MÓN SÚP TỪ QUE XIÊN XÚC XÍCH


"Hôm qua, chúng tôi vừa dự một bữa tiệc tối linh đình lắm," một chuột bà hãnh diện khoe với chị chuột bạn vắng mặt tại buổi yến tiệc. "Tôi được xếp ngồi ở vị trí thứ hai mươi mốt tính từ ngai vàng của Vua Chuột trở xuống, âu cũng chẳng phải là một chỗ tồi. Chị có muốn nghe xem chúng tôi đã thưởng thức những sơn hào hải vị nào không? Ôi chao, vạn món đều xuất chúng tuyệt luân-nào là bánh mì mốc meo, nến mỡ béo ngậy và cả xúc xích thơm lừng.
"Lúc chúng tôi đánh chén xong xuôi, một mâm cỗ y hệt lại được bưng lên; thịnh soạn tới mức ngỡ như chúng tôi đang dự đến hai bữa tiệc cùng lúc vậy. Khắp hội trường tràn ngập bầu không khí chan hòa, tiếng cười nói trêu đùa rôm rả cứ như thể tất cả đều là người một nhà. Trên bàn tiệc chẳng còn lại gì ngoài mấy chiếc que xiên xúc xích trơ trọi, và thế là chúng bỗng chốc trở thành đề tài bàn tán xôn xao, cho đến khi có kẻ vô tình thốt lên câu, 'Súp từ que xúc xích'; hay như loài người ở vương quốc láng giềng quen gọi là, 'Súp từ que xiên xúc xích'1.
"Tất thảy mọi người ở đó đều đã từng nghe danh món súp kỳ lạ ấy, nhưng tuyệt nhiên chưa một ai từng nếm thử, chứ đừng nói đến chuyện xắn tay vào bếp nấu nướng. Một ly rượu hảo hạng đã được nâng lên để xưng tụng kẻ đã sáng tạo ra món súp trứ danh này, lại còn có kẻ nói kháy rằng ông ta hẳn phải được tấn phong làm quan lo việc cứu tế cho người nghèo. Chị xem, thật là một lời tán dương dí dỏm làm sao!
"Rồi sau đó, Vua Chuột già đáng kính của chúng ta uy nghi đứng dậy, cất lời hứa hẹn rằng cô chuột nhắt nào có thể học được cách chế biến món súp được bao người khao khát này một cách xuất sắc nhất sẽ được ngài phong làm hoàng hậu, và kỳ hạn để hoàn thành thử thách là đúng một năm lẻ một ngày."
"Nghe qua quả là một ân sủng không tồi chút nào," chị chuột bạn gật gù đáp lời; "nhưng rốt cuộc món súp ấy được nấu như thế nào vậy?"
"Chao ôi, điều đó thì tôi làm sao mà tỏ tường cho chị được! Hết thảy các cô chuột nhắt đều xôn xao dò hỏi nhau đúng một câu như vậy. Cô nào cô nấy đều khao khát tột bậc được khoác lên mình chiếc áo choàng hoàng hậu, nhưng ngặt nỗi chẳng ai muốn nhọc công cất bước ra ngoài thế giới bao la kia để học cách nấu súp, dẫu đó là việc đầu tiên bắt buộc phải làm.
"Bởi lẽ, đâu phải ai cũng cam lòng dứt bỏ gia đình thân yêu hay góc lò sưởi ấm áp ở nhà, kể cả phần thưởng có là ngai vàng hoàng hậu đi chăng nữa. Ở xứ lạ quê người, đâu phải ngày nào cũng dễ dàng kiếm được thịt xông khói hay vỏ pho mát thơm lừng, và sau cùng, có gì sung sướng đâu khi vừa phải nhịn đói meo mốc, lại nơm nớp lo sợ làm mồi ngon cho loài mèo hung ác."
Có lẽ chính những dòng suy tưởng đầy thực tế ấy đã dập tắt nhiệt huyết của phần lớn bầy chuột nhắt, khiến chúng chùn bước chẳng màng dấn thân ra thế giới để tìm kiếm bí quyết được yêu cầu. Rốt cuộc, chỉ có vỏn vẹn bốn cô chuột nhắt mạnh dạn ghi danh, sẵn sàng khởi hành.
Bốn cô nàng đều đương độ thanh xuân, lanh lợi, nhưng lại xuất thân nghèo khó. Mỗi người chọn cho mình một phương trời để cất bước lãng du, phó mặc xem thần may mắn sẽ mỉm cười với ai. Hành trang mang theo của mỗi cô chỉ là một chiếc que xiên xúc xích, vừa làm gậy chống trên bước đường hành hương, vừa để tự nhắc nhở bản thân về sứ mệnh vĩ đại của chuyến đi.
Họ giã từ quê hương vào đầu tháng Năm, bặt vô âm tín cho mãi tới tận ngày mùng một tháng Năm năm sau, và khi ấy, chỉ có ba người quay bước trở về. Chẳng một ai nghe ngóng hay nhìn thấy tung tích gì của cô chuột thứ tư, dẫu cho ngày phán xét đã cận kề. "Ái chà, niềm vui sướng tột cùng bao giờ cũng phải chen lẫn chút phiền muộn," Vua Chuột cảm thán. Dẫu vậy, ngài vẫn ban lệnh tức tốc triệu tập tất thảy loài chuột trong vòng bán kính nhiều dặm quanh vùng.
Bầy chuột tụ tập đông đúc trong nhà bếp, và ba nhà du hành dạn dĩ đứng thành một hàng ngang trước mặt đại chúng. Ngay bên cạnh, một chiếc que xiên xúc xích quấn dải băng tang được dựng lên trang trọng thay cho vị trí của cô chuột vắng mặt. Bầu không khí tĩnh lặng bao trùm, không một ai dám ho he nửa lời cho đến khi đức vua cất tiếng, yêu cầu một trong số họ bắt đầu câu chuyện của mình. Và bây giờ, chúng ta hãy cùng lắng nghe xem cô ấy nói gì.
NHỮNG GÌ CHUỘT NHẮT THỨ NHẤT ĐÃ THẤY VÀ NGHE TRONG CHUYẾN ĐI CỦA MÌNH
"Lần đầu tiên bước ra thế giới mênh mông," cô chuột nhắt bắt đầu, "thần đã những tưởng mình thông tỏ mọi sự trên đời. Chao ôi, tuổi trẻ thường hay huyễn hoặc mình như thế! Nhưng sự đời đâu có dễ, phải kinh qua biết bao sương gió mới mong gặt hái được chút tri thức lớn lao.
"Thần bèn lập tức giong buồm ra khơi, trên một con tàu hướng thẳng về phương Bắc xa xôi. Thần từng nghe đồn rằng gã đầu bếp trên tàu ắt hẳn phải biết tuốt tuột mọi tuyệt chiêu ẩm thực. Và chuyện đó xem chừng cũng nhàn nhã thôi, bởi quanh gã chất đầy những tảng thịt xông khói vĩ đại, những thùng thịt muối béo ngậy và cả mớ bột mì mốc meo. Ở đó, dẫu được nếm đủ thứ sơn hào hải vị, nhưng thần tịnh chẳng moi được nửa lời về bí quyết nấu món súp từ que xiên xúc xích.
"Thế rồi, con tàu cứ thế rẽ sóng lướt đi suốt nhiều ngày đêm. Biển khơi cuồng nộ, tàu tròng trành dữ dội, khiến bầy chuột chúng thần đứa nào đứa nấy ướt sũng như chuột lột. Ngay khi tàu cập bến, thần liền từ giã cõi sóng nước để đặt chân lên một vùng đất tận cùng phương Bắc. Thật là một phép màu kỳ diệu! Mới hôm nào còn chui rúc trong góc kẹt xó nhà, nương náu nơi xó xỉnh ấm áp trên tàu, thoắt cái thần đã thấy mình lang bạt giữa một xứ sở xa lạ, cách quê hương hàng ngàn dặm đường.
"Thần băng qua những khu rừng thông và bạch dương bao la bát ngát, rậm rạp đến độ chẳng có lấy một lối mòn. Mùi nhựa cây hăng hắc, nồng nặc sộc thẳng vào mũi khiến thần hắt hơi liên tục, và bất giác, thần lại thèm thuồng nhớ đến hương vị xúc xích. Nơi đây còn có những hồ nước mênh mông; nhìn từ xa thì đen ngòm như mực, nhưng khi lại gần mới thấy nước trong vắt đến lạ lùng. Trên mặt hồ, bầy thiên nga khổng lồ đang thả mình trôi lững lờ. Thoạt tiên, thần cứ ngỡ chúng chỉ là những dải bọt nước trắng phau, bởi chúng nằm im lìm đến tĩnh mịch; nhưng khi chứng kiến đôi chân lạch bạch rẽ nước và đôi cánh dang rộng bay lên, thần biết tỏng ngay gốc gác của chúng. Dòng dõi nhà ngỗng cả thôi! Cứ nhìn cái tướng đi lạch bạch thô kệch ấy thì ai mà chả rõ, bởi phàm ở đời, chẳng kẻ nào có thể giấu nhẹm đi gốc gác gia đình mình một cách vẹn toàn.
"Thần tiếp tục đồng hành cùng lũ chuột bản địa, kết giao với cả đám chuột đồng lẫn chuột rừng. Ấy vậy mà lũ này lại dốt nát lạ kỳ-đặc biệt là chúng tịt ngòi về cái bí kíp mà thần hằng khao khát, cái thứ mĩ vị đã xui khiến thần phải dấn bước tha hương.
"Cái ý tưởng nấu món súp từ một que xiên xúc xích làm chúng sửng sốt đến mức câu chuyện cứ thế truyền từ miệng con này sang tai con khác, lan đi khắp cả khu rừng. Chúng hùng hồn tuyên bố rằng, đó là một bài toán vĩnh viễn không có lời giải-một điều không tưởng. Thần đâu có ngờ, chính tại cái chốn hoang vu này, ngay trong đêm đầu tiên, thần lại được diện kiến cách thức chế biến món súp trứ danh ấy!
"Đang độ giữa hè rực rỡ, bầy chuột thủ thỉ với thần rằng, chính cái nắng gắt gao ấy đã vắt kiệt hương thơm của rừng già, làm cỏ cây thảo mộc ngát hương nồng đượm. Và cũng chính mùa hè đã nhuộm đen mặt hồ phẳng lặng, nơi bầy thiên nga trắng muốt bơi lội giữa làn nước trong veo.
