed in the jugs and glasses; even the dogs ate and drank with their masters. The peddler was sent for, but only to make fun for them. The wine had mounted to their heads, and the sense had flown out. They poured wine into a stocking for him to drink with them-quickly, of course-and this was considered a rare jest and occasioned fresh bursts of laughter. At cards, whole farms, with their stock of peasants and cattle, were staked on a card and lost.
"Everything in its right place," said the peddler, when he at last escaped from what he called the Sodom and Gomorrah up there. "The open highroad is my right place; that house did not suit me at all." As he stepped along, he saw the little maiden keeping watch over the geese, and she nodded to him in a friendly way.
Days and weeks passed, and it soon became evident that the willow branch which had been stuck in the ground by the peddler, near to the castle moat, had taken root, for it remained fresh and green and put forth new twigs.
The little girl saw that the branch must have taken root, and she was quite joyful about it. "This tree," she said, "must be my tree now."
The tree certainly flourished, but at the castle, what with feasting and gambling, everything went to ruin; for these two things are like rollers, upon which no man can possibly stand securely. Six years had not passed away before the noble baron wandered out of the castle gate a poor man, and the mansion was bought by a rich dealer. This dealer was no other than the man of whom he had made fun and for whom he had poured wine into a stocking to drink. But honesty and industry are like favorable winds to a ship, and they had brought the peddler to be master of the baron's estates. From that hour no more card playing was permitted there.
The new proprietor took to himself a wife, and who should it be but the little goose-watcher, who had always remained faithful and good, and who looked as beautiful and fine in her new clothes as if she had been a highly born lady. It would be too long a story in these busy times to explain how all this came about, but it really did happen, and the most important part is to come.
It was pleasant to live in the old court now. The mistress herself managed the housekeeping within, and the master superintended the estate. Their home overflowed with blessings, for where rectitude leads the way, prosperity is sure to follow. The old house was cleaned and painted, the moat dried up, and fruit trees planted in it. The floors of the house were polished as smoothly as a draftboard, and everything looked bright and cheerful.
During the long winter evenings the lady of the house sat with her maidens at the spinning wheel in the great hall. Her husband, in his old age, had been made a magistrate. Every Sunday evening he read the Bible with his family, for children had come to him and were all instructed in the best manner, although they were not all equally clever-as is the case in all families. In the meantime, the willow branch at the castle gate had grown into a splendid tree and stood free and unrestrained.
"That is our genealogical tree," said the old people, "and the tree must therefore be honored and esteemed, even by those who are not very wise."
A hundred years passed away, and the place presented a much-changed aspect. The lake had been converted into moorland, and the old baronial castle had almost disappeared. A pool of water, the deep moat, and the ruins of some of the walls were all that remained. Close by grew a magnificent willow tree, with overhanging branches-the same genealogical tree of former times. Here it still stood, showing to what beauty a willow can attain when left to itself. To be sure, the trunk was split through, from the root to the top, and the storm had slightly bent it; but it stood firm through all, and from every crevice and opening into which earth had been carried by the wind, shot forth blossoms and flowers. Near the top, where the large boughs parted, the wild raspberry twined its branches and looked like a hanging garden. Even the little mistletoe had here struck root, and flourished, graceful and delicate, among the branches of the willow, which were reflected in the dark waters beneath it. Sometimes the wind from the sea scattered the willow leaves. A path led through the field, close by the tree.
On the top of a hill, near the forest, with a splendid prospect before it, stood the new baronial hall, with panes of such transparent glass in the windows that there appeared to be none. The grand flight of steps leading to the entrance looked like a bower of roses and broad-leaved plants. The lawn was as fresh and green as if each separate blade of grass were cleaned morning and evening. In the hall hung costly pictures. The chairs and sofas were of silk and velvet and looked almost as if they could move of themselves. There were tables with white marble tops, and books bound in velvet and gold. Here, indeed, resided wealthy people, people of rank-the new baron and his family.
Each article was made to harmonize with the other furnishings. The family motto still was, "Everything in its right place." Therefore the pictures which were once the honor and glory of the old house now hung in the passage leading to the servants' hall. They were considered mere lumber; especially two old portraits, one of a man in a wig and a rose-colored coat, the other of a lady with frizzed and powdered hair, holding a rose in her hand, each surrounded by a wreath of willow leaves. Both the pictures had many holes in them, for the little barons always set up the two old people as targets for their bows and arrows; and yet these were pictures of the magistrate and his lady, from whom the present family were descended. "But they did not properly belong to our family," said one of the little barons; "he was a peddler, and she kept the geese. They were not like papa and mamma." So the pictures, being old, were considered worthless; and the motto being "Each in its right place," the great-grandfather and the great-grandmother of the family were sent into the passage leading to the servants' hall.
The son of the clergyman of the place was tutor at the great house. One day he was out walking with his pupils-the little barons-and their eldest sister, who had just been confirmed. They took the path through the fields, which led past the old willow tree. While they walked, the young lady made a wreath of hedge blossoms and wild flowers, "each in its right place," and the wreath was, as a whole, very pretty. At the same time she heard every word uttered by the son of the clergyman. She liked very much to hear him talk of the wonders of nature and of the great men and women of history. She had a healthy mind, with nobility of thought and feeling, and a heart full of love for all God's creation.
The walking party halted at the old willow tree; the youngest of the barons wanted a branch from it to make a flute, as he had already made them from other willows. The tutor broke off a branch. "Oh, don't do that," exclaimed the young baroness; but it was already done. "I am so sorry," she continued; "that is our famous old tree, and I love it very much. They laugh at me for it at home, but I don't mind. There is a story told about that tree."
