CHIẾC ĐÈN ĐƯỜNG CŨ


Bạn đã bao giờ nghe câu chuyện về chiếc đèn đường cũ chưa? Thật ra câu chuyện cũng chẳng ly kỳ lắm đâu, nhưng dẫu sao thì cũng rất đáng để bạn nán lại nghe thử một lần.
Đó là một chiếc đèn cũ vô cùng đáng kính. Sau bao năm ròng rã cống hiến tận tụy, giờ đây nó chuẩn bị được nghỉ ngơi với một khoản lương hưu. Đêm nay chính là đêm cuối cùng nó còn đứng ở vị trí quen thuộc này, tỏa ánh sáng ấm áp xuống khu phố. Nó bỗng thấy mình chẳng khác nào một cựu vũ nữ ở nhà hát đang bước ra sân khấu trong đêm diễn giã từ, cõi lòng xót xa khi biết rõ rằng ngày mai, bà sẽ lủi thủi trở về căn gác xép tồi tàn, nhốt mình trong nỗi cô đơn và sự lãng quên phũ phàng.
Chiếc đèn bồn chồn khôn tả khi nghĩ đến ngày mai. Nó biết mình sẽ phải trình diện lần đầu tiên tại tòa thị chính để ngài thị trưởng cùng hội đồng soi xét. Họ sẽ phán quyết xem liệu nó có còn chút giá trị nào để tiếp tục phục vụ hay không; liệu nó có đủ tư cách để rọi sáng cho người dân ở một vùng ngoại ô hẻo lánh, ở chốn thôn quê xa xôi, hay tại một nhà máy mù mịt khói bụi nào đó. Nếu chẳng may người ta đánh giá nó hoàn toàn vô dụng, nó sẽ bị tống thẳng đến xưởng đúc sắt để nung chảy không thương tiếc. Khi đó, nó có thể biến hình thành bất cứ thứ gì trên đời, và điều làm nó day dứt nhất là không biết đến lúc ấy, liệu mình còn giữ được chút ký ức nào về tháng ngày từng là một chiếc đèn đường kiêu hãnh hay không. Nỗi băn khoăn ấy khiến nó phiền muộn khôn nguôi.
Dù số phận có định đoạt ra sao, thì có một điều chắc chắn: chiếc đèn sẽ phải chia xa ông lão gác đêm và vợ ông, những người mà từ lâu nó đã gắn bó như máu mủ ruột rà. Đêm đầu tiên chiếc đèn được treo lên cũng chính là cái đêm người gác đêm1-thuở ấy vẫn còn là một chàng trai trẻ vạm vỡ-nhận ca gác đầu tiên trong đời. Ôi chao! Thấm thoắt thời gian trôi đi, đằng đẵng biết bao tháng năm kể từ khi kẻ thì nhận lấy kiếp đèn đường, người thì lãnh cái nghiệp gác đêm. Người vợ thuở thiếu thời cũng mang chút kiêu kỳ; mỗi bận đi ngang qua vào buổi tối, bà chỉ khẽ hạ cố liếc nhìn chiếc đèn một cái-còn ban ngày thì tuyệt nhiên chẳng bận tâm. Thế nhưng những năm tháng về sau, khi cả ba-người gác đêm, người vợ và chiếc đèn-đều đã nếm trải sự phôi pha của tuổi già, chính bà lão lại là người hết lòng chăm bẵm nó, tận tay lau chùi bụi bặm và cẩn thận châm thêm dầu. Vợ chồng ông lão vô cùng chân thật; họ chưa bao giờ bớt xén của chiếc đèn lấy dẫu chỉ một giọt dầu trong phần tiêu chuẩn mà nó được ban phát.
Đây đã là đêm cuối cùng chiếc đèn được soi bóng trên con phố này, và ngày mai nó phải trình diện tại tòa thị chính-hai viễn cảnh ấy quả thật quá đỗi u ám. Thảo nào ngọn lửa của nó chẳng thể cháy sáng tỏ như xưa. Nó đã soi đường cho biết bao người, và đã chứng kiến biết bao nhiêu chuyện! Thậm chí, số chuyện nó biết rất có thể còn nhiều ngang ngửa thị trưởng và cả hội đồng thành phố! Tuy nhiên, chẳng có suy nghĩ nào trong số này được thốt thành lời, bởi chiếc đèn vốn mang bản tính lương thiện, đoan chính và chẳng đời nào muốn làm tổn hại đến bất kỳ ai, nhất là những bậc cầm quyền. Khi những mảnh ký ức thi nhau ùa về trong tâm trí, ánh sáng của nó chợt lóe lên rực rỡ. Trong những khoảnh khắc ấy, chiếc đèn ấp ủ một niềm tin mãnh liệt rằng người đời sẽ còn nhớ mãi đến nó.
