CHƯƠNG XI
NGƯỜI MẸ CỦA CẬU BÉ KHÁC
Mẹ của Arthur là một phụ nữ người Anh, mang tên Milligan. Bà đã góa chồng, và Arthur là cậu con trai độc nhất của bà; hay chí ít, người ta vẫn tin cậu là giọt máu duy nhất còn sót lại, bởi người con trai cả của bà đã mất tích đầy bí ẩn. Quãng thời gian ấy, khi đứa trẻ mới tròn sáu tháng tuổi, nó đã bị kẻ gian bắt cóc, bặt vô âm tín cho đến tận bây giờ. Sự tình cũng bởi đúng vào lúc tai ương ập xuống, bà Milligan chẳng mảy may hay biết để dốc sức lùng sục kiếm tìm. Chồng bà đang cơn hấp hối, còn bản thân bà thì ốm liệt giường, mê man bất tỉnh. Đến khi tỉnh lại, người chồng yêu dấu đã nhắm mắt xuôi tay, còn đứa con bé bỏng cũng bốc hơi không dấu vết. Người em rể của bà, ông James Milligan, đã đôn đáo cất công tìm kiếm khắp nơi. Do người anh trai không còn người thừa kế, ông ta khấp khởi đinh ninh mình sẽ thâu tóm được toàn bộ gia sản kếch xù. Nào ngờ người tính không bằng trời tính, rốt cuộc James Milligan đành chịu trắng tay, bởi bảy tháng sau ngày chồng qua đời, bà Milligan đã hạ sinh cậu con trai thứ hai - chính là Arthur.
Thế nhưng, các vị bác sĩ đều ái ngại tiên lượng rằng sinh linh bé nhỏ, ốm yếu và mỏng manh nhường ấy khó lòng qua khỏi. Cậu bé như ngọn đèn trước gió, có thể tắt lụi bất cứ lúc nào. Nếu Arthur đoản mệnh, toàn bộ khối gia sản đồ sộ kia sẽ danh chính ngôn thuận rơi vào tay ông James Milligan. Lão ta mòn mỏi chờ đợi và hy vọng, nhưng rồi lời sấm truyền của các y bác sĩ rốt cuộc lại chẳng thành hiện thực. Arthur vẫn sống. Chính tình mẫu tử bao la và sự chăm bẵm tận tụy của mẹ đã giành giật lại mạng sống cho cậu. Đến lúc cậu bé buộc phải cố định thân hình ốm yếu trên một tấm ván, bà Milligan không đành lòng để con trai mình phải chôn chân bốn bức tường ngột ngạt. Vậy là bà đã thuê thợ đóng riêng một chiếc du thuyền tuyệt mỹ, và giờ đây, hai mẹ con đang thong dong ngoạn cảnh trên những dòng kênh đào tĩnh lặng vắt ngang nước Pháp1.
Dĩ nhiên, chẳng phải mới chân ướt chân ráo lên tàu mà tôi đã lập tức tỏ tường ngần ấy chuyện về phu nhân người Anh và cậu con trai nhỏ. Những tình tiết cơ cực lẫn xót xa ấy, tôi chỉ dần dà cóp nhặt và hiểu thấu qua những tháng ngày được sống dưới sự bao bọc của bà.
Phần tôi, bà thương tình sắp xếp cho một cabin nhỏ xíu xiu trên tàu. Nhưng ôi chao, với tôi, đó là một căn buồng nhỏ tựa như thiên đường! Mọi ngóc ngách đều được lau chùi sạch bong không một hạt bụi. Món đồ nội thất duy nhất hiện diện là một chiếc tủ gỗ, nhưng đó lại là một món đồ đa năng đầy nhiệm màu: vừa là giường, lại chất đầy nệm êm, gối mềm và chăn ấm. Gắn liền bên cạnh là hàng loạt ngăn kéo nhỏ xinh để cất lược, bàn chải cùng lặt vặt đồ dùng cá nhân. Tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng chiếc bàn hay cái ghế quen thuộc nào, thế nhưng, chỉ cần kéo nhẹ tấm ván ép sát vào vách tường xuống, nó lập tức hóa thành một chiếc bàn vuông vắn kèm theo một chiếc ghế con con. Lòng tôi trào dâng một niềm vui sướng khôn tả khi ngả lưng xuống chiếc giường êm ái ấy. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên tôi được chạm má vào những nếp ga trải giường mềm như nhung. Ga giường của má Barberin thì khô ráp, mỗi lần trở mình là lại cọ vào da thịt rát buốt; còn lúc rong ruổi cùng thầy Vitalis, hai thầy trò thường phải ngủ lăn lóc chẳng có lấy một tấm ga lót lưng, hay chăng nếu có tạt vào những quán trọ tồi tàn, ga trải giường cũng xù xì thô thiển chẳng kém gì ở nhà má Barberin.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy từ lúc tinh mơ, phần vì lòng bồn chồn muốn xem bầy thú nhỏ đêm qua ngủ nghê ra sao. Lò dò bước tới, tôi thấy chúng vẫn cuộn tròn ngay chỗ tôi thu xếp từ chập tối, ngáy pho pho như thể chiếc du thuyền lộng lẫy này đã là tổ ấm từ thuở nảo thuở nào. Thấy bóng tôi tiến lại gần, lũ chó chồm lên mừng rỡ, duy chỉ có khỉ Pretty-Heart là vẫn nằm ườn ra đó; dù một bên mắt đang he hé nhìn tôi, nó lại nhất quyết không thèm động đậy, rồi bắt đầu giả vờ ngáy khò khò vang rền như một chiếc kèn đồng.