"Nơi bìa rừng, kề bên mấy nếp nhà, người ta dựng lên một cái cột to tướng, đồ sộ tựa cột buồm chính của một con tàu. Từ đỉnh cột, những vòng hoa rực rỡ và dải ruy băng rực màu buông lơi, bay phấp phới trong gió. Đó chính là cây nêu tháng Năm2. Đám trai thanh gái tú nhảy múa cuồng nhiệt quanh cột, hò hét thi nhau át cả tiếng vĩ cầm réo rắt của dàn nhạc. Họ cứ thế chìm đắm trong cuộc vui bất tận từ lúc hoàng hôn buông xuống cho đến khi trăng lên đỉnh đầu. Nhưng thần thì tịnh chẳng màng đến thứ phù hoa ấy. Một quý cô chuột nhắt thì có sá gì dăm ba cái điệu nhảy quanh cây nêu tháng Năm? Thần ngự trị trên lớp rêu êm ái, hai tay ôm khư khư chiếc que xiên xúc xích yêu quý. Ánh trăng bỗng rót thứ ánh sáng bàng bạc, rực rỡ kỳ lạ xuống một thân cây phủ đầy lớp rêu mướt mát. Thần đồ rằng, thứ rêu ấy cũng mềm mượt chẳng kém cạnh gì bộ lông của bệ hạ đâu, chỉ khác là nó mang một sắc xanh lục êm dịu, vuốt ve đôi mắt đến lạ kỳ.
"Chợt nhiên, thần thấy một bầy người bé tí hon, duyên dáng vô ngần đang lũ lượt kéo về phía mình. Bọn họ cao chưa tới đầu gối thần, dẫu mang vóc dáng con người nhưng tỷ lệ cơ thể lại hoàn mỹ đến từng đường nét. Họ tự xưng là tiên nữ, khoác trên mình những bộ cánh mỏng tang, thanh tao tuyệt trần, dệt từ những cánh hoa rực rỡ và điểm xuyết lấp lánh bằng đôi cánh mỏng của loài ruồi muỗi. Trông cũng ra dáng, chẳng đến nỗi nào.
"Dường như họ đang mải miết tìm kiếm một thứ gì đó-thần chịu, chẳng đoán ra được, cho đến khi một vị tiên chợt tinh mắt nhìn thấy thần. Họ ùa tới, vị tiên đi đầu chỉ thẳng vào chiếc que xiên xúc xích của thần, reo lên: 'Kìa, đúng là báu vật chúng ta đang tìm! Trông kìa, cái đầu nhọn hoắt của nó; chẳng phải là một kiệt tác sao?' Ngài ấy càng say sưa ngắm nghía chiếc gậy hành hương của thần, ánh mắt càng ánh lên vẻ thích thú tột độ.
"'Tôi sẽ cho ngài mượn,' thần hào phóng nói, 'nhưng nhớ là mượn thôi nhé, không có chuyện giữ làm của riêng đâu!'
"'Ồ, đâu dám, chúng ta nào dám chiếm đoạt!' cả bọn đồng thanh đáp lời. Rồi họ nhanh nhảu chộp lấy chiếc que xiên mà thần vừa nới lỏng tay. Vừa nâng niu chiếc gậy, họ vừa múa lượn tung tăng về phía gốc cây phủ rêu êm ái, rồi cắm phập nó xuống giữa thảm cỏ xanh rì. Hóa ra, họ cũng thèm khát một cây nêu tháng Năm, và cái que xiên nhỏ bé của thần lại vừa vặn trở thành một cây nêu được đo ni đóng giày cho vương quốc tí hon của họ. Bọn họ xúm xít trang hoàng cho cây nêu lộng lẫy đến mức thần mỏi cả mắt mới nhìn thấu. Những bác nhện nhỏ xíu thoăn thoắt giăng những sợi tơ vàng óng ánh quanh thân cột. Rồi nào là voan mỏng, nào là cờ xí bay rợp trời, trắng muốt tựa bông tuyết đang nhảy múa dưới ánh trăng. Chưa hết, họ còn mượn chút sắc màu lộng lẫy từ đôi cánh bướm, rắc nhẹ lên tấm màn trắng tinh khôi, khiến nó bừng sáng lấp lánh như được đính hàng ngàn đóa hoa và viên kim cương chói lọi. Thần sửng sốt, chẳng còn nhận ra chiếc que xiên xúc xích cục mịch của mình nữa. Quả thực, trần đời chưa từng có một cây nêu tháng Năm nào kiều diễm đến nhường này.
"Thế rồi, một đoàn diễu hành rầm rộ gồm toàn những vị tiên chính gốc oai vệ tiến bước. Ôi chao, chẳng bút mực nào tả xiết vẻ kiêu sa của những bộ xiêm y bọn họ vận trên người! Họ ân cần mời thần nhập tiệc, nhưng thần đành phải giữ một khoảng cách ý nhị, bởi cái thân hình to tướng của thần nom quá đỗi cồng kềnh so với họ. Rồi bỗng, tiếng nhạc du dương trỗi lên, trong trẻo như thanh âm của một ngàn chiếc chuông thủy tinh, rồi lại chuyển sang ngân vang, mạnh mẽ đến nỗi thần cứ ngỡ đó là khúc thiên nga ca tuyệt xướng. Lẫn trong đó, thần nghe như có tiếng chim cúc cu lảnh lót và tiếng hoét đen véo von. Cuối cùng, dường như cả khu rừng già đang hòa tấu một bản giao hưởng huy hoàng vĩ đại-có tiếng trẻ thơ nô đùa lanh lảnh, tiếng chuông đồng leng keng rộn rã, và cả bản hòa ca của muôn loài chim muông. Và phép màu thay, tất thảy những giai điệu tuyệt mỹ ấy đều tuôn trào từ chính cây nêu tháng Năm của loài tiên! Chiếc que xiên xúc xích bé nhỏ của thần giờ đây đã hóa thành một dàn chuông điêu luyện. Thần tưởng chừng như không tin vào tai mình, một thứ vật dụng tầm thường lại có thể tạo nên những điều kỳ diệu đến thế, cho đến khi thần sực nhớ ra nó đang được múa lượn trong tay những bậc thầy phép thuật nào. Thần xúc động nghẹn ngào, những giọt lệ tuôn rơi lã chã, dẫu chỉ là những giọt nước mắt nhỏ bé của một cô chuột nhắt, nhưng đó là những giọt nước mắt kết tinh từ niềm hoan hỉ tột cùng.
"Đêm ấy vụt qua quá đỗi ngắn ngủi; ở chốn tiên cảnh, chẳng hề có những đêm hè dài dằng dặc như ở quê nhà chúng ta. Khi ánh bình minh vừa rạng rỡ đằng đông, và làn gió mơn man khẽ gợn sóng mặt gương phẳng lặng của hồ nước, thì kìa, tất thảy những tấm voan mỏng mảnh và cờ xí rực rỡ đồng loạt tan biến vào thinh không. Những dải hoa rực rỡ đan bằng tơ nhện, những nhịp cầu treo, những hành lang lộng lẫy, hay bất cứ tên gọi kiêu kỳ nào mà người ta gán cho chúng, thảy đều bốc hơi như chưa từng tồn tại. Sáu vị tiên kính cẩn hoàn trả lại thần chiếc que xiên xúc xích, đồng thời tuyên bố sẽ đáp ứng bất cứ nguyện vọng nào của thần, miễn là nằm trong quyền hạn của họ. Lời vừa dứt, thần bèn khẩn thiết van nài, mong họ hãy rủ lòng thương mà truyền dạy cho thần bí kíp nấu súp từ que xiên xúc xích.
"'Chúng ta nấu thế nào ư?' chúa tiên khẽ bật cười. 'Chà, cô bé vừa chứng kiến tận mắt chúng ta trổ tài rồi đấy thôi. Dám chắc là cô bé còn chẳng nhận ra nổi chiếc que xiên quen thuộc của mình nữa kìa.'
"'Họ lại tưởng mình thông tuệ lắm cơ,' thần thầm nhủ. Rồi thần bèn giãi bày ngọn ngành câu chuyện, từ lý do khiến thần phải vượt suối trèo đèo lặn lội đến tận xứ sở này, cho đến phần thưởng danh giá ở quê nhà đang đón đợi kẻ nào khám phá ra phương thức chế biến món súp trứ danh ấy.
"'Thế nhà vua, hay cả cái vương quốc chuột hùng mạnh của chúng tôi sẽ được hưởng lợi lộc gì,' thần vặn vẹo, 'khi chỉ mỗi tôi là kẻ duy nhất được chiêm ngưỡng những cảnh tượng huy hoàng này? Tôi đâu thể múa may chiếc que xúc xích rồi lẩm bẩm: "Này, que xiên đây, giờ thì súp hiện ra đi." Trò ấy họa vằn chỉ lừa bịp được thiên hạ để dọn ra một món ăn chay tịnh nhạt nhẽo mà thôi.'
"Nghe vậy, chúa tiên bèn nhúng khẽ ngón tay vào đài của một bông violet ngát hương, rồi phán truyền: 'Nhìn đây, ta sẽ ban phép xức dầu thánh lên chiếc gậy hành hương của cô bé. Để rồi khi hồi hương, vừa bước qua ngưỡng cửa hoàng cung, cô bé chỉ việc khẽ chạm chiếc gậy này vào nhà vua. Lập tức, những đóa violet tuyệt mĩ nhất sẽ đua nở rực rỡ, bất chấp cả mùa đông lạnh giá nhất. Ta tin chắc mình đã ban cho cô bé một báu vật xứng đáng để mang về, và hơn thế nữa, còn có một thứ vượt xa cả báu vật cơ.'
Chưa kịp để cô chuột nhắt giải thích thứ vượt xa cả báu vật ấy là gì, cô đã vươn chiếc gậy về phía nhà vua. Ngay khoảnh khoắc chiếc gậy khẽ chạm vào bệ hạ, một bó hoa violet kiều diễm bậc nhất bỗng chốc hiện ra, tỏa hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp không gian. Mùi hương ngùn ngụt, nồng nặc đến độ Vua Chuột phải hoảng hốt ra lệnh cho những cận thần đứng gần ống khói nhất mau mau thò đuôi vào lửa để lấy mùi khét. Bởi lẽ, cái hương thơm quá đỗi mãnh liệt của hoa violet vốn chẳng phải thứ mùi vị quen thuộc mà bọn chuột nhà ưa thích.