"Từng có một chàng trai trẻ khôi ngô," chiếc đèn thầm nghĩ; "chắc chắn chuyện đó đã qua lâu lắm rồi, nhưng tôi nhớ chàng từng cầm trên tay một bức thư nhỏ, viết trên giấy màu hồng đào viền vàng. Nét chữ thật đài các, hiển nhiên là bút tích của một quý cô. Chàng lướt đọc bức thư hai lần, rồi đặt lên môi hôn, và ngước nhìn tôi bằng đôi mắt như cất tiếng hân hoan: 'Tôi là người đàn ông hạnh phúc nhất trần đời!' Chỉ có chàng và tôi mới biết được những lời mặn nồng trong đó, bức thư tình đầu tiên từ người thương của chàng. Ồ, đúng rồi, lại còn một đôi mắt khác mà tôi vẫn mãi khắc ghi; kỳ lạ làm sao khi những dòng suy nghĩ cứ mải miết nhảy múa từ chuyện này sang chuyện khác! Dạo ấy có một đám tang đi ngang qua phố. Một người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp nằm trên chiếc cáng kết đầy vòng hoa, được tháp tùng bởi hàng loạt ngọn đuốc sáng rực át cả ánh sáng của tôi. Dọc hai bên đường, người dân rời khỏi nhà, đứng tụm lại thành từng đám đông, sẵn sàng bước theo đoàn đưa tang. Thế nhưng, khi những ngọn đuốc đi khuất dần và tôi có thể rọi sáng xung quanh, tôi chợt thấy một người đàn ông đứng cô độc, gục đầu vào thân cột của tôi mà khóc. Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được đôi mắt chan chứa bi thương đã ngước nhìn tôi đêm hôm ấy."
Những dòng hồi tưởng ấy cùng biết bao kỷ niệm tương tự đã choán ngợp tâm trí chiếc đèn đường cũ kỹ trong đêm cuối cùng nó được tỏa sáng. Một người lính gác khi đến lúc thay ca, ít nhất cũng biết ai sẽ là người kế nhiệm mình, để còn có thể thì thầm dặn dò dăm ba câu. Thế nhưng chiếc đèn lại chẳng hề hay biết kẻ thay thế mình là ai, bằng không nó đã có thể rỉ tai khuyên nhủ đôi điều về những đêm mưa rào hay sương mù giăng lối, và chỉ cho kẻ đó biết ánh trăng sẽ rọi đến tận đâu, hay những cơn gió thường thổi về từ hướng nào, và muôn vàn những điều vụn vặt khác.
Ngay trên cây cầu đá vắt ngang con kênh, có ba kẻ đang chầu chực, lăm le tiến cử bản thân với chiếc đèn. Bọn chúng đinh ninh rằng ngài đèn đường khả kính kia nắm trong tay đặc quyền trao lại chức vụ cho bất cứ ai ngài chọn.
Ứng viên đầu tiên là một cái đầu cá trích, thứ vốn sở hữu khả năng phát quang mờ ảo giữa màn đêm2. Gã ba hoa rằng người ta sẽ tiết kiệm được cả khối dầu nếu chịu đặt gã chễm chệ trên đỉnh cột đèn. Kẻ thứ hai là một khúc gỗ mục3, một gã cũng biết le lói chút ánh sáng lập lòe khi bóng tối buông xuống. Gã vỗ ngực tự xưng mình là dòng dõi trâm anh thế phiệt, hậu duệ của một gốc cổ thụ từng là niềm kiêu hãnh của cả khu rừng. Kẻ thứ ba lại là một chú đom đóm bé nhỏ. Chiếc đèn già nua thực chẳng thể hình dung nổi làm cách nào mà sinh vật cỏn con ấy lại lần mò được tới tận đây; thế nhưng, chú ta quả thực đang hiện diện, và rực sáng rạng rỡ chẳng hề kém cạnh hai gã kia.
Ấy vậy mà, khúc gỗ mục và chiếc đầu cá trích lại hùa nhau thề thốt, trịnh trọng viện đến mọi thứ mà chúng coi là thiêng liêng nhất trên đời, để khẳng định rằng đom đóm chỉ tỏa sáng vào những thời điểm nhất định, do đó hoàn toàn không có tư cách tranh giành với chúng. Chiếc đèn cũ đành phải quả quyết rằng chẳng một kẻ nào trong số chúng có khả năng tỏa ra luồng ánh sáng đủ mạnh để đảm đương sứ mệnh của một ngọn đèn đường. Ngặt nỗi, bọn chúng bưng tai bịt mắt, chẳng thèm tin lấy một lời ngài nói. Đến khi vỡ lẽ ra rằng ngài vốn dĩ chẳng có đặc quyền để chỉ định người kế nhiệm, bọn chúng liền lật lọng, cười khẩy bảo rằng chúng lấy làm hoan hỉ vô cùng khi biết được điều đó, bởi một chiếc đèn lụ khụ và tàn tạ dường kia thì làm sao đủ minh mẫn để đưa ra một quyết định sáng suốt cơ chứ.