Tôi thừa hiểu tẩy của cậu chàng: Pretty-Heart vốn tính nết nhạy cảm, đã vậy lại hay hờn dỗi và dỗi thì dai thôi rồi. Chắc mẩm nó đang phật ý vì tối qua tôi không ẵm nó vào chung buồng, nên giờ mới làm cao, bày trò giả vờ ngủ say sưa để tỏ thái độ phản đối đây mà.
Khổ nỗi, tôi làm sao mà giải thích cho một con khỉ hiểu vì cớ gì tôi đành bấm bụng để nó ngủ vạ vật ngoài boong. Nhìn vẻ mặt hờn mát của cậu chàng, lòng tôi dâng lên chút áy náy như thể vừa làm tổn thương người bạn nhỏ của mình. Tôi âu yếm bế nó vào lòng, vuốt ve bộ lông mềm để thay lời xin lỗi chân thành. Lúc đầu, nó vẫn ra vẻ dỗi hờn, ngoảnh mặt đi không thèm đoái hoài, nhưng với cái tính khí nắng mưa thất thường, chỉ chớp mắt sau nó đã quên khuấy mất cơn giận. Chú khỉ bắt đầu khoa chân múa tay, ra hiệu cho tôi hiểu rằng: nếu tôi chịu dẫn nó lên bờ đi dạo một vòng, may ra nó sẽ xí xóa cho lỗi lầm tày đình đêm qua. Bác thủy thủ đang lui cui cọ rửa boong tàu tốt bụng bắc cho chúng tôi một tấm ván nhỏ, và thế là tôi cùng bầy thú hớn hở kéo nhau chạy tót ra những cánh đồng cỏ mênh mông.
Thời gian cứ thế êm đềm trôi đi giữa những tràng cười đùa chạy nhảy cùng bầy chó và trò đuổi bắt chú khỉ Pretty-Heart láu lỉnh. Đến lúc cả hội vã mồ hôi kéo nhau quay lại bờ, những chú ngựa đã được đóng yên cương đâu ra đấy, và chiếc du thuyền cũng rùng mình sẵn sàng nhổ neo. Ngay khi gót chân tôi vừa điểm xuống boong tàu, bầy ngựa liền cất những bước chạy nước kiệu đều đặn dọc theo con đường kéo thuyền2. Con tàu nhẹ nhàng rẽ sóng lướt đi trên mặt nước, êm ru đến mức chẳng mảy may cảm nhận thấy một gợn chòng chành. Giữa không gian thanh bình ấy, lọt thỏm vào tai chỉ còn tiếng chim hót líu lo, tiếng sóng xô lách cách vỗ mạn thuyền, và tiếng chuông cổ ngựa ngân vang leng keng từng nhịp giòn giã.
Dòng kênh hiện ra với đủ mọi sắc độ kỳ ảo: có những đoạn nước ngả màu sẫm đen thẳm sâu, bí ẩn; lại có đôi chỗ nước trong vắt lóng lánh tựa pha lê, phô bày trọn vẹn những viên sỏi trắng lấp lánh và từng mảng rêu phong xanh mượt như nhung rủ mình dưới đáy.
Đang mải mê thả hồn theo những gợn sóng lăn tăn dưới mặt nước, tôi chợt nghe có tiếng ai đó gọi tên mình. Hóa ra là Arthur. Cậu đang được người ta khiêng ra ngoài trên chiếc ván nằm