CHƯƠNG XI

NGƯỜI MẸ CỦA CẬU BÉ KHÁC

Mẹ của Arthur là một phụ nữ người Anh, mang tên Milligan. Bà đã góa chồng, và Arthur là cậu con trai độc nhất của bà; hay chí ít, người ta vẫn tin cậu là giọt máu duy nhất còn sót lại, bởi người con trai cả của bà đã mất tích đầy bí ẩn. Quãng thời gian ấy, khi đứa trẻ mới tròn sáu tháng tuổi, nó đã bị kẻ gian bắt cóc, bặt vô âm tín cho đến tận bây giờ. Sự tình cũng bởi đúng vào lúc tai ương ập xuống, bà Milligan chẳng mảy may hay biết để dốc sức lùng sục kiếm tìm. Chồng bà đang cơn hấp hối, còn bản thân bà thì ốm liệt giường, mê man bất tỉnh. Đến khi tỉnh lại, người chồng yêu dấu đã nhắm mắt xuôi tay, còn đứa con bé bỏng cũng bốc hơi không dấu vết. Người em rể của bà, ông James Milligan, đã đôn đáo cất công tìm kiếm khắp nơi. Do người anh trai không còn người thừa kế, ông ta khấp khởi đinh ninh mình sẽ thâu tóm được toàn bộ gia sản kếch xù. Nào ngờ người tính không bằng trời tính, rốt cuộc James Milligan đành chịu trắng tay, bởi bảy tháng sau ngày chồng qua đời, bà Milligan đã hạ sinh cậu con trai thứ hai - chính là Arthur.

Thế nhưng, các vị bác sĩ đều ái ngại tiên lượng rằng sinh linh bé nhỏ, ốm yếu và mỏng manh nhường ấy khó lòng qua khỏi. Cậu bé như ngọn đèn trước gió, có thể tắt lụi bất cứ lúc nào. Nếu Arthur đoản mệnh, toàn bộ khối gia sản đồ sộ kia sẽ danh chính ngôn thuận rơi vào tay ông James Milligan. Lão ta mòn mỏi chờ đợi và hy vọng, nhưng rồi lời sấm truyền của các y bác sĩ rốt cuộc lại chẳng thành hiện thực. Arthur vẫn sống. Chính tình mẫu tử bao la và sự chăm bẵm tận tụy của mẹ đã giành giật lại mạng sống cho cậu. Đến lúc cậu bé buộc phải cố định thân hình ốm yếu trên một tấm ván, bà Milligan không đành lòng để con trai mình phải chôn chân bốn bức tường ngột ngạt. Vậy là bà đã thuê thợ đóng riêng một chiếc du thuyền tuyệt mỹ, và giờ đây, hai mẹ con đang thong dong ngoạn cảnh trên những dòng kênh đào tĩnh lặng vắt ngang nước Pháp1.

Dĩ nhiên, chẳng phải mới chân ướt chân ráo lên tàu mà tôi đã lập tức tỏ tường ngần ấy chuyện về phu nhân người Anh và cậu con trai nhỏ. Những tình tiết cơ cực lẫn xót xa ấy, tôi chỉ dần dà cóp nhặt và hiểu thấu qua những tháng ngày được sống dưới sự bao bọc của bà.