Đúng lúc ấy, ngài Gió lao vun vút qua góc phố, luồn lách vào những kẽ hở thông khí của chiếc đèn cũ. "Ta vừa nghe thấy chuyện gì thế này?" ngài Gió cất tiếng hỏi. "Ngày mai bạn phải rời đi rồi sao? Tối nay là lần cuối cùng đôi ta gặp nhau ư? Nếu vậy, ta nhất định phải tặng bạn một món quà chia tay. Ta sẽ thổi vào tâm trí bạn một luồng sinh khí kỳ diệu. Từ nay về sau, không những bạn có thể hồi tưởng ngọn ngành mọi điều đã từng tai nghe mắt thấy, mà ánh sáng tự tâm bạn sẽ tỏa rạng đến mức thấu tỏ mọi lời nói, việc làm của thế nhân diễn ra ngay trước mắt."
"Ôi, đó quả thực là một đặc ân tuyệt diệu quá đỗi!" chiếc đèn cũ cảm kích đáp. "Tôi xin chân thành cảm tạ ngài. Tôi chỉ e mình không chịu thấu mà bị nung chảy mất thôi."
"Chuyện đó đâu dễ xảy ra," ngài Gió trấn an. "Ta sẽ còn ban cho bạn một ký ức phi phàm, để nếu sau này bạn có nhận thêm những ân sủng khác, tuổi xế bóng của bạn sẽ trôi qua vô cùng êm đềm."
"Ý ngài là, miễn sao tôi đừng bị nung chảy," chiếc đèn e dè hỏi lại. "Nhưng lỡ như chuyện đó xảy ra, liệu tôi có còn giữ được ký ức của mình chăng?"
"Đừng nghĩ quẩn thế chứ, ông bạn già!" ngài Gió nói, rồi chu mồm thổi một luồng hơi thật dài.
Đúng lúc ấy, nàng Mặt Trăng duyên dáng ló rạng khỏi tầng mây thẫm. "Nàng sẽ ban tặng ân sủng gì cho chiếc đèn cũ đây?" ngài Gió lên tiếng hỏi.
"Tôi chẳng có gì để tặng cả," nàng ngậm ngùi đáp. "Tôi đang khuyết dần đi, vả chăng nào có chiếc đèn nào từng soi sáng cho tôi, dù cho tôi vẫn hằng đêm trải ánh vàng chiếu rọi chúng." Dứt lời, nàng Mặt Trăng lại lẩn khuất vào mây sầu, cốt để không bị ai quấy rầy thêm nữa. Vừa tức thì, một giọt mưa từ mái nhà buông mình rớt trúng chiếc đèn. Nó trịnh trọng tuyên bố đó là ân tứ từ những đám mây xám xịt kia, và ắt hẳn là món quà tuyệt đỉnh nhất. "Ta sẽ thấm sâu vào tận xương tủy nhà ngươi," nó kiêu ngạo nói, "đến mức ngươi có dư sức để hoen gỉ, và nếu thích, ngươi hoàn toàn có thể vỡ vụn thành cát bụi chỉ sau một đêm."
Thế nhưng, với chiếc đèn cũ, đặc ân ấy nghe sao mà thê thảm, và ngài Gió dường như cũng đồng tình. "Chẳng còn ai tặng gì nữa sao? Không ai ban thêm gì nữa ư?" hơi thở của ngài Gió gầm lên cuộn xoáy, lớn hết mức có thể. Vừa dứt tiếng, một vì sao sáng lấp lánh rạch ngang trời băng xuống, bỏ lại phía sau một vệt đuôi dài rực rỡ.
"Cái quái gì thế?" Đầu cá trích hoảng hốt kêu lên. "Chẳng phải một vì sao vừa rụng xuống đó ư? Tôi dám chắc là nó đã chui tọt vào trong chiếc đèn. Quả nhiên rồi, khi những đấng bậc cao quý như vậy cũng hạ mình xuống cạnh tranh chức vụ này, thì lũ chúng ta tốt nhất là cuốn gói về nhà cho xong."
Thế là cả ba kẻ tranh cử ấy liền lủi thủi rời đi. Giữa bóng đêm, chiếc đèn cũ bỗng tỏa ra luồng ánh sáng diệu kỳ, mạnh mẽ đến khó tin, chiếu rọi rực rỡ khắp cả không gian.
"Quả là một món quà quá đỗi huy hoàng!" chiếc đèn cảm thán. "Những vì tinh tú sáng trong kia luôn là nguồn vui bất tận của đời tôi. Các ngài luôn tỏa sáng rực rỡ hơn những gì tôi có thể làm được, dù tôi đã gắng gượng đến kiệt cùng sức lực. Vậy mà giờ đây, các ngài lại rủ lòng đoái hoài đến một chiếc đèn cũ tội nghiệp như tôi. Đặc ân này cho phép tôi nhìn thấu tỏ mọi thứ trong ký ức, sống động y như đang hiện diện trước mắt. Hơn thế nữa, nó còn giúp cho tất cả những ai trân quý tôi cũng được chia sẻ vinh quang ấy. Đó mới chính là niềm hạnh phúc chân thật nhất trên đời, bởi lẽ niềm vui không được sẻ chia cùng người khác thì mãi mãi chỉ là một niềm vui dang dở."