"Thế nhưng cái thứ vượt xa cả báu vật mà nàng vừa nhắc đến là gì?" Vua Chuột tò mò gặng hỏi.
"Muôn tâu bệ hạ," chuột nhắt cung kính đáp lời, "thần trộm nghĩ, thiên hạ thường gọi đó là 'hiệu ứng'." Dứt lời, cô bé thoăn thoắt xoay tròn chiếc gậy trên tay, và kìa, những bông hoa diễm lệ thoắt cái đã biến mất tăm! Giờ đây, cô bé chỉ vung vẩy chiếc que xiên trần trụi, giương cao nó lên với phong thái của một vị nhạc trưởng đại tài đang chỉ huy dàn nhạc trong một buổi hòa nhạc giao hưởng đỉnh cao.
"Những đóa violet ban nãy, đúng như lời vị tiên đã truyền dạy," chuột nhắt thao thao bất tuyệt, "chỉ là món quà phỉnh phờ thị giác, khứu giác và xúc giác. Vậy nên, cái chúng ta thực sự cần ở đây là tạo ra hiệu ứng đánh lừa thính giác và vị giác!" Vừa dứt lời, cô chuột nhắt bắt đầu vung chiếc gậy gõ nhịp điệu nghệ. Tức thì, những thanh âm kỳ diệu trỗi lên. Đó chẳng phải là thứ âm nhạc mộng mị giữa rừng sâu, hay điệu luân vũ của loài tiên nữ, mà lại là bản giao hưởng trần tục quen thuộc vọng ra từ chốn nhà bếp-tiếng nước sôi sùng sục, tiếng thịt quay mỡ xèo xèo. Âm thanh ập đến bất thình lình, tựa như những cơn gió rít gào qua ống khói, và dường như mọi cái nồi, cái ấm trên đời đều đang hối hả sôi trào.
Kìa, chiếc xẻng xúc than rơi loảng xoảng, va đập ầm ĩ vào thanh chắn lò sưởi bằng đồng. Rồi, cũng đột ngột không kém, không gian bỗng chìm nghỉm vào sự tĩnh lặng đến rợn người-chẳng còn nghe thấy gì ngoài bài ca rền rĩ, phì phò hơi nước của chiếc ấm trà. Đó quả là một thanh âm đầy ma mị, bởi chẳng một ai có thể phân định rạch ròi liệu cái ấm ấy đang lục bục bắt đầu sôi hay đang liu riu sắp cạn. Chiếc nồi con bé xíu thì bốc hơi nghi ngút, chiếc nồi to sụ thì sôi réo sùng sục, hai bên cứ mạnh ai nấy sôi, chẳng màng đoái hoài gì đến sự tồn tại của nhau; thật tình, lũ nồi niêu xoong chảo này nom có vẻ vô tri vô giác đến là tội nghiệp. Đến khi cô chuột nhắt vung chiếc đũa nhịp cuồng loạn hơn nữa, lũ nồi niêu bèn nổi bọt trắng xóa, phun bong bóng phì phì rồi thi nhau trào hết cả ra ngoài. Cùng lúc ấy, gió bên ngoài lại rít lên từng hồi, tru tréo, huýt sáo inh ỏi qua ống khói. Cảnh tượng hỗn mang kinh khủng đến mức cô chuột nhắt sợ hãi luống cuống đánh rơi cả chiếc gậy nhịp xuống đất.
"Quả là một món súp kỳ quái," Vua Chuột tặc lưỡi. "Thế rốt cuộc chúng ta không được vinh hạnh nghe nốt cái cách chuẩn bị ra sao à?"
"Muôn tâu bệ hạ, thưa chỉ có vậy thôi ạ," chuột nhắt rụt rè đáp lời kèm theo một cái cúi chào đầy cung kính.
"Chỉ có vậy thôi sao!" Vua Chuột thất vọng tràn trề; "Vậy thì chúng ta sẽ vô cùng hoan hỉ xem kẻ tiếp theo sẽ mang đến cho chúng ta thông tin gì thú vị hơn."
NHỮNG GÌ CHUỘT NHẮT THỨ HAI ĐÃ KỂ
"Thần sinh ra trong thư viện của một tòa lâu đài," chuột nhắt thứ hai cất lời. "Hiếm có thành viên nào trong gia tộc chúng thần may mắn lọt được vào phòng ăn, chứ đừng nói đến kho chứa thực phẩm. Trừ hôm nay và trong suốt chuyến du hành vừa qua, đó là những lần hiếm hoi thần được chiêm ngưỡng một gian bếp thực thụ. Bọn thần thường xuyên phải chịu cảnh bụng đói meo giữa chốn thư phòng, bù lại, chúng thần đã thu thập được vô vàn tri thức. Rồi lời đồn đại về phần thưởng hoàng gia dành cho kẻ nào nấu được món súp từ que xiên xúc xích cũng bay đến tai chúng thần.
"Dạo ấy, người bà kính yêu của thần đã tìm thấy một bản thảo cổ. Dù bản thân không biết chữ, bà lại từng nghe người ta ngâm nga nội dung bên trong, trong đó có một câu thế này: 'Chỉ những ai mang tâm hồn thi sĩ mới có thể nấu món súp từ que xiên xúc xích.' Bà bèn hỏi liệu thần có phải là một nhà thơ hay không. Thần thành thực đáp rằng mình chẳng có chút thiên phú nào về mặt đó cả. Thế là bà quả quyết bảo thần phải bước ra ngoài thế giới để tự tôi luyện thành một nhà thơ. Thần lại thắc mắc mình cần phải làm những gì, bởi với thần, chuyện ấy xem chừng cũng nan giải chẳng kém gì việc mài que xiên xúc xích thành súp. Bà nội thần đã gom góp biết bao điều tai nghe mắt thấy suốt cả cuộc đời. Bà dạy rằng một nhà thơ cần hội tụ đủ ba phẩm chất cốt lõi: sự am hiểu, trí tưởng tượng và xúc cảm. 'Nếu cháu nỗ lực giành lấy ba thứ này, cháu sẽ trở thành một nhà thơ, và chuyện nấu súp từ que xiên xúc xích khi ấy chỉ còn là trò trẻ con với cháu mà thôi.'
"Nghe lời bà, thần quyết chí bước ra thế giới mênh mông, cất bước về phương Tây để tầm sư học đạo làm thi sĩ. Sự am hiểu luôn là nền tảng quan trọng nhất. Thần đinh ninh là vậy, bởi hai phẩm chất kia vốn chẳng mấy khi được người đời trọng dụng; nên thần quyết định đi tìm sự am hiểu trước tiên. Nhưng biết tìm nó ở chốn nào đây?
"'Hãy đến với loài kiến và học lấy sự khôn ngoan,' một vị quân vương vĩ đại người Do Thái3 từng răn dạy như vậy. Thần may mắn biết được câu nói này nhờ chuỗi ngày náu mình trong thư viện. Và thế là, thần đi thẳng một mạch đến tổ kiến lớn nhất trên đường. Tại đó, thần bắt đầu quá trình quan sát để thu nạp sự khôn ngoan. Bầy kiến quả là một vương quốc rất đỗi nề nếp; bản thân chúng chính là hiện thân của sự khôn ngoan. Mọi hành động của chúng đều chuẩn xác như thể đang giải một bài toán số học mà đáp án luôn luôn đúng. 'Lao động và sinh sản,' chúng ra rả tuyên truyền, 'và tích lũy cho thế hệ mai sau, đó mới là cách sống trọn vẹn kiếp nhân sinh.' Chúng thực sự đã làm đúng như vậy. Cả vương quốc được chia thành nhóm kiến sạch sẽ và nhóm kiến lấm lem, còn địa vị thì được đo đếm bằng những con số. Kiến chúa đương nhiên chễm chệ ở vị trí số Một. Phán quyết của bà ta là chân lý duy nhất cho vạn vật, và bà ta luôn tỏ ra mình ôm trọn mọi tinh hoa tri thức của cả thế gian. Đó chính xác là thứ thần đang khao khát. Bà ta răn dạy đủ điều nghe có vẻ vô cùng uyên bác-nhưng lọt vào tai thần thì chẳng khác nào những lời sáo rỗng. Bà ta huênh hoang rằng tổ kiến là công trình vĩ đại và cao ngất ngưởng nhất thế gian, phớt lờ thực tế là ngay cạnh cái ụ đất tẹp nhẹp ấy sừng sững một bóng cây cổ thụ mà bất cứ ai có mắt đều thừa nhận là cao hơn rất nhiều. Tất nhiên, bà ta tuyệt nhiên cấm đoán mọi lời xì xầm về cái cây đó.
"Một buổi chiều nọ, có một gã kiến đi lạc lên cái cây cấm kỵ kia. Gã trèo dọc theo thân cây, dẫu chưa chạm tới ngọn nhưng cũng đã vượt xa tầm với của bất kỳ con kiến nào khác. Đến khi lết được về nhà, gã thật thà kể rằng trong chuyến thám hiểm vừa qua, gã đã phát hiện ra một thứ vĩ đại và cao lớn hơn vương quốc của chúng gấp ngàn lần. Cả bầy kiến phẫn nộ coi đó là một sự sỉ nhục tày trời đối với lòng tự tôn của cả dân tộc, liền lập tức kết án gã phải đeo rọ mõm và bị lưu đày trong sự cô độc cho đến tận cuối đời.
"Chẳng bao lâu sau, một con kiến khác cũng đánh bạo trèo lên cái cây đó và lặp lại y hệt chuyến phiêu lưu lẫn khám phá động trời kia. Khác ở chỗ, con kiến này khôn ngoan úp mở về phát hiện của mình bằng những lời lẽ mơ hồ, bóng gió. Nhờ cái mác của một kẻ thuộc tầng lớp thượng đẳng và đầy uy tín, bầy đàn đã dễ dàng tin sái cổ những gì nó nói. Đến khi con kiến ấy qua đời, chúng còn trịnh trọng dựng hẳn một cái vỏ trứng làm đài tưởng niệm để vinh danh nó, chứng tỏ chúng luôn nuôi dưỡng lòng sùng kính sâu sắc đối với nền khoa học nước nhà.