Phần tôi, bà thương tình sắp xếp cho một cabin nhỏ xíu xiu trên tàu. Nhưng ôi chao, với tôi, đó là một căn buồng nhỏ tựa như thiên đường! Mọi ngóc ngách đều được lau chùi sạch bong không một hạt bụi. Món đồ nội thất duy nhất hiện diện là một chiếc tủ gỗ, nhưng đó lại là một món đồ đa năng đầy nhiệm màu: vừa là giường, lại chất đầy nệm êm, gối mềm và chăn ấm. Gắn liền bên cạnh là hàng loạt ngăn kéo nhỏ xinh để cất lược, bàn chải cùng lặt vặt đồ dùng cá nhân. Tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng chiếc bàn hay cái ghế quen thuộc nào, thế nhưng, chỉ cần kéo nhẹ tấm ván ép sát vào vách tường xuống, nó lập tức hóa thành một chiếc bàn vuông vắn kèm theo một chiếc ghế con con. Lòng tôi trào dâng một niềm vui sướng khôn tả khi ngả lưng xuống chiếc giường êm ái ấy. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên tôi được chạm má vào những nếp ga trải giường mềm như nhung. Ga giường của má Barberin thì khô ráp, mỗi lần trở mình là lại cọ vào da thịt rát buốt; còn lúc rong ruổi cùng thầy Vitalis, hai thầy trò thường phải ngủ lăn lóc chẳng có lấy một tấm ga lót lưng, hay chăng nếu có tạt vào những quán trọ tồi tàn, ga trải giường cũng xù xì thô thiển chẳng kém gì ở nhà má Barberin.

Sáng hôm sau, tôi thức dậy từ lúc tinh mơ, phần vì lòng bồn chồn muốn xem bầy thú nhỏ đêm qua ngủ nghê ra sao. Lò dò bước tới, tôi thấy chúng vẫn cuộn tròn ngay chỗ tôi thu xếp từ chập tối, ngáy pho pho như thể chiếc du thuyền lộng lẫy này đã là tổ ấm từ thuở nảo thuở nào. Thấy bóng tôi tiến lại gần, lũ chó chồm lên mừng rỡ, duy chỉ có khỉ Pretty-Heart là vẫn nằm ườn ra đó; dù một bên mắt đang he hé nhìn tôi, nó lại nhất quyết không thèm động đậy, rồi bắt đầu giả vờ ngáy khò khò vang rền như một chiếc kèn đồng.

Tôi thừa hiểu tẩy của cậu chàng: Pretty-Heart vốn tính nết nhạy cảm, đã vậy lại hay hờn dỗi và dỗi thì dai thôi rồi. Chắc mẩm nó đang phật ý vì tối qua tôi không ẵm nó vào chung buồng, nên giờ mới làm cao, bày trò giả vờ ngủ say sưa để tỏ thái độ phản đối đây mà.

Khổ nỗi, tôi làm sao mà giải thích cho một con khỉ hiểu vì cớ gì tôi đành bấm bụng để nó ngủ vạ vật ngoài boong. Nhìn vẻ mặt hờn mát của cậu chàng, lòng tôi dâng lên chút áy náy như thể vừa làm tổn thương người bạn nhỏ của mình. Tôi âu yếm bế nó vào lòng, vuốt ve bộ lông mềm để thay lời xin lỗi chân thành. Lúc đầu, nó vẫn ra vẻ dỗi hờn, ngoảnh mặt đi không thèm đoái hoài, nhưng với cái tính khí nắng mưa thất thường, chỉ chớp mắt sau nó đã quên khuấy mất cơn giận. Chú khỉ bắt đầu khoa chân múa tay, ra hiệu cho tôi hiểu rằng: nếu tôi chịu dẫn nó lên bờ đi dạo một vòng, may ra nó sẽ xí xóa cho lỗi lầm tày đình đêm qua. Bác thủy thủ đang lui cui cọ rửa boong tàu tốt bụng bắc cho chúng tôi một tấm ván nhỏ, và thế là tôi cùng bầy thú hớn hở kéo nhau chạy tót ra những cánh đồng cỏ mênh mông.

Thời gian cứ thế êm đềm trôi đi giữa những tràng cười đùa chạy nhảy cùng bầy chó và trò đuổi bắt chú khỉ Pretty-Heart láu lỉnh. Đến lúc cả hội vã mồ hôi kéo nhau quay lại bờ, những chú ngựa đã được đóng yên cương đâu ra đấy, và chiếc du thuyền cũng rùng mình sẵn sàng nhổ neo. Ngay khi gót chân tôi vừa điểm xuống boong tàu, bầy ngựa liền cất những bước chạy nước kiệu đều đặn dọc theo con đường kéo thuyền2. Con tàu nhẹ nhàng rẽ sóng lướt đi trên mặt nước, êm ru đến mức chẳng mảy may cảm nhận thấy một gợn chòng chành. Giữa không gian thanh bình ấy, lọt thỏm vào tai chỉ còn tiếng chim hót líu lo, tiếng sóng xô lách cách vỗ mạn thuyền, và tiếng chuông cổ ngựa ngân vang leng keng từng nhịp giòn giã.