"Tâm ý ấy thật đáng để tự hào," ngài Gió ngợi khen; "nhưng để làm được điều đó thì cần phải có nến sáp. Nếu không có nến thắp lên bên trong, thì những quyền năng kỳ diệu của bạn cũng chẳng thể mang lại chút lợi ích nào cho người khác. Hẳn là các vì sao đã sơ ý chẳng lường trước việc này. Họ cứ đinh ninh rằng bạn, cũng như muôn ngàn ngọn đèn khác, đều có sẵn một cây nến sáp. Thôi, ta phải đi nghỉ đây." Nói đoạn, ngài Gió lắng mình xuống rồi chìm vào cõi yên bình.
"Nến sáp ư! Thật thế sao?" chiếc đèn hụt hẫng thốt lên; "từ thuở lọt lòng tôi chưa từng sở hữu nến sáp, và xem chừng kiếp này tôi cũng chẳng bao giờ với tới được. Than ôi, giá như tôi nắm chắc được rằng mình sẽ không bị nung chảy thì tốt biết mấy!"
Ngày hôm sau... à thôi, có lẽ chúng ta cứ nên lướt qua ngày hôm sau cho rồi. Đêm xuống, chiếc đèn đường đang ngả mình nghỉ ngơi trên một chiếc ghế bành cũ mèm; và thử đoán xem nó ở đâu nào! Chà, chính là nhà của người gác đêm già. Ông đã van nài thị trưởng và hội đồng xin một ân huệ đặc biệt, đó là được giữ lại chiếc đèn như một phần thưởng nhỏ cho quãng thời gian dài phục vụ mẫn cán của mình, bởi chính tay ông đã treo nó lên và thắp sáng nó trong ngày đầu tiên nhậm chức, hai mươi tư năm về trước. Ông cưng chiều nó chẳng khác nào đứa con ruột thịt. Ông lão vốn không có con cái, nên người ta bèn giao phó chiếc đèn cho ông.
Chiếc đèn chễm chệ ngự trên chiếc ghế bành lớn, sát bên chiếc lò sưởi ấm sực. Có vẻ như nó bỗng trở nên to lớn phổng phao hơn hẳn, vì trông nó choán ngợp cả chiếc ghế. Hai ông bà lão đang dùng bữa tối, chốc chốc lại âu yếm đưa mắt nhìn nó, và hẳn họ cũng sẵn lòng dọn cho nó một chỗ trên bàn ăn kia chứ. Quả thực, họ sống trong một căn hầm nằm sâu dưới mặt đất đến hai thước, và phải băng qua một lối đi lát đá mới vào được bên trong. Nhưng một khi đã bước qua cửa, căn phòng lại ấm áp và dễ chịu lạ thường, với những dải vải được đóng đinh viền quanh khung cửa để chắn gió. Giường ngủ và khung cửa sổ nhỏ bé đều có rèm che nếp nếp, và mọi thứ trong nhà đều tươm tất, gọn gàng đâu ra đấy. Trên bệ cửa sổ ngự trị hai chậu hoa độc đáo, một món quà do anh thủy thủ tên Christian mang về từ tận Đông Ấn hoặc Tây Ấn4 xa xôi. Chúng được nặn bằng đất sét, mang hình dáng hai chú voi khuyết phần lưng; bên trong nhồi đầy đất tơi xốp, và qua khoảng trống ấy, những khóm cây vươn mình sinh sôi. Một chậu mơn mởn vài cụm hẹ và tỏi tây mập mạp; ấy là khu vườn rau củ cung cấp cho nhà bếp. Chậu kia, nâng niu một gốc phong lữ kiêu sa tuyệt đẹp, được hai ông bà trang trọng gọi là vườn hoa của họ. Trên tường treo một bức tranh in màu khổ lớn, phác họa lại khung cảnh Hội nghị Vienna5 với đủ mặt các bậc quân vương và hoàng đế uy nghi. Một chiếc đồng hồ với những quả tạ nặng trịch cũng chễm chệ trên tường, đều đặn gõ nhịp "tích, tắc" bền bỉ; dù cho nó có thói quen chạy hơi nhanh, nhưng như hai ông bà già vẫn hay bảo nhau, thế vẫn còn xịn chán so với chạy quá chậm. Lúc này đây, họ đang quây quần bên bữa tối, trong khi chiếc đèn đường cũ kỹ, như chúng ta đã biết, đang say giấc nồng trên chiếc ghế bành kề bên lò sưởi.
Chiếc đèn cảm thấy như thể cả thế giới xung quanh đang xoay lộn tùng phèo. Nhưng một lát sau, người gác đêm già ngước nhìn chiếc đèn và rủ rỉ kể lại những kỷ niệm mà cả hai đã cùng nhau nếm trải-giữa những cơn mưa rào và sương mù giăng mắc, qua những đêm hè ngắn ngủi trong vắt hay những đêm đông dài lê thê lạnh lẽo, và cả trong những cơn bão tuyết mịt mù, những lúc mà ông chỉ đau đáu ước mong được cuộn tròn trong căn hầm ấm áp. Những lời thủ thỉ ấy khiến chiếc đèn lại thấy lòng tĩnh tại. Nó ngắm nhìn quá khứ hiện về sống động, rõ nét đến từng chi tiết, như thể mọi chuyện đang tua lại ngay trước mắt. Chắc chắn rồi, món quà ngài Gió ban tặng thật sự là một phép màu vô giá!