"Thần để ý thấy," chuột nhắt rôm rả kể, "lũ kiến lúc nào cũng hối hả ngược xuôi với những gánh nặng oằn lưng. Có bận, thần thấy một con làm rớt đồ, loay hoay mãi mà chẳng vực dậy nổi. Hai con kiến khác vội chạy tới, hì hục giúp một tay, gắng sức đến mức suýt làm rơi cả phần vác của mình. Cuối cùng, chúng đành tặc lưỡi bỏ cuộc, bởi suy cho cùng, ai cũng phải lo cái thân mình trước đã. Thế mà kiến chúa lại cao giọng phán rằng, hành động ngày hôm ấy chứng minh giống loài của bà ta sở hữu một trái tim nhân ái và sự am hiểu tường tận. 'Chính hai phẩm chất này,' bà ta tiếp lời, 'đã nâng tầm loài kiến chúng ta lên vị trí độc tôn so với muôn vàn sinh linh có lý trí khác. Bởi vậy, sự am hiểu của chúng ta là kiệt xuất nhất, và trí tuệ của ta là vĩ đại nhất.' Dứt lời, bà ta kiêu hãnh vươn mình đứng hẳn lên bằng hai chân sau, cốt để chẳng ai có thể nhầm lẫn uy nghi của bà ta với đám dân đen. Bệ hạ xem, đã thế thì thần làm sao mà nhìn nhầm cho được! Thế là, thần đớp gọn bà ta vào bụng. Chẳng phải người ta vẫn bảo muốn học sự khôn ngoan thì phải tìm đến bầy kiến hay sao, và thần thì đã tóm được tận nguồn cội của nó rồi.
"Thế rồi, thần quay lưng rời đi, nhắm thẳng hướng bóng cây sừng sững ban nãy. Đó là một cây sồi cổ thụ, với thân cành vươn cao và tán lá xòe rộng như một chiếc ô khổng lồ. Thần thừa biết ẩn sâu trong thân gỗ ấy là một sinh linh, một tiên nữ cây sồi như cách con người vẫn thường gọi, kẻ sinh ra cùng lúc với cái cây và sẽ tàn lụi khi nó úa tàn. Thần từng đọc được điều này trong những trang sách thư viện, và quả thực, đây đúng là một cái cây thiêng ấp ủ một trinh nữ sồi. Vừa thấy thần lảng vảng đến gần, cô ấy đã ré lên một tiếng thất thanh kinh hãi. Như bao cô gái khác, cô ấy khiếp vía lũ chuột chúng thần, nhưng nỗi sợ của cô ấy lại có cơ sở hơn hẳn con người, bởi bộ răng sắc nhọn của thần thừa sức gặm nát cái cây gắn liền với sinh mệnh cô ấy.
"Thần liền dùng những lời lẽ ôn hòa nhất để trấn an cô, khuyên cô hãy bình tâm lại. Rốt cuộc, cô ấy cũng chịu đưa bàn tay thanh tao nhấc bổng thần lên. Thần bắt đầu dốc bầu tâm sự về cơ duyên nào đã đưa bước chân mình ra thế giới rộng lớn này. Cô ấy thủ thỉ rằng, rất có thể ngay trong đêm nay, cô sẽ trao tận tay thần một trong hai báu vật mà thần đang cất công tìm kiếm. Cô kể về Phantæsus4, vị thần cai quản trí tưởng tượng, người bạn tri kỷ của cô; ngài mang vẻ đẹp kiều diễm tựa như thần tình yêu. Vị thần ấy thường dành hàng giờ để ngả mình say giấc bên cô dưới tán lá xum xuê, và những lúc như thế, vòm lá lại xào xạc đung đưa mãnh liệt hơn bao giờ hết. Ngài âu yếm gọi cô là tiên nữ sồi của riêng ngài, và gọi cái cây là chốn nương náu của ngài, bởi vóc dáng sần sùi, uy nghi của cây sồi cổ thụ này hoàn toàn trúng với sở thích của ngài. Gốc rễ nó bám chặt vào lòng đất mẹ, ngọn vươn cao đón lấy bầu không khí trong trẻo, từng trải đủ sương gió để thấu hiểu giá trị của lớp tuyết lạnh buốt, những luồng gió cắt da cắt thịt, và cả ánh nắng mặt trời ấm áp sưởi ấm thế gian. 'Đúng vậy,' tiên nữ cây sồi hào hứng nói tiếp, 'những chú chim ríu rít ca vang trên cành và kể cho nhau nghe về những cánh đồng bạt ngàn tươi đẹp mà chúng từng lướt qua ở những miền đất xa xôi. Nơi một nhánh cây khô héo, một chú cò đã tỉ mẩn bện cho mình một cái tổ thật khéo léo, và cũng thật thú vị biết bao khi được lắng nghe vài mẩu chuyện vụn vặt về xứ sở của những kim tự tháp5. Tất thảy những điều ấy đều làm Phantæsus say mê, nhưng với ngài, thế vẫn là chưa đủ. Ngài cứ nằng nặc bắt tôi phải kể về nhịp sống nhộn nhịp của khu rừng, hay những ký ức thuở ấu thơ khi tôi chỉ là một cô bé tẹo teo, và cái cây cũng bé xíu, mỏng manh đến nỗi chỉ một nhành tầm ma cũng dư sức che khuất nó. Tôi phải miệt mài kể cho ngài nghe vạn vật đã đổi thay ra sao từ ngày ấy cho tới tận bây giờ, khi cái cây đã vươn mình khỏe mạnh như thế này. Bạn cứ ngồi nán lại đây dưới bóng râm mát rượi của giàn bìm bìm này và chú ý nhé. Đợi lúc Phantæsus ghé qua, tôi sẽ chớp thời cơ chộp lấy đôi cánh của ngài và nhẹ nhàng nhổ một chiếc lông vũ nhỏ xinh. Chiếc lông ấy sẽ thuộc về bạn. Đó là báu vật mà chưa một thi sĩ nào trên đời từng có diễm phúc chạm tay tới, và với bạn, bấy nhiêu là quá đủ rồi.'
"Thế rồi Phantæsus hiện diện, và chiếc lông vũ kỳ diệu ấy đã được nhổ xuống," chuột nhắt say sưa kể tiếp, "thần vội chộp ngay lấy, mang đi ngâm nước cho đến khi nó nhũn nhão ra. Cái thứ ấy vừa nặng nề lại vừa cực kỳ khó tiêu, nhưng nhờ vận hết nội công, thần cũng cố tọng sạch nó vào bụng ở phút chót. Trở thành một thi sĩ bằng con đường gặm nhấm quả thực chẳng dễ dàng chút nào, biết bao chông gai phải vượt qua! Dẫu sao thì thần cũng đã gom đủ hai báu vật: sự am hiểu và trí tưởng tượng. Nhờ hai thứ này soi đường chỉ lối, thần giác ngộ được rằng báu vật thứ ba đang nằm yên vị ngay trong chính thư viện nhà mình.
"Một bậc vĩ nhân từng tuyên bố và viết ra rằng, có những cuốn tiểu thuyết tồn tại trên cõi đời này với mục đích độc nhất vô nhị: vắt kiệt những dòng lệ tuôn trào của nhân loại-nói trắng ra, chúng chẳng khác nào một miếng bọt biển hút trọn mọi trạng thái xúc cảm và sự rung động. Thần liền nhớ ngay đến vài cuốn sách loại này. Bề ngoài của chúng lúc nào cũng gợi lên một sự thèm thuồng khó tả, bởi chúng bị người ta lật giở nhiều đến độ những trang giấy bóng nhẫy dầu mỡ, chắc hẳn chúng đã hút trọn vẹn vô khối cảm xúc nồng nàn.
"Thần lập tức quay gót chạy thẳng về thư viện và đúng nghĩa nuốt chửng một cuốn tiểu thuyết-chính xác là phần ruột xốp mềm của nó. Lớp vỏ, hay bìa sách, thần lịch sự chừa lại. Nuốt trôi cuốn đầu tiên, rồi càn quét nốt cuốn thứ hai, thần bắt đầu cảm nhận một sự xáo động dữ dội trong cõi lòng. Cuối cùng, chỉ cần điểm tâm thêm một mẩu nhỏ của cuốn tiểu thuyết lãng mạn thứ ba, thần đã bừng tỉnh và nhận ra mình đích thực là một nhà thơ. Thần tự lẩm bẩm điều đó với chính mình và tự hào rêu rao với mọi người xung quanh. Dù phải gánh chịu những cơn đau buốt óc, mỏi nhừ sống lưng cùng vô số triệu chứng kỳ quái khác không sao tả xiết. Thần bắt đầu ngẫm lại tất thảy những câu chuyện có dây mơ rễ má đến que xiên xúc xích; và mọi dòng chữ từng được ghi chép về que xiên, cành cây, cây trượng hay mảnh gỗ vụn đều ồ ạt tràn về tâm trí thần-quả thực, kiến chúa hẳn đã mang đến một sự am hiểu thông tuệ ngoài sức tưởng tượng. Thần nhớ đến câu chuyện về người đàn ông ngậm trong miệng một chiếc gậy trắng, nhờ đó anh ta có thể tàng hình cùng chiếc gậy của mình. Thần mơ màng nghĩ về những chiếc gậy biến thành ngựa gỗ, những khuông nhạc, những vần điệu, hay chuyện người ta thẳng tay bẻ gãy một chiếc gậy trên lưng kẻ khác, và có Trời mới biết có bao nhiêu cụm từ tương tự xoay quanh gậy gộc, cây trượng, và que xiên. Mọi tâm tư của thần giờ đây đều xoay vần quanh que xiên, những khúc gỗ, và cây trượng. Và vì xét cho cùng, thần cũng đã là một nhà thơ, lại còn trầy da tróc vẩy để đạt được danh xưng ấy, nên hiển nhiên thần dư sức phổ thơ cho bất cứ thứ gì. Bởi vậy, thần sẵn sàng hầu hạ bệ hạ mỗi ngày trong tuần bằng một bản thiên tình sử đầy chất thơ về một chiếc que xiên. Và đó chính là món súp của thần."
"Nếu đúng là vậy," Vua Chuột uy nghi phán, "thế thì chúng ta hãy nghe xem chuột nhắt thứ ba có tài cán gì."