Dòng kênh hiện ra với đủ mọi sắc độ kỳ ảo: có những đoạn nước ngả màu sẫm đen thẳm sâu, bí ẩn; lại có đôi chỗ nước trong vắt lóng lánh tựa pha lê, phô bày trọn vẹn những viên sỏi trắng lấp lánh và từng mảng rêu phong xanh mượt như nhung rủ mình dưới đáy.

Đang mải mê thả hồn theo những gợn sóng lăn tăn dưới mặt nước, tôi chợt nghe có tiếng ai đó gọi tên mình. Hóa ra là Arthur. Cậu đang được người ta khiêng ra ngoài trên chiếc ván nằm quen thuộc.

"Đêm qua cậu ngủ có ngon giấc không?" Arthur hồ hởi cất lời, "Chắc hẳn là êm ái hơn hẳn cảnh màn trời chiếu đất ngoài đồng chứ?"

Sau khi vòng tay cẩn trọng cất lời chào bà Milligan, tôi mỉm cười đáp lại rằng mình đã có một đêm say giấc nồng.

"Thế còn bầy chó thì sao?" Arthur tò mò hỏi tiếp.

Tôi liền khẽ gọi một tiếng, cả bầy lập tức lăng xăng chạy ùa đến cùng với Pretty-Heart. Chú khỉ ranh mãnh lại bắt đầu nhăn nhó, làm đủ mọi trò hề y như thói quen mỗi bận đinh ninh rằng cả đoàn sắp sửa bước vào giờ diễn.

Bà Milligan cẩn thận thu xếp cho con trai nằm nghỉ nơi bóng râm mát mẻ, rồi ân cần ngồi xuống ngay bên cạnh.

"Bây giờ," bà dịu dàng bảo tôi, "cháu hãy dắt bầy chó và chú khỉ ra chỗ khác chơi nhé; bác và Arthur phải bắt đầu giờ học rồi."

Vâng lời bà, tôi dắt theo bầy thú lững thững bước về phía mũi tàu.

Thế nhưng, trong đầu tôi không khỏi thắc mắc: một cậu bé ốm yếu, tội nghiệp dường kia thì còn có thể học hành gì được chứ?

Đưa mắt ngoái nhìn lại, tôi thấy người mẹ đang kiên nhẫn bảo con trai đọc nhẩm một bài học trong cuốn sách bà cầm trên tay. Cậu bé có vẻ đang chật vật đến khổ sở để nắn nót ghi nhớ từng con chữ, song mẹ cậu vẫn hiền từ nhẫn nại.

"Không được đâu," mãi lúc sau bà mới lên tiếng, "Arthur à, con vẫn chưa thuộc được một chút nào cả."

"Nhưng con không thể nào nạp vào đầu được, mẹ ơi, con thực sự không thể," cậu bé nài nỉ bằng một giọng van lơn, đáng thương vô cùng. "Mẹ thấy đấy, con đang ốm mà."

"Đúng là cơ thể con đang mang bệnh, nhưng trí óc con thì đâu có ốm. Mẹ tuyệt đối không thể để con lớn lên trong sự thiếu hiểu biết cạn cợt, chỉ viện cớ rằng con là một đứa trẻ ốm yếu đâu, Arthur ạ."

Những lời ấy lọt vào tai tôi nghe sao mà nghiêm khắc lạ lùng, thế nhưng, âm điệu buông ra từ bờ môi bà lại cất lên một vẻ ngọt ngào và chan chứa sự vỗ về.