Hai ông bà lão vốn là những con người tháo vát và cần mẫn; họ chẳng bao giờ để tay chân ngơi nghỉ lấy một giờ. Vào những buổi chiều Chủ nhật thảnh thơi, họ thường lôi vài cuốn sách ra nghiền ngẫm, thường là những cuốn du ký mà họ cực kỳ say mê. Ông lão sẽ say sưa đọc to về miền đất Châu Phi xa xôi, với những khu rừng rậm rạp hoang sơ và những bầy voi hoang dã dũng mãnh, trong khi bà vợ vểnh tai lắng nghe chăm chú, thỉnh thoảng lại lén đưa mắt ngắm nhìn hai chú voi bằng đất sét trồng hoa. "Tôi gần như có thể mường tượng ra toàn bộ khung cảnh ấy ngay trước mắt mình," bà thốt lên.
Ôi! Chiếc đèn khao khát đến cháy lòng một ngọn nến sáp tinh khiết được thắp lên bên trong nó, vì khi ấy, bà lão sẽ nhìn thấu từng chi tiết vi diệu y hệt như nó vậy; những thân cây vươn cao chót vót, với muôn vàn cành lá đan xen dày đặc, những kỵ sĩ da đen trần trụi uy dũng cưỡi ngựa, và cả những bầy voi khổng lồ đang giẫm nát các lùm tre bằng cặp chân thô kệch, nặng nề của chúng.
"Khả năng diệu kỳ của mình phỏng có ích gì," chiếc đèn cũ ngậm ngùi thở dài, "khi mình chẳng đào đâu ra nổi một ngọn nến sáp cỏn con? Bọn họ chỉ có rặt dầu và mỡ động vật rẻ tiền, và mấy thứ phàm tục ấy thì ăn nhằm gì cơ chứ." Rồi một ngày kia, nguyên một đống mẩu nến sáp to tướng bỗng dưng lạc bước vào căn hầm. Những mẩu lớn hơn đã được đốt cháy sáng, còn những vụn nhỏ được bà lão cẩn thận giữ lại để chuốt những cuộn sợi của mình. Vậy là giờ đây nến sáp đã ê hề, nhưng tuyệt nhiên chẳng có ai đoái hoài đến việc đặt một mẩu nhỏ nhoi vào trong bụng chiếc đèn.
"Giờ thì mình bị giam lỏng ở đây, ôm trong lòng những quyền năng hiếm có," chiếc đèn thầm nghĩ. "Mình sở hữu những phép thuật kỳ diệu, nhưng lại chẳng thể phô diễn chúng cho ai xem. Họ làm sao biết được mình dư sức biến những bức tường trắng toát kia thành những tấm thảm thêu rực rỡ tuyệt trần, hay hóa phép ra những khu rừng già cao quý, và thật ra, là bất cứ thứ gì mà họ có thể khao khát."
Dù vậy, chiếc đèn luôn được lau chùi sạch sẽ và đánh bóng láng o, đặt trang trọng trong một góc phòng nơi nó dễ dàng thu hút mọi ánh nhìn. Những người khách lạ bước vào thường coi nó như một món đồ đồng nát bỏ đi, nhưng hai ông bà lão chẳng bận tâm đến điều đó; họ trân quý nó vô cùng. Một ngày nọ-trùng hợp thay lại là sinh nhật của người gác đêm già-bà lão chậm rãi tiến lại gần chiếc đèn, mỉm cười tủm tỉm một mình và thì thầm, "Hôm nay tôi sẽ thắp đèn thật sáng, để vinh danh ông nhà tôi." Chiếc đèn nghe vậy liền kêu lách cách sung sướng trong cái khung kim loại của nó, trong bụng khấp khởi mừng thầm, "Cuối cùng thì mình cũng sắp được thưởng thức một ngọn nến sáp rồi đây." Nhưng, ôi thôi, rốt cuộc thì chẳng có ngọn nến sáp nào được đặt vào cả-chỉ có thứ dầu quen thuộc, như mọi khi.
Chiếc đèn cháy sáng suốt cả buổi tối, và nó dần thấu hiểu một sự thật quá đỗi rõ ràng rằng: món quà của những vì sao sẽ mãi mãi là một kho báu bị giấu kín trong suốt quãng đời còn lại của nó. Rồi nó chìm vào một giấc mơ; bởi với một kẻ mang trong mình những năng lực nhường ấy, mộng mị nào có khó khăn gì. Nó mơ thấy hai ông bà lão đều đã qua đời, còn mình bị đưa tới xưởng đúc sắt để nung chảy. Viễn cảnh ấy khiến chiếc đèn lo âu hệt như cái ngày nó phải ra trình diện ngài thị trưởng cùng hội đồng tại tòa thị chính. Thế nhưng, dù đã được ban cho quyền năng tự rã ra thành tro rỉ sét bất cứ lúc nào, nó vẫn quyết định không viện đến phép màu ấy. Nhờ vậy, nó được đưa vào lò nung và hóa thân thành một chiếc chân nến bằng sắt thanh lịch khôn tả-một chiếc chân nến được thiết kế tinh xảo chỉ để cắm nến sáp. Chân nến mang hình hài một thiên thần đang ôm bó hoa, và ngọn nến sáp sẽ được đặt ngay chính giữa chùm hoa ấy. Nó sẽ ngự trên một chiếc bàn viết trải dạ xanh lục trong một căn phòng vô cùng êm ái, nơi la liệt sách vở và những bức tranh lộng lẫy treo trên tường.