"Chít, chít," một cô chuột nhắt ré lên từ phía cửa bếp. Đó chính là Chuột Nhắt Thứ Tư, chứ không phải thứ ba, một trong bốn ứng cử viên đang chạy đua giành giải thưởng hoàng gia, kẻ mà cả bọn đinh ninh là đã bỏ mạng nơi đất khách. Cô nàng lao vút vào như một mũi tên, hất tung cả cái que xiên xúc xích đang quấn dải băng tang đen kịt. Cô đã phải cắm cổ chạy suốt ngày đêm, bởi dẫu có quá giang trên một chuyến tàu chở hàng bằng đường sắt, cô vẫn suýt nữa thì lỡ hẹn. Cô nhắt nhào lên phía trước, bộ dạng trông rối bời luống cuống.
Dù đã đánh mất chiếc que xiên xúc xích, nhưng cô nàng lại chẳng hề đánh mất giọng nói của mình. Cô cất lời ngay tắp lự, làm như thể cả hội trường này chỉ đang mỏi mòn chờ đợi một mình cô, như thể trên thế gian này chẳng còn điều gì đáng bận tâm hơn thế. Giọng cô lanh lảnh và rành rọt từng chữ. Sự xuất hiện của cô đường đột đến mức chẳng một ai kịp hé răng ngăn cản hay chen ngang vào những lời cô đang thao thao bất tuyệt. Và đây là câu chuyện mà cô kể.
NHỮNG GÌ CHUỘT NHẮT THỨ TƯ, NGƯỜI LÊN TIẾNG TRƯỚC CẢ CHUỘT THỨ BA, ĐÃ KỂ
"Thần đã tức tốc lên đường hướng về thị trấn sầm uất nhất," cô nàng kể, "tuy nhiên cái tên của nó lại vuột mất khỏi trí nhớ của thần. Thần vốn có một trí nhớ thật tệ hại với mấy cái tên. Từ ga xe lửa, người ta đã khuân thần đi cùng với một đống hàng hóa chưa đóng thuế thẳng đến nhà giam, và ngay khi vừa đặt chân đến đó, thần đã lanh lẹ tẩu thoát, chui tọt vào nhà của viên cai ngục. Khi ấy, ông ta đang bàn luận về những người tù của mình, đặc biệt là về một kẻ đã lỡ buông ra những lời bốc đồng thiếu suy nghĩ. Rồi thì lời qua tiếng lại, và cuối cùng, những lời lẽ ấy bị chép cả vào sổ sách. 'Toàn bộ chuyện này cũng giống hệt như việc nấu súp từ một chiếc que xiên xúc xích vậy,' ông ta cười khẩy, 'nhưng chính món súp ấy lại có thể tước đi mạng sống của hắn ta đấy.'
"Ngay phút giây ấy, nỗi hiếu kỳ mãnh liệt về người tù kia bỗng dâng lên trong lòng thần," cô chuột nhắt kể tiếp, "thế là thần rình đúng thời cơ để lẻn vào xà lim của ông ấy, bởi bệ hạ biết đấy, đằng sau mọi cánh cửa đóng kín bao giờ cũng có một cái hang chuột.
"Người tù ấy trông thật nhợt nhạt, mang một bộ râu rậm rạp và đôi mắt to, sáng lấp lánh. Trong phòng có thắp một ngọn đèn le lói, thế nhưng những bức tường thì đen đặc đến mức ánh đèn chỉ càng làm cho chúng chìm sâu hơn vào bóng tối. Người tù dùng phấn trắng để vạch lên bức tường đen những bức vẽ và các vần thơ, dẫu rằng thần chẳng thèm đọc qua những câu thơ ấy làm gì. Thần nghĩ hẳn là ông ấy đã quá mệt mỏi với cảnh tù đày chật hẹp, thế nên sự xuất hiện của thần mới được nghênh đón nồng nhiệt đến vậy. Ông ấy dỗ dành thần bằng những mẩu vụn bánh mì, bằng tiếng huýt sáo cất lên rụt rè, và bằng cả những lời lẽ dịu dàng trìu mến. Trông ông ấy thật vô cùng thân thiện, thế nên dần dà thần cũng bớt đi vẻ e dè và rồi cả hai trở thành những người bạn tâm giao. Ông ấy chia sẻ cùng thần chút bánh mì và nước lọc, nhường cho thần cả pho mát và dăm miếng xúc xích, và rồi thần cũng bắt đầu yêu mến ông ấy. Nói tóm lại, thần phải thú nhận rằng đó là một tình bạn vô cùng êm đềm và ngọt ngào. Ông ấy để mặc cho thần chạy nhảy trên bàn tay, đùa nghịch trên cánh tay, rúc vào tay áo, và thậm chí là luồn lách vào cả bộ râu rậm rạp của ông. Ông ấy gọi thần là người bạn nhỏ của ta, và thần đã quên bẵng mất cái lý do khiến mình cất bước ra thế giới; quên luôn cả cái que xiên xúc xích mà thần đã cẩn thận giấu vào một khe nứt trên sàn nhà, nơi mà đến giờ nó vẫn đang nằm lại. Thần chỉ khao khát được ở bên ông ấy mãi mãi, bởi thần hiểu rõ rằng nếu mình cất bước ra đi, người tù đáng thương ấy sẽ chẳng còn lấy một ai bầu bạn, và điều đó thì thật là sầu thảm biết bao.
"Thần thì ở lại, nhưng ông ấy thì không. Vào lần hội ngộ cuối cùng, ông ấy đã ngậm ngùi nói với thần những lời thật thê lương, chia cho thần phần bánh mì và pho mát nhiều gấp đôi thường lệ, rồi gửi đến thần một nụ hôn gió qua bàn tay. Kể từ giây phút bước chân ra đi ấy, ông không bao giờ quay trở lại nữa. Thần cũng chẳng còn biết thêm điều gì về câu chuyện của ông ấy.
"Giờ đây, viên cai ngục đã nắm trọn quyền sở hữu thần. Mặc dù ông ta có nhắc đến điều gì đó về món súp nấu từ que xiên xúc xích, thế nhưng thần chẳng thể nào đặt niềm tin vào con người ấy. Tất nhiên là ông ta đã tóm gọn thần trong tay, nhưng lại là để tống thần vào một cái lồng tròn xoay trông chẳng khác gì một cỗ máy chạy bộ tàn nhẫn. Ôi bệ hạ ơi, điều đó mới thật kinh hoàng làm sao! Thần cứ phải cắm đầu chạy miệt mài hết vòng này đến vòng khác mà chẳng hề nhích lên được dù chỉ là một bước, và tất cả chỉ cốt để làm trò cười cho thiên hạ.
"Cháu gái của người gác ngục là một cô bé thật đáng yêu. Chị ấy sở hữu một đôi mắt vui tươi rạng rỡ, mái tóc xoăn bồng bềnh lấp lánh như những sợi vàng ròng chói lọi nhất, và một khuôn mặt lúc nào cũng bừng lên nụ cười.
"'Em chuột nhỏ đáng thương,' một ngày nọ, chị ấy khẽ thầm thì khi ghé sát mắt nhìn vào chiếc lồng của thần, 'chị sẽ thả em tự do.' Rồi chị ấy vươn tay kéo tuột chiếc khóa sắt ra, và thần nhanh như chớp phóng vụt lên bậu cửa sổ, để rồi từ đó thoăn thoắt leo thẳng lên mái nhà. Tự do! Sự tự do! Đó là tất cả những gì choán lấy tâm trí thần lúc bấy giờ, chứ chẳng màng gì đến mục đích của chuyến đi xa.
"Trời mỗi lúc một sẩm tối, và khi màn đêm hoàn toàn buông xuống, thần đã tìm được một chỗ nương náu trong tòa tháp cũ kỹ, nơi có một người bảo vệ và một bác cú sinh sống. Ban đầu, thần chẳng hề có mảy may một chút niềm tin nào vào bất kỳ ai trong số họ, đặc biệt là bác cú kia, cái loài mang dáng dấp của loài mèo và ấp ủ một thói hư tật xấu đầy chết chóc, ấy là thích xơi tái họ hàng nhà chuột. Tuy nhiên, đôi khi ở đời người ta cũng có thể nhầm lẫn, và lần này thì thần đã lầm to, bởi đây lại là một bác cú già vô cùng đáng kính và học thức uyên bác. Bác ta biết nhiều điều hơn cả gã bảo vệ kia, và thậm chí sự hiểu biết ấy còn sánh ngang với chính bản thân thần. Lũ cú con suốt ngày làm ầm ĩ lên vì đủ mọi chuyện trên đời, nhưng lời quở trách nặng nề nhất mà bác ta dành cho chúng cũng chỉ là: 'Các cháu tốt nhất là nên đi ra ngoài kia và thử nấu chút súp từ que xiên xúc xích đi xem nào.' Bác ta vô cùng cưng chiều và yêu thương bầy con của mình. Cách cư xử ấm áp ấy đã gieo vào lòng thần một niềm tin vững chãi đến mức, từ cái khe hở nơi mình đang nép vào, thần đã dạn dĩ ré lên: 'Chít.'
"Sự tin tưởng ngây thơ này làm bác ta hài lòng ra mặt, đến độ bác ta dõng dạc cam đoan sẽ che chở cho thần dưới đôi cánh bảo bọc của chính mình, và rằng sẽ chẳng một sinh vật nào được phép động đến dù chỉ là một sợi lông của thần. Sự thật thì, bác ta đã âm thầm ấp ủ một dã tâm đen tối là muốn giữ thần lại làm nguồn lương thực dự trữ để xơi tái vào mùa đông, khi thức ăn ngoài kia trở nên khan hiếm. Mặc dù vậy, bác ta vẫn là một quý bà cú vô cùng thông thái. Bác ta điềm nhiên giải thích cho thần nghe rằng gã bảo vệ kia thực chất chỉ biết rúc lên những âm thanh từ chiếc còi treo lủng lẳng bên hông, thế nhưng gã lại mù quáng tự mãn về điều đó đến mức hoang tưởng mình là một con cú dũng mãnh ngự trị trên tòa tháp. Gã ta lúc nào cũng khao khát làm nên những điều vĩ đại, nhưng rốt cuộc chỉ luẩn quẩn gặt hái thành công trong dăm ba chuyện vặt vãnh-tựa như việc cố nấu súp từ một cái que xiên xúc xích vậy.