Then she told him what we already know: about the old castle, and about the peddler and the girl with the geese, who had met at this spot for the first time and were the ancestors of the noble family to which the young baroness belonged. "The good old folks would not be ennobled," said she. "Their motto was 'Everything in its right place,' and they thought it would not be right for them to purchase a title with money. My grandfather, the first baron, was their son. He was a very learned man, known and appreciated by princes and princesses, and was present at all the festivals at court. At home, they all love him best, but I scarcely know why. There seems to me something in the first old pair that draws my heart towards them. How sociable, how patriarchal, it must have been in the old house, where the mistress sat at the spinning wheel with her maids while her husband read aloud to them from the Bible!"
"They must have been charming, sensible people," said the tutor, and then the conversation turned upon nobles and commoners. It was almost as if the tutor did not belong to an inferior class, he spoke so wisely upon the purpose and intention of nobility.
"It is certainly good fortune to belong to a family that has distinguished itself in the world, and to inherit the energy which spurs us on to progress in everything noble and useful. It is pleasant to bear a family name that is like a card of admission to the highest circles. True nobility is always great and honorable. It is a coin which has received the impression of its own value. It is a mistake of the present day, into which many poets have fallen, to affirm that all who are noble by birth must therefore be wicked or foolish, and that the lower we descend in society the oftener we find great and shining characters. I feel that this is quite false. In all classes can be found men and women possessing kindly and beautiful traits.
"My mother told me of one, and I could tell you of many more. She was once on a visit to a nobleman's house in the town; my grandmother, I believe, had been brought up in the family. One day, when my mother and the nobleman happened to be alone, an old woman came limping into the court on crutches. She was accustomed to come every Sunday and always carried away a gift with her. 'Ah, there is the poor old woman,' said the nobleman; 'what pain it is for her to walk!' And before my mother understood what he said, he had left the room and run downstairs to the old woman. Though seventy years old himself, the old nobleman carried to the woman the gift she had come to receive, to spare her the pain of walking any farther. This is only a trifling circumstance, but, like the two mites given by the widow in the Bible, it wakes an echo in the heart.
"These are subjects of which poets should write and sing, for they soften and unite mankind into one brotherhood. But when a mere sprig of humanity, because it has noble ancestors of good blood, rears up and prances like an Arabian horse in the street or speaks contemptuously of common people, then it is nobility in danger of decay-a mere pretense, like the mask which Thespis invented. People are glad to see such persons turned into objects of satire."
This was the tutor's speech-certainly rather a long one, but he had been busily engaged in cutting the flute while he talked.
There was a large party at the Hall that evening. The grand salon was crowded with guests-some from the neighborhood, some from the capital. There was a bevy of ladies richly dressed with, and without, taste; a group of the clergy from the adjoining parishes, in a corner together, as grave as though met for a funeral. A funeral party it certainly was not, however; it was meant for a party of pleasure, but the pleasure was yet to come. Music and song filled the rooms, first one of the party volunteering, then another. The little baron brought out his flute, but neither he nor his father, who tried it after him, could make anything of it. It was pronounced a failure.
"But you are a performer, too, surely," said a witty gentleman, addressing the tutor. "You are of course a flute player as well as a flute maker. You are a universal genius, I hear, and genius is quite the rage nowadays-nothing like genius. Come now; I am sure you will be so good as to enchant us by playing on this little instrument." He handed it over, announcing in a loud voice that the tutor was going to favor the company with a solo on the flute.
It was easy to see that these people wanted to make fun of him, and he refused to play. But they pressed him so long and so urgently that at last, in very weariness, he took the flute and raised it to his lips.
It was a strange flute! A sound issued from it, loud, shrill, and vibrating, like that sent forth by a steam engine-nay, far louder. It thrilled through the house, through garden and woodland, miles out into the country; and with the sound came also a strong, rushing wind, its stormy breath clearly uttering the words, "Everything in its right place!"
Forthwith the baron, the master of the Hall, was caught up by the wind, carried out at the window, and was shut up in the porter's lodge in a trice. The porter himself was borne up, not into the drawing room-no, for that he was not fit-but into the servants' hall, where the proud lackeys in their silk stockings shook with horror to see so low a person sit at table with them.
But in the grand salon the young baroness was wafted to the seat of honor, where she was worthy to sit, and the tutor's place was by her side. There they sat together, for all the world like bride and bridegroom. An old count, descended from one of the noblest houses in the land, retained his seat, not so much as a breath of air disturbing him, for the flute was strictly just. The witty young gentleman, who had been the occasion of all this tumult, was whirled out headforemost to join geese and ganders in the poultry yard.
Half a mile out in the country the flute wrought wonders. The family of a rich merchant, who drove with four horses, were all precipitated from the carriage window. Two farmers, who had of late grown too wealthy to know their nearest relations, were puffed into a ditch. It was a dangerous flute. Luckily, at the first sound it uttered, it burst and was then put safely away in the tutor's pocket. "Everything in its right place!"
Next day no more was said about the adventure than as if it had never happened. The affair was hushed up, and all things were the same as before, except that the two old portraits of the peddler and the goose girl continued to hang on the walls of the salon, whither the wind had blown them. Here some connoisseur chanced to see them, and because he pronounced them to be painted by a master hand, they were cleaned and restored and ever after held in honor. Their value had not been known before.
"Everything in its right place!" So shall it be, all in good time, never fear. Not in this world, perhaps. That would be expecting rather too much.