Chủ nhân của căn phòng là một nhà thơ, đồng thời cũng là một bậc trí giả. Mọi điều ông nghĩ suy hay chắp bút đều hiển hiện sống động xung quanh. Thiên nhiên bày ra trước mắt ông, khi thì là những khu rừng thẳm tối tăm, lúc lại là những đồng cỏ hân hoan nơi bầy cò đang nhẩn nha sải bước, hay trên boong của một con tàu đang căng buồm rẽ sóng bạc đầu, dưới vòm trời trong vắt tĩnh lặng bao la, hoặc giữa đêm khuya lấp lánh muôn ngàn tinh tú.
"Mình mới sở hữu những quyền năng kỳ diệu làm sao!" chiếc đèn thốt lên khi vừa bừng tỉnh khỏi cơn mơ. "Mình gần như ao ước được nung chảy ngay lập tức; nhưng không, điều đó tuyệt đối không được phép xảy ra chừng nào hai ông bà lão vẫn còn trên cõi đời này. Họ yêu thương mình vì mình là chính mình; họ chăm chút cho mình luôn sáng bóng và cẩn thận tiếp dầu cho mình. Mình được đối đãi trọng vọng chẳng kém gì bức tranh về Đại hội đồng kia, bức tranh mang đến cho họ biết bao niềm vui thích." Và kể từ khoảnh khắc ấy, chiếc đèn cảm nhận được sự bình yên tĩnh tại trong sâu thẳm cõi lòng, và quả thực, một chiếc đèn cũ đáng kính như nó hoàn toàn xứng đáng được tận hưởng sự bình yên ấy hơn bất kỳ ai.
-
Nghề gác đêm (watchman) ở châu Âu thế kỷ 19 bao gồm nhiệm vụ tuần tra an ninh, hô báo giờ giấc và kiêm luôn việc thắp sáng, bảo dưỡng các ngọn đèn đường đốt bằng dầu hoặc khí đá. ↩
-
Xác cá biển (như cá trích) khi bắt đầu phân hủy thường phát ra ánh sáng mờ trong bóng tối do sự sinh sôi của các vi khuẩn phát quang sinh học (bioluminescence). ↩
-
Gỗ mục phát sáng trong đêm (thường được dân gian gọi là lân tinh) thực chất là do hiện tượng phát quang sinh học của một số loài nấm đang phân hủy phần gỗ đó. ↩
-
Các thuật ngữ địa lý cũ phổ biến từ thế kỷ 15-19. 'Đông Ấn' chỉ khu vực Nam Á và Đông Nam Á, trong khi 'Tây Ấn' chỉ vùng biển Caribbean ở châu Mỹ. Đối với người châu Âu đương thời, đây là những vùng đất xa xôi đầy kỳ bí của các thương thuyền. ↩
-
Hội nghị Vienna (Congress of Vienna, 1814-1815) là cuộc họp ngoại giao quy mô lớn nhất châu Âu thế kỷ 19, được tổ chức sau khi đánh bại Hoàng đế Napoleon (Pháp) nhằm vẽ lại bản đồ chính trị và tái thiết lập trật tự quyền lực tại lục địa này. ↩
THE OLD STREET LAMP


DID you ever hear the story of the old street lamp? It is not remarkably interesting, but for once you may as well listen to it.
It was a most respectable old lamp, which had seen many, many years of service and now was to retire with a pension. It was this very evening at its post for the last time, giving light to the street. Its feelings were something like those of an old dancer at the theater who is dancing for the last time and knows that on the morrow she will be in her garret, alone and forgotten.
The lamp had very great anxiety about the next day, for it knew that it had to appear for the first time at the town hall to be inspected by the mayor and the council, who were to decide whether it was fit for further service; whether it was good enough to be used to light the inhabitants of one of the suburbs, or in the country, at some factory. If the lamp could not be used for one of these purposes, it would be sent at once to an iron foundry to be melted down. In this latter case it might be turned into anything, and it wondered very much whether it would then be able to remember that it had once been a street lamp. This troubled it exceedingly.
Whatever might happen, it seemed certain that the lamp would be separated from the watchman and his wife, whose family it looked upon as its own. The lamp had first been hung up on the very evening that the watchman, then a robust young man, had entered upon the duties of his office. Ah, well! it was a very long time since one became a lamp and the other a watchman. His wife had some little pride in those days; she condescended to glance at the lamp only when she passed by in the evening-never in the daytime. But in later years, when all of them-the watchman, the wife, and the lamp-had grown old, she had attended to it, cleaning it and keeping it supplied with oil. The old people were thoroughly honest; they had never cheated the lamp of a single drop of the oil provided for it.