"Sau đó, thần đã khẩn khoản xin bác cú truyền lại cho công thức nấu món súp kỳ diệu này. 'Súp nấu từ que xiên xúc xích ấy à,' bác ta thủng thẳng đáp, 'đó chẳng qua chỉ là một câu ngạn ngữ rỗng tuếch của loài người và có thể được hiểu theo trăm phương ngàn hướng. Ai ai cũng đinh ninh rằng cách hiểu của mình là ưu việt nhất, thế nhưng rốt cuộc thì, câu ngạn ngữ ấy vốn dĩ chẳng mang lấy một chút ý nghĩa nào cả.' 'Không có ý nghĩa gì sao!' thần buột miệng thốt lên. Thần hoàn toàn sững sờ và bàng hoàng tột độ. Sự thật thì không phải lúc nào cũng êm ái lọt tai, nhưng sự thật luôn ngự trị trên tất thảy mọi thứ, đúng như lời bác cú già đã răn dạy. Thần miên man suy ngẫm về tất cả những điều này, và bỗng chốc nhận ra một cách tỏ tường rằng: nếu sự thật quả thực mang một vị thế cao cả vượt lên trên muôn loài đến vậy, thì hẳn nhiên nó phải sở hữu một giá trị vĩ đại hơn gấp ngàn lần so với cái món súp từ que xiên xúc xích bé mọn kia. Chính vì lẽ đó, thần vội vã tháo thân chạy trốn, cốt để kịp giờ trở về và dâng lên bệ hạ một báu vật cao cả nhất, thuần khiết nhất và ngự trị trên hết thảy vạn vật-đó chính là, sự thật.
"Loài chuột chúng ta vốn dĩ là một giống loài của ánh sáng văn minh, và Vua Chuột anh minh thì luôn ngự trị trên tất thảy. Do đó, bệ hạ hoàn toàn có thừa khả năng và quyền uy để sắc phong thần lên ngôi hoàng hậu, tất cả cũng chỉ vì tôn vinh lợi ích tối thượng của sự thật mà thôi."
"Thứ sự thật của ngươi chỉ là một lời dối trá," cô chuột duy nhất chưa cất lời đanh thép tuyên bố. "Ta thừa sức nấu món súp đó, và ta chắc chắn sẽ làm cho bằng được."
NÓ ĐƯỢC CHUẨN BỊ NHƯ THẾ NÀO
"Thần chẳng hề cất bước chu du," chuột nhắt thứ ba thong thả cất lời, "thần chọn ở lại vương quốc này; đó mới là một nước cờ khôn ngoan. Kẻ ta chẳng vớt vát được gì qua những chuyến đi viễn xứ. Mọi thứ trên đời đều có thể lĩnh hội một cách dễ dàng ngay tại đây, nên thần cứ thảnh thơi ở nhà. Thần chẳng vay mượn vốn liếng hiểu biết của mình từ những sinh linh siêu nhiên; thần cũng không hề nuốt chửng hay học lỏm nó qua dăm ba cuộc hàn huyên với loài cú. Thần đã đúc kết được tất thảy từ chính những chiêm nghiệm và suy tư của riêng mình. Giờ đây, cúi xin bệ hạ vui lòng đặt chiếc ấm kia lên bếp lò-như thế này! Kế đến, hãy rót nước vào, rót cho thật đầy đến tận miệng ấm; rồi nhóm lên một ngọn lửa thật lớn; hãy giữ cho lửa cháy bừng bừng để nước có thể sôi sục lên, bởi nó cần phải cuộn trào réo rắt. Đó, bây giờ thần sẽ ném chiếc que xiên này vào. Liệu Vua Chuột có bằng lòng nhúng chỏm đuôi của mình vào làn nước sôi sục kia và khuấy vòng quanh không? Bệ hạ càng khuấy lâu, món súp sẽ càng sánh mịn và đậm đà. Chẳng cần thêm thắt bất cứ thứ gì khác, chỉ cần ngài nhẫn nại khuấy lên mà thôi."
"Lẽ nào không một ai khác có thể làm thay việc này sao?" nhà vua dè dặt hỏi.
"Hoàn toàn không, muôn tâu bệ hạ," chuột nhắt đáp lời quả quyết; "nguồn phép thuật tối thượng ấy chỉ ngự trị nơi chỏm đuôi của Vua Chuột mà thôi."
Thế là dòng nước bắt đầu sôi sục ùng ục, nổi lên những bọt khí trắng xóa, khi Vua Chuột uy nghi đứng sát bên chiếc ấm. Quả là một màn trình diễn có phần mạo hiểm, nhưng ngài đã quả quyết quay lưng lại và thận trọng thò đuôi ra, y hệt cái cách bầy chuột vẫn thường làm mỗi khi đột nhập vào kho bơ sữa, dùng đuôi vớt lớp váng sữa béo ngậy từ trong chảo rồi thỏa thuê liếm sạch. Thế nhưng, đuôi của nhà vua mới chỉ vừa sượt qua màn hơi nước nóng rẫy là ngài đã nhảy cẫng lên, vọt thẳng ra khỏi ống khói, lớn tiếng thốt:
"Ồ, tất nhiên rồi, dù giá nào đi chăng nữa, nàng nhất định phải là hoàng hậu của ta! Chúng ta sẽ tạm gác lại chuyện nấu súp cho đến tận dịp kỷ niệm đám cưới vàng, năm mươi năm nữa kể từ bây giờ. Cứ như thế, những kẻ khốn cùng trong vương quốc của ta sẽ có một bữa tiệc thịnh soạn để ngóng chờ trong suốt một thời gian dài, với một niềm hân hoan vô bờ bến."
Và rồi chẳng bao lâu sau, một hôn lễ linh đình đã được cử hành. Tuy nhiên, khá nhiều con chuột sau khi dự tiệc trở về nhà đã rỉ tai nhau rằng món súp ấy chẳng thể nào được vinh danh là "súp nấu từ que xiên xúc xích," mà đúng ra phải gọi là "súp đuôi chuột." Bọn chúng thừa nhận rằng có một vài câu chuyện được kể nghe thật bùi tai, nhưng lại thầm nghĩ rằng toàn bộ sự tình lẽ ra đã có thể được sắp đặt theo một cách thức hoàn toàn khác.
-
Dựa trên một thành ngữ Đan Mạch (lave suppe paa en pølsepind), mang ý nghĩa mỉa mai việc vẽ vời, thêu dệt một câu chuyện dài dòng từ một chi tiết nhỏ nhặt, hoặc tạo ra một thứ có vẻ to tát từ cái không có giá trị gì. ↩
-
Cây nêu tháng Năm (Maypole) là một cột gỗ cao được dựng lên và trang trí lộng lẫy bằng hoa lá, ruy băng. Đây là trung tâm cho các điệu nhảy múa trong lễ hội truyền thống đón chào mùa xuân và mùa hè ở nhiều nước châu Âu. ↩
-
Ám chỉ Vua Solomon, vị vua nổi tiếng với sự khôn ngoan trong Kinh Thánh. Câu nói "Hãy đến với loài kiến và học lấy sự khôn ngoan" được trích từ Sách Châm Ngôn (Proverbs) do ông viết. ↩
-
Phantasos (hoặc Phantæsus) trong thần thoại Hy Lạp là một trong những vị thần của giấc mơ, chuyên tạo ra những giấc mơ siêu thực và ảo ảnh, đại diện cho sức mạnh của trí tưởng tượng. ↩
-
Ám chỉ đất nước Ai Cập. Cò trắng châu Âu thường có tập tính di cư tránh rét đến châu Phi (bao gồm Ai Cập) vào mùa đông, sau đó quay trở lại châu Âu vào mùa xuân để làm tổ và sinh sản. ↩
SOUP FROM A SAUSAGE SKEWER


WE HAD such an excellent dinner yesterday," said an old lady-mouse to another who had not been present at the feast. "I sat number twenty-one below the mouse-king, which was not a bad place. Shall I tell you what we had? Everything was excellent-moldy bread, tallow candle, and sausage.
"Then, when we had finished that course, the same came on all over again; it was as good as two feasts. We were very sociable, and there was as much joking and fun as if we had been all of one family circle. Nothing was left but the sausage skewers, and this formed a subject of conversation till at last some one used the expression, 'Soup from sausage sticks'; or, as the people in the neighboring country call it, 'Soup from a sausage skewer.'
"Every one had heard the expression, but no one had ever tasted the soup, much less prepared it. A capital toast was drunk to the inventor of the soup, and some one said he ought to be made a relieving officer to the poor. Was not that witty?
"Then the old mouse-king rose and promised that the young lady-mouse who should learn how best to prepare this much-admired and savory soup should be his queen, and a year and a day should be allowed for the purpose."
"That was not at all a bad proposal," said the other mouse; "but how is the soup made?"
"Ah, that is more than I can tell you. All the young lady-mice were asking the same question. They wish very much to be the queen, but they do not want to take the trouble to go out into the world to learn how to make soup, which it is absolutely necessary to do first.
"It is not every one who would care to leave her family or her happy corner by the fireside at home, even to be made queen. It is not always easy in foreign lands to find bacon and cheese rind every day, and, after all, it is not pleasant to endure hunger and perhaps be eaten alive by the cat."
Probably some such thoughts as these discouraged the majority from going out into the world to collect the required information. Only four mice gave notice that they were ready to set out on the journey.
They were young and sprightly, but poor. Each of them wished to visit one of the four divisions of the world, to see which of them would be most favored by fortune. Each took a sausage skewer as a traveler's staff and to remind her of the object of her journey.
They left home early in May, and none of them returned till the first of May in the following year, and then only three of them. Nothing was seen or heard of the fourth, although the day of decision was close at hand. "Ah, yes, there is always some trouble mingled with the greatest pleasure," said the mouse-king. But he gave orders that all the mice within a circle of many miles should be invited at once.
They were to assemble in the kitchen, and the three travelers were to stand in a row before them, and a sausage skewer covered with crape was to stand in the place of the missing mouse. No one dared express an opinion until the king spoke and desired one of them to proceed with her story. And now we shall hear what she said.
WHAT THE FIRST LITTLE MOUSE SAW AND HEARD ON HER TRAVELS
"When I first went out into the world," said the little mouse, "I fancied, as so many of my age do, that I already knew everything-but it was not so. It takes years to acquire great knowledge.