"Cớ sao con nỡ làm mẹ phiền lòng đến vậy? Con thừa hiểu mẹ sẽ buồn bã ra sao mỗi lúc con lười biếng học hành mà, đúng không?"

"Con không học nổi đâu, mẹ ơi; con không thể." Dứt lời, cậu bé tủi thân òa khóc nức nở.

Tuy nhiên, bà Milligan chẳng hề để lòng mình mềm đi trước những giọt nước mắt não lòng của con trai, dẫu cho gương mặt bà chất chứa nỗi xúc động và thậm chí còn đượm vẻ xót xa hơn cả cậu bé.

"Sáng nay mẹ vốn rất muốn để con được thỏa thích vui đùa cùng Remi và bầy chó," bà nói, "nhưng con sẽ không được phép chơi đùa cho đến khi nào học thuộc lòng bài học này." Nói đoạn, bà đặt cuốn sách vào tay Arthur rồi cất bước rời đi, để mặc cậu bé nằm lại một mình trên boong tàu lộng gió.

Từ chỗ mình đứng, tôi vẫn có thể nghe rõ tiếng sụt sùi khóc lóc của cậu. Quả thực tôi không sao hiểu nổi: làm thế nào mà một người mẹ-nhìn bề ngoài rõ ràng là yêu thương con cái đến nhường ấy-lại có thể tỏ ra sắt đá, nghiêm khắc với một cậu bé bệnh tật và tội nghiệp đến thế cơ chứ? Một lúc khá lâu sau, bà mới quay trở lại.

"Nào, mẹ con mình thử lại một lần nữa nhé?" bà nhẹ nhàng cất lời hỏi dỗ.

Bà ngồi sát lại bên con trai, cầm lấy cuốn sách và bắt đầu cất giọng đọc câu chuyện ngụ ngôn mang tựa đề "Chó sói và bầy cừu3." Bà chậm rãi đọc đi đọc lại từ đầu chí cuối chừng ba bận, sau đó mới trao trả cuốn sách cho Arthur và dặn dò cậu tự mình ôn lại bài. Xong xuôi, bà quay bước đi sâu vào trong khoang tàu.

Tôi có thể thấy đôi môi Arthur đang mấp máy nhẩm bài. Cậu bé hẳn đang nỗ lực hết sức. Nhưng chẳng mấy chốc, ánh mắt cậu đã trượt khỏi trang sách; đôi môi cũng thôi động đậy. Ánh nhìn lơ đãng của cậu lang thang khắp chốn, nhất quyết không chịu quay về với những dòng chữ. Đột nhiên, cậu bắt gặp ánh mắt tôi; tôi bèn ra hiệu giục cậu tiếp tục bài học. Cậu mỉm cười, tựa như thầm cảm ơn tôi đã nhắc nhở, rồi lại ngoan ngoãn dán mắt vào cuốn sách. Thế nhưng, cũng như trước, cậu chẳng thể nào gom nổi sự tập trung; đôi mắt lại bắt đầu thả hồn bâng quơ từ bờ kênh bên này sang bờ bên kia. Đúng lúc đó, một cánh chim vụt bay ngang qua boong thuyền, nhanh như một mũi tên. Arthur ngước đầu lên nhìn theo đường bay vút đi ấy. Khi chú chim khuất bóng, cậu quay sang nhìn tôi.

"Mình không tài nào học nổi bài này," cậu cất lời, "dù mình thực sự rất muốn."

Tôi bước lại gần cậu bạn nhỏ.

"Bài này đâu có khó đến thế," tôi khẽ nói.

"Khó chứ, khó kinh khủng luôn ấy."

"Mình lại thấy nó khá dễ. Lúc mẹ cậu đọc bài, mình đã nhẩm theo, và giờ thì gần như thuộc lòng rồi."

Cậu mỉm cười như thể chẳng tin vào những gì tôi vừa nói.

"Cậu có muốn mình đọc thử cho nghe không?"