This was the lamp's last night in the street, and to-morrow it must go to the town hall-two very dark things to think of. No wonder it did not burn brightly. How many persons it had lighted on their way, and how much it had seen! As much, very likely, as the mayor and corporation themselves! None of these thoughts were uttered aloud, however, for the lamp was good and honorable and would not willingly do harm to any one, especially to those in authority. As one thing after another was recalled to its mind, the light would flash up with sudden brightness. At such moments the lamp had a conviction that it would be remembered.
"There was a handsome young man, once," thought the lamp; "it is certainly a long while ago, but I remember that he had a little note, written on pink paper with a gold edge. The writing was elegant, evidently a lady's. Twice he read it through, and kissed it, and then looked up at me with eyes that said quite plainly, 'I am the happiest of men!' Only he and I know what was written on this, his first letter from his lady-love. Ah, yes, and there was another pair of eyes that I remember; it is really wonderful how the thoughts jump from one thing to another! A funeral passed through the street. A young and beautiful woman lay on a bier decked with garlands of flowers, and attended by torches which quite overpowered my light. All along the street stood the people from the houses, in crowds, ready to join the procession. But when the torches had passed from before me and I could look around, I saw one person standing alone, leaning against my post and weeping. Never shall I forget the sorrowful eyes that looked up at me."
These and similar reflections occupied the old street lamp on this the last time that its light would shine. The sentry, when he is relieved from his post, knows, at least, who will be his successor, and may whisper a few words to him. But the lamp did not know its successor, or it might have given him a few hints respecting rain or mist and might have informed him how far the moon's rays would reach, and from which side the wind generally blew, and so on.
On the bridge over the canal stood three persons who wished to recommend themselves to the lamp, for they thought it could give the office to whomsoever it chose. The first was a herring's head, which could emit light in the darkness. He remarked that it would be a great saving of oil if they placed him on the lamp-post. Number two was a piece of rotten wood, which also shines in the dark. He considered himself descended from an old stem, once the pride of the forest. The third was a glowworm, and how he found his way there the lamp could not imagine; yet there he was, and could really give light as well as the others. But the rotten wood and the herring's head declared most solemnly, by all they held sacred, that the glowworm only gave light at certain times and must not be allowed to compete with them. The old lamp assured them that not one of them could give sufficient light to fill the position of a street lamp, but they would believe nothing that it said. When they discovered that it had not the power of naming its successor, they said they were very glad to hear it, for the lamp was too old and worn out to make a proper choice.
At this moment the wind came rushing round the corner of the street and through the air-holes of the old lamp. "What is this I hear?" it asked. "Are you going away to-morrow? Is this evening the last time we shall meet? Then I must present you with a farewell gift. I will blow into your brain, so that in future not only shall you be able to remember all that you have seen or heard in the past, but your light within shall be so bright that you will be able to understand all that is said or done in your presence."
"Oh, that is really a very, very great gift," said the old lamp. "I thank you most heartily. I only hope I shall not be melted down."
"That is not likely to happen yet," said the wind. "I will also blow a memory into you, so that, should you receive other similar presents, your old age will pass very pleasantly."
"That is, if I am not melted down," said the lamp. "But should I, in that case, still retain my memory?"
"Do be reasonable, old lamp," said the wind, puffing away.
At this moment the moon burst forth from the clouds. "What will you give the old lamp?" asked the wind.
"I can give nothing," she replied. "I am on the wane, and no lamps have ever given me light, while I have frequently shone upon them." With these words the moon hid herself again behind the clouds, that she might be saved from further importunities. Just then a drop fell upon the lamp from the roof of the house, but the drop explained that it was a gift from those gray clouds and perhaps the best of all gifts. "I shall penetrate you so thoroughly," it said, "that you will have the power of becoming rusty, and, if you wish it, can crumble into dust in one night."
But this seemed to the lamp a very shabby present, and the wind thought so, too. "Does no one give any more? Will no one give any more?" shouted the breath of the wind, as loud as it could. Then a bright, falling star came down, leaving a broad, luminous streak behind it.
"What was that?" cried the herring's head. "Did not a star fall? I really believe it went into the lamp. Certainly, when such high-born personages try for the office we may as well go home."
And so they did, all three, while the old lamp threw a wonderfully strong light all around.
"This is a glorious gift," it said. "The bright stars have always been a joy to me and have always shone more brilliantly than I ever could shine, though I have tried with my whole might. Now they have noticed me, a poor old lamp, and have sent me a gift that will enable me to see clearly everything that I remember, as if it still stood before me, and to let it be seen by all those who love me. And herein lies the truest happiness, for pleasures which we cannot share with others are only half enjoyed."
"That sentiment does you honor," said the wind; "but for this purpose wax lights will be necessary. If these are not lighted in you, your peculiar faculties will not benefit others in the least. The stars have not thought of this. They suppose that you and every other light must be a wax taper. But I must go down now." So it laid itself to rest.