"I went at once to sea, in a ship bound for the north. I had been told that the ship's cook must know how to prepare every dish at sea, and it is easy enough to do that with plenty of sides of bacon, and large tubs of salt meat and musty flour. There I found plenty of delicate food but no opportunity to learn how to make soup from a sausage skewer.
"We sailed on for many days and nights; the ship rocked fearfully, and we did not escape without a wetting. As soon as we arrived at the port to which the ship was bound, I left it and went on shore at a place far towards the north. It is a wonderful thing to leave your own little corner at home, to hide yourself in a ship where there are sure to be some nice snug corners for shelter, then suddenly to find yourself thousands of miles away in a foreign land.
"I saw large, pathless forests of pine and birch trees, which smelt so strong that I sneezed and thought of sausage. There were great lakes also, which looked as black as ink at a distance but were quite clear when I came close to them. Large swans were floating upon them, and I thought at first they were only foam, they lay so still; but when I saw them walk and fly, I knew directly what they were. They belonged to the goose species. One could see that by their walk, for no one can successfully disguise his family descent.
"I kept with my own kind and associated with the forest and field mice, who, however, knew very little-especially about what I wanted to know and what had actually made me travel abroad.
"The idea that soup could be made from a sausage skewer was so startling to them that it was repeated from one to another through the whole forest. They declared that the problem would never be solved-that the thing was an impossibility. How little I thought that in this place, on the very first night, I should be initiated into the manner of its preparation!
"It was the height of summer, which the mice told me was the reason that the forest smelt so strong, and that the herbs were so fragrant, and that the lakes with the white, swimming swans were so dark and yet so clear.
"On the margin of the wood, near several houses, a pole as large as the mainmast of a ship had been erected, and from the summit hung wreaths of flowers and fluttering ribbons. It was the Maypole. Lads and lasses danced round it and tried to outdo the violins of the musicians with their singing. They were as gay as ever at sunset and in the moonlight, but I took no part in the merrymaking. What has a little mouse to do with a Maypole dance? I sat in the soft moss and held my sausage skewer tight. The moon shone particularly bright on one spot where stood a tree covered with very fine moss. I may almost venture to say that it was as fine and soft as the fur of the mouse-king, but it was green, which is a color very agreeable to the eye.
"All at once I saw the most charming little people marching towards me. They did not reach higher than my knee, although they looked like human beings but were better proportioned. They called themselves elves, and wore clothes that were very delicate and fine, for they were made of the leaves of flowers, trimmed with the wings of flies and gnats. The effect was by no means bad.
"They seemed to be seeking something-I knew not what, till at last one of them espied me. They came towards me, and the foremost pointed to my sausage skewer, saying: 'There, that is just what we want. See, it is pointed at the top; is it not capital?' The longer he looked at my pilgrim's staff the more delighted he became.
"'I will lend it to you,' said I, 'but not to keep.'
"'Oh, no, we won't keep it!' they all cried. Then they seized the skewer, which I gave up to them, and dancing with it to the tree covered with delicate moss, set it up in the middle of the green. They wanted a Maypole, and the one they now had seemed made especially for them. This they decorated so beautifully that it was quite dazzling to look at. Little spiders spun golden threads around it, and it was hung with fluttering veils and flags, as delicately white as snow glittering in the moonlight. Then they took colors from the butterfly's wing, sprinkling them over the white drapery until it gleamed as if covered with flowers and diamonds, and I could no longer recognize my sausage skewer. Such a Maypole as this has never been seen in all the world.
"Then came a great company of real elves. Nothing could be finer than their clothes. They invited me to be present at the feast, but I was to keep at a certain distance because I was too large for them. Then began music that sounded like a thousand glass bells, and was so full and strong that I thought it must be the song of the swans. I fancied also that I heard the voices of the cuckoo and the blackbird, and it seemed at last as if the whole forest sent forth glorious melodies-the voices of children, the tinkling of bells, and the songs of the birds. And all this wonderful melody came from the elfin Maypole. My sausage peg was a complete peal of bells. I could scarcely believe that so much could have been produced from it, till I remembered into what hands it had fallen. I was so much affected that I wept tears such as a little mouse can weep, but they were tears of joy.
"The night was far too short for me; there are no long nights there in summer, as we often have in this part of the world. When the morning dawned and the gentle breeze rippled the glassy mirror of the forest lake, all the delicate veils and flags fluttered away into thin air. The waving garlands of the spider's web, the hanging bridges and galleries, or whatever else they may be called, vanished away as if they had never been. Six elves brought me back my sausage skewer and at the same time asked me to make any request, which they would grant if it lay in their power. So I begged them, if they could, to tell me how to make soup from a sausage skewer.
"'How do we make it?' asked the chief of the elves, with a smile. 'Why, you have just seen us. You scarcely knew your sausage skewer again, I am sure.'
"'They think themselves very wise,' thought I to myself. Then I told them all about it, and why I had traveled so far, and also what promise had been made at home to the one who should discover the method of preparing this soup.
"'What good will it do the mouse-king or our whole mighty kingdom,' I asked, 'for me to have seen all these beautiful things? I cannot shake the sausage peg and say, "Look, here is the skewer, and now the soup will come." That would only produce a dish to be served when people were keeping a fast.'
"Then the elf dipped his finger into the cup of a violet and said, 'Look, I will anoint your pilgrim's staff, so that when you return to your home and enter the king's castle, you have only to touch the king with your staff and violets will spring forth, even in the coldest winter time. I think I have given you something worth carrying home, and a little more than something.'"
Before the little mouse explained what this something more was, she stretched her staff toward the king, and as it touched him the most beautiful bunch of violets sprang forth and filled the place with their perfume. The smell was so powerful that the mouse-king ordered the mice who stood nearest the chimney to thrust their tails into the fire that there might be a smell of burning, for the perfume of the violets was overpowering and not the sort of scent that every one liked.
"But what was the something more, of which you spoke just now?" asked the mouse-king.
"Why," answered the little mouse, "I think it is what they call 'effect.'" Thereupon she turned the staff round, and behold, not a single flower was to be seen on it! She now held only the naked skewer, and lifted it up as a conductor lifts his baton at a concert.
"Violets, the elf told me," continued the mouse, "are for the sight, the smell, and the touch; so we have only to produce the effect of hearing and tasting." Then, as the little mouse beat time with her staff, there came sounds of music; not such music as was heard in the forest, at the elfin feast, but such as is often heard in the kitchen-the sounds of boiling and roasting. It came quite suddenly, like wind rushing through the chimneys, and it seemed as if every pot and kettle were boiling over.
The fire shovel clattered down on the brass fender, and then, quite as suddenly, all was still,-nothing could be heard but the light, vapory song of the teakettle, which was quite wonderful to hear, for no one could rightly distinguish whether the kettle was just beginning to boil or just going to stop. And the little pot steamed, and the great pot simmered, but without any regard for each other; indeed, there seemed no sense in the pots at all. As the little mouse waved her baton still more wildly, the pots foamed and threw up bubbles and boiled over, while again the wind roared and whistled through the chimney, and at last there was such a terrible hubbub that the little mouse let her stick fall.
"That is a strange sort of soup," said the mouse-king. "Shall we not now hear about the preparation?"
"That is all," answered the little mouse, with a bow.
"That all!" said the mouse-king; "then we shall be glad to hear what information the next may have to give us."
WHAT THE SECOND MOUSE HAD TO TELL
"I was born in the library, at a castle," said the second mouse. "Very few members of our family ever had the good fortune to get into the dining room, much less into the storeroom. To-day and while on my journey are the only times I have ever seen a kitchen. We were often obliged to suffer hunger in the library, but we gained a great deal of knowledge. The rumor reached us of the royal prize offered to those who should be able to make soup from a sausage skewer.
"Then my old grandmother sought out a manuscript,-which she herself could not read, to be sure, but she had heard it read,-and in it were written these words, 'Those who are poets can make soup of sausage skewers.' She asked me if I was a poet. I told her I felt myself quite innocent of any such pretensions. Then she said I must go out and make myself a poet. I asked again what I should be required to do, for it seemed to me quite as difficult as to find out how to make soup of a sausage skewer. My grandmother had heard a great deal of reading in her day, and she told me that three principal qualifications were necessary-understanding, imagination, and feeling. 'If you can manage to acquire these three, you will be a poet, and the sausage-skewer soup will seem quite simple to you.'
"So I went forth into the world and turned my steps toward the west, that I might become a poet. Understanding is the most important matter of all. I was sure of that, for the other two qualifications are not thought much of; so I went first to seek understanding. Where was I to find it?
"'Go to the ant and learn wisdom,' said the great Jewish king. I learned this from living in a library. So I went straight on till I came to the first great ant hill. There I set myself to watch, that I might become wise. The ants are a very respectable people; they are wisdom itself. All they do is like the working of a sum in arithmetic, which comes right. 'To work, and to lay eggs,' say they, 'and to provide for posterity, is to live out your time properly.' This they truly do. They are divided into clean and dirty ants, and their rank is indicated by a number. The ant-queen is number One. Her opinion is the only correct one on everything, and she seems to have in her the wisdom of the whole world. This was just what I wished to acquire. She said a great deal that was no doubt very clever-yet it sounded like nonsense to me. She said the ant hill was the loftiest thing in the world, although close to the mound stood a tall tree which no one could deny was loftier, much loftier. Yet she made no mention of the tree.
"One evening an ant lost herself on this tree. She had crept up the stem, not nearly to the top but higher than any ant had ever ventured, and when at last she returned home she said that she had found something in her travels much higher than the ant hill. The rest of the ants considered this an insult to the whole community, and condemned her to wear a muzzle and live in perpetual solitude.
"A short time afterwards another ant got on the tree and made the same journey and the same discovery. But she spoke of it cautiously and indefinitely, and as she was one of the superior ants and very much respected, they believed her. And when she died they erected an egg-shell as a monument to her memory, for they cultivated a great respect for science.
"I saw," said the little mouse, "that the ants were always running to and fro with their burdens on their backs. Once I saw one of them, who had dropped her load, try very hard to raise it again, but she did not succeed. Two others came up and tried with all their strength to help her, till they nearly dropped their own burdens. Then they were obliged to stop a moment, for every one must think of himself first. The ant-queen remarked that their conduct that day showed that they possessed kind hearts and good understanding. 'These two qualities,' she continued, 'place us ants in the highest degree above all other reasonable beings. Understanding must therefore stand out prominently among us, and my wisdom is greatest.' So saying, she raised herself on her two hind legs, that no one else might be mistaken for her. I could not, therefore, have made a mistake, so I ate her up. We are to go to the ants to learn wisdom, and I had secured the queen.
"I now turned and went nearer to the lofty tree already mentioned, which was an oak. It had a tall trunk, with a wide-spreading top, and was very old. I knew that a living being dwelt here, a dryad, as she is called, who is born with the tree and dies with it. I had heard this in the library, and here was just such a tree and in it an oak maiden. She uttered a terrible scream when she caught sight of me so near to her. Like women, she was very much afraid of mice, and she had more real cause for fear than they have, for I might have gnawed through the tree on which her life depended.
"I spoke to her in a friendly manner and begged her to take courage. At last she took me up in her delicate hand, and I told her what had brought me out into the world. She told me that perhaps on that very evening she would be able to obtain for me one of the two treasures for which I was seeking. She told me that Phantæsus, the genius of the imagination, was her very dear friend; that he was as beautiful as the god of love; that he rested many an hour with her under the leafy boughs of the tree, which then rustled and waved more than ever. He called her his dryad, she said, and the tree his tree, for the grand old oak with its gnarled trunk was just to his taste. The root, which spread deep into the earth, and the top, which rose high in the fresh air, knew the value of the drifting snow, the keen wind, and the warm sunshine, as it ought to be known. 'Yes,' continued the dryad, 'the birds sing up above in the branches and talk to each other about the beautiful fields they have visited in foreign lands. On one of the withered boughs a stork has built his nest-it is beautifully arranged, and, besides, it is pleasant to hear a little about the land of the pyramids. All this pleases Phantæsus, but it is not enough for him. I am obliged to relate to him of my life in the woods and to go back to my childhood, when I was little and the tree so small and delicate that a stinging nettle could overshadow it, and I have to tell everything that has happened since then until now, when the tree is so large and strong. Sit you down now under the green bindwood and pay attention. When Phantæsus comes I will find an opportunity to lay hold of his wing and to pull out one of the little feathers. That feather you shall have. A better was never given to any poet, and it will be quite enough for you.'
"And when Phantæsus came the feather was plucked," said the little mouse, "and I seized and put it in water and kept it there till it was quite soft. It was very heavy and indigestible, but I managed to nibble it up at last. It is not so easy to nibble oneself into a poet, there are so many things to get through. Now, however, I had two of them, understanding and imagination, and through these I knew that the third was to be found in the library.
"A great man has said and written that there are novels whose sole and only use appears to be to attempt to relieve mankind of overflowing tears-a kind of sponge, in fact, for sucking up feelings and emotions. I remembered a few of these books. They had always appeared tempting to the appetite, for they had been much read and were so greasy that they must have absorbed no end of emotions in themselves.
"I retraced my steps to the library and literally devoured a whole novel-that is, properly speaking, the interior, or soft part of it. The crust, or binding, I left. When I had digested not only this, but a second, I felt a stirring within me. I then ate a small piece of a third romance and felt myself a poet. I said it to myself and told others the same. I had headache and backache and I cannot tell what aches besides. I thought over all the stories that may be said to be connected with sausage pegs; and all that has ever been written about skewers, and sticks, and staves, and splinters came to my thoughts-the ant-queen must have had a wonderfully clear understanding. I remembered the man who placed in his mouth a white stick, by which he could make himself and the stick invisible. I thought of sticks as hobbyhorses, staves of music or rime, of breaking a stick over a man's back, and of Heaven knows how many more phrases of the same sort, relating to sticks, staves, and skewers. All my thoughts ran on skewers, sticks of wood, and staves. As I am at last a poet and have worked terribly hard to make myself one, I can of course make poetry on anything. I shall therefore be able to wait upon you every day in the week with a poetical history of a skewer. And that is my soup."
"In that case," said the mouse-king, "we will hear what the third mouse has to say."
"Squeak, squeak," cried a little mouse at the kitchen door. It was the fourth, and not the third, of the four who were contending for the prize, the one whom the rest supposed to be dead. She shot in like an arrow and overturned the sausage peg that had been covered with crape. She had been running day and night, for although she had traveled in a baggage train, by railway, yet she had arrived almost too late. She pressed forward, looking very much ruffled.
She had lost her sausage skewer but not her voice, and she began to speak at once, as if they waited only for her and would hear her only-as if nothing else in the world were of the least consequence. She spoke out so clearly and plainly, and she had come in so suddenly, that no one had time to stop her or to say a word while she was speaking. This is what she said.
WHAT THE FOURTH MOUSE, WHO SPOKE BEFORE THE THIRD, HAD TO TELL
"I started off at once to the largest town," said she, "but the name of it has escaped me. I have a very bad memory for names. I was carried from the railway, with some goods on which duties had not been paid, to the jail, and on arriving I made my escape, running into the house of the keeper. He was speaking of his prisoners, especially of one who had uttered thoughtless words. These words had given rise to other words, and at length they were written down and registered. 'The whole affair is like making soup of sausage skewers,' said he, 'but the soup may cost him his neck.'
"Now this raised in me an interest for the prisoner," continued the little mouse, "and I watched my opportunity and slipped into his apartment, for there is a mousehole to be found behind every closed door.
"The prisoner, who had a great beard and large, sparkling eyes, looked pale. There was a lamp burning, but the walls were so black that they only looked the blacker for it. The prisoner scratched pictures and verses with white chalk on the black walls, but I did not read the verses. I think he found his confinement wearisome, so that I was a welcome guest. He enticed me with bread crumbs, with whistling, and with gentle words, and seemed so friendly towards me that by degrees I gained confidence in him and we became friends. He divided his bread and water with me and gave me cheese and sausage, and I began to love him. Altogether, I must own that it was a very pleasant intimacy. He let me run about on his hand, on his arm, into his sleeve, and even into his beard. He called me his little friend, and I forgot for what I had come out into the world; forgot my sausage skewer, which I had laid in a crack in the floor, where it is still lying. I wished to stay with him always, for I knew that if I went away, the poor prisoner would have no one to be his friend, which is a sad thing.
"I stayed, but he did not. He spoke to me so mournfully for the last time, gave me double as much bread and cheese as usual, and kissed his hand to me. Then he went away and never came back. I know nothing more of his history.
"The jailer took possession of me now. He said something about soup from a sausage skewer, but I could not trust him. He took me in his hand, certainly, but it was to place me in a cage like a treadmill. Oh, how dreadful it was! I had to run round and round without getting any farther, and only to make everybody laugh.
"The jailer's granddaughter was a charming little thing. She had merry eyes, curly hair like the brightest gold, and such a smiling mouth.
"'You poor little mouse,' said she one day, as she peeped into my cage, 'I will set you free.' She then drew forth the iron fastening, and I sprang out on the window-sill, and from thence to the roof. Free! free! that was all I could think of, and not of the object of my journey.
"It grew dark, and as night was coming on I found a lodging in an old tower, where dwelt a watchman and an owl. I had no confidence in either of them, least of all in the owl, which is like a cat and has a great failing, for she eats mice. One may, however, be mistaken sometimes, and I was now, for this was a respectable and well-educated old owl, who knew more than the watchman and even as much as I did myself. The young owls made a great fuss about everything, but the only rough words she would say to them were, 'You had better go and try to make some soup from sausage skewers.' She was very indulgent and loving to her own children. Her conduct gave me such confidence in her that from the crack where I sat I called out 'Squeak.'
"This confidence pleased her so much that she assured me she would take me under her own protection and that not a creature should do me harm. The fact was, she wickedly meant to keep me in reserve for her own eating in the winter, when food would be scarce. Yet she was a very clever lady-owl. She explained to me that the watchman could only hoot with the horn that hung loose at his side and that he was so terribly proud of it that he imagined himself an owl in the tower, wanted to do great things, but only succeeded in small-soup from a sausage skewer.
"Then I begged the owl to give me the recipe for this soup. 'Soup from a sausage skewer,' said she, 'is only a proverb amongst mankind and may be understood in many ways. Each believes his own way the best, and, after all, the proverb signifies nothing.' 'Nothing!' I exclaimed. I was quite struck. Truth is not always agreeable, but truth is above everything else, as the old owl said. I thought over all this and saw quite plainly that if truth was really so far above everything else, it must be much more valuable than soup from a sausage skewer. So I hastened to get away, that I might be in time and bring what was highest and best and above everything-namely, the truth.
"The mice are enlightened people, and the mouse-king is above them all. He is therefore capable of making me queen for the sake of truth."
"Your truth is a falsehood," said the mouse who had not yet spoken. "I can prepare the soup, and I mean to do so."
HOW IT WAS PREPARED
"I did not travel," said the third mouse, "I stayed in this country; that was the right way. One gains nothing by traveling. Everything can be acquired here quite as easily, so I stayed at home. I have not obtained what I know from supernatural beings; I have neither swallowed it nor learned it from conversing with owls. I have gained it all from my own reflections and thoughts. Will you now set the kettle on the fire-so? Now pour the water in, quite full up to the brim; place it on the fire; make up a good blaze; keep it burning, that the water may boil, for it must boil over and over. There, now I throw in the skewer. Will the mouse-king be pleased now to dip his tail into the boiling water and stir it round with the tail? The longer the king stirs it the stronger the soup will become. Nothing more is necessary, only to stir it."
"Can no one else do this?" asked the king.
"No," said the mouse; "only in the tail of the mouse-king is this power contained."
And the water boiled and bubbled, as the mouse-king stood close beside the kettle. It seemed rather a dangerous performance, but he turned round and put out his tail, as mice do in a dairy when they wish to skim the cream from a pan of milk with their tails and afterwards lick it off. But the mouse-king's tail had only just touched the hot steam when he sprang away from the chimney in a great hurry, exclaiming:
"Oh, certainly, by all means, you must be my queen. We will let the soup question rest till our golden wedding, fifty years hence, so that the poor in my kingdom who are then to have plenty of food will have something to look forward to for a long time, with great joy."
And very soon the wedding took place. Many of the mice, however, as they were returning home, said that the soup could not be properly called "soup from a sausage skewer," but "soup from a mouse's tail." They acknowledged that some of the stories were very well told, but thought that the whole might have been managed differently.