"Cậu làm sao mà thuộc nhanh thế được."

"Vậy để mình thử xem sao nhé? Cậu cầm sách dò đi."

Cậu đón lấy cuốn sách, và tôi bắt đầu cất giọng đọc thuộc lòng từng câu thơ. Tôi đọc trôi chảy, gần như chẳng sai chữ nào.

"Trời đất! Cậu thuộc thật à?"

"Chưa thuộc hẳn đâu, nhưng mình tin lần tới mình sẽ đọc mà không vấp váp lỗi nào."

"Cậu làm cách nào mà học nhanh vậy?"

"Mình chăm chú lắng nghe từng lời lúc mẹ cậu đọc, không để ý vẩn vơ xem có chuyện gì đang diễn ra xung quanh cả."

Đôi gò má Arthur bỗng ửng đỏ, cậu bẽn lẽn quay mặt đi chỗ khác.

"Mình sẽ cố gắng, giống y như cậu," cậu lúng túng nói, "nhưng hãy chỉ cho mình với, cậu làm cách nào để nhớ được từng ấy từ ngữ?"

Tôi cũng chẳng biết diễn đạt thế nào cho tường tận, nhưng vẫn cố gắng hết sức để giải thích cặn kẽ cho cậu hiểu.

"Câu chuyện ngụ ngôn này viết về cái gì nào?" tôi hỏi. "Một bầy cừu. Vậy thì trước tiên, mình hãy nghĩ về bầy cừu ấy; chúng đang gặm cỏ trên một cánh đồng. Mình có thể nhắm mắt lại và tưởng tượng thấy chúng đang nằm nghỉ ngơi và ngủ vùi trên bãi cỏ; nhờ cách hình dung sống động như vậy, mình sẽ chẳng bao giờ quên được."

"Đúng rồi, đúng rồi," cậu reo lên, "mình cũng thấy chúng rồi, những chú cừu trắng tinh và đen nhánh! Đang nằm trên một cánh đồng xanh mướt."

"Thế bình thường ai sẽ trông coi bầy cừu?"

"Là những chú chó."

"Và ai nữa nào?..."

"Một người chăn cừu."

"Nếu cảm thấy bầy cừu đã được an toàn, họ sẽ làm gì?"

"Bầy chó sẽ lăn ra ngủ, trong khi người chăn cừu mải mê thổi sáo ở phía đằng xa cùng những người chăn cừu khác."

Cứ từng chút một như thế, Arthur đã vẽ ra trọn vẹn cả câu chuyện ngụ ngôn trong tâm trí. Tôi kiên nhẫn giảng giải mọi chi tiết, theo cách dễ hiểu nhất mà tôi có thể nghĩ ra. Khi cậu bé đã thực sự chìm đắm trong niềm say mê, chúng tôi cùng nhau nhẩm lại từng dòng chữ; và chỉ nửa giờ sau, cậu đã thuộc làu làu bài học khó nhằn.

"Ồ, chắc chắn mẹ sẽ vui biết bao!" cậu hớn hở reo vang.



  1. Vào thế kỷ 19, Pháp có một mạng lưới kênh đào nội địa (canal) rất phát triển để vận chuyển hàng hóa. Việc gia đình Milligan thiết kế riêng một du thuyền để ngoạn cảnh trên kênh chứng tỏ họ thuộc giới thượng lưu vô cùng giàu có. 

  2. Trước khi có động cơ hơi nước, các phương tiện trên kênh đào thường di chuyển bằng cách sử dụng sức ngựa, la hoặc sức người. Họ đi trên một con đường mòn dọc bờ kênh (gọi là towpath) và dùng dây để kéo thuyền dưới nước. 

  3. Một truyện ngụ ngôn kinh điển (thường được biết đến qua các tác giả như Aesop hay La Fontaine), rất phổ biến trong chương trình giáo dục trẻ em ở phương Tây nhằm dạy bài học về sự cảnh giác trước kẻ thù.