"Wax tapers, indeed!" said the lamp; "I have never yet had these, nor is it likely I ever shall. If I could only be sure of not being melted down!"
The next day-well, perhaps we had better pass over the next day. The evening had come, and the lamp was resting in a grandfather's chair; and guess where! Why, at the old watchman's house. He had begged as a favor that the mayor and corporation would allow him to keep the street lamp in consideration of his long and faithful service, as he had himself hung it up and lighted it on the day he first commenced his duties, four and twenty years ago. He looked upon it almost as his own child. He had no children, so the lamp was given to him.
There lay the lamp in the great armchair near the warm stove. It seemed almost to have grown larger, for it appeared quite to fill the chair. The old people sat at their supper, casting friendly glances at it, and would willingly have admitted it to a place at the table. It is quite true that they dwelt in a cellar two yards below ground, and had to cross a stone passage to get to their room. But within, it was warm and comfortable, and strips of list had been nailed round the door. The bed and the little window had curtains, and everything looked clean and neat. On the window seat stood two curious flowerpots, which a sailor named Christian had brought from the East or West Indies. They were of clay, and in the form of two elephants with open backs; they were filled with earth, and through the open space flowers bloomed. In one grew some very fine chives or leeks; this was the kitchen garden. The other, which contained a beautiful geranium, they called their flower garden. On the wall hung a large colored print, representing the Congress of Vienna and all the kings and emperors. A clock with heavy weights hung on the wall and went "tick, tick," steadily enough; yet it was always rather too fast, which, however, the old people said was better than being too slow. They were now eating their supper, while the old street lamp, as we have heard, lay in the grandfather's armchair near the stove.
It seemed to the lamp as if the whole world had turned round. But after a while the old watchman looked at the lamp and spoke of what they had both gone through together-in rain and in fog, during the short, bright nights of summer or in the long winter nights, through the drifting snowstorms when he longed to be at home in the cellar. Then the lamp felt that all was well again. It saw everything that had happened quite clearly, as if the events were passing before it. Surely the wind had given it an excellent gift!
The old people were very active and industrious; they were never idle for even a single hour. On Sunday afternoons they would bring out some books, generally a book of travels which they greatly liked. The old man would read aloud about Africa, with its great forests and the wild elephants, while his wife would listen attentively, stealing a glance now and then at the clay elephants which served as flowerpots. "I can almost imagine I am seeing it all," she said.
Ah! how the lamp wished for a wax taper to be lighted in it, for then the old woman would have seen the smallest detail as clearly as it did itself; the lofty trees, with their thickly entwined branches, the naked negroes on horseback, and whole herds of elephants treading down bamboo thickets with their broad, heavy feet.
"What is the use of all my capabilities," sighed the old lamp, "when I cannot obtain any wax lights? They have only oil and tallow here, and these will not do." One day a great heap of wax-candle ends found their way into the cellar. The larger pieces were burned, and the smaller ones the old woman kept for waxing her thread. So there were now candles enough, but it never occurred to any one to put a little piece in the lamp.
"Here I am now, with my rare powers," thought the lamp. "I have faculties within me, but I cannot share them. They do not know that I could cover these white walls with beautiful tapestry, or change them into noble forests or, indeed, to anything else they might wish."
The lamp, however, was always kept clean and shining in a corner, where it attracted all eyes. Strangers looked upon it as lumber, but the old people did not care for that; they loved it. One day-it was the watchman's birthday-the old woman approached the lamp, smiling to herself, and said, "I will have an illumination to-day, in honor of my old man." The lamp rattled in its metal frame, for it thought, "Now at last I shall have a light within me." But, after all, no wax light was placed in the lamp-only oil, as usual.
The lamp burned through the whole evening and began to perceive too clearly that the gift of the stars would remain a hidden treasure all its life. Then it had a dream; for to one with its faculties, dreaming was not difficult. It dreamed that the old people were dead and that it had been taken to the iron foundry to be melted down. This caused the lamp quite as much anxiety as on the day when it had been called upon to appear before the mayor and the council at the town hall. But though it had been endowed with the power of falling into decay from rust when it pleased, it did not make use of this power. It was therefore put into the melting furnace and changed into as elegant an iron candlestick as you could wish to see-one intended to hold a wax taper. The candlestick was in the form of an angel holding a nosegay, in the center of which the wax taper was to be placed. It was to stand on a green writing table in a very pleasant room, where there were many books scattered about and splendid paintings on the walls.
The owner of the room was a poet and a man of intellect. Everything he thought or wrote was pictured around him. Nature showed herself to him sometimes in the dark forests, sometimes in cheerful meadows where the storks were strutting about, or on the deck of a ship sailing across the foaming sea, with the clear, blue sky above, or at night in the glittering stars.
"What powers I possess!" said the lamp, awaking from its dream. "I could almost wish to be melted down; but no, that must not be while the old people live. They love me for myself alone; they keep me bright and supply me with oil. I am as well off as the picture of the Congress, in which they take so much pleasure." And from that time it felt at rest in itself, and not more so than such an honorable old lamp really deserved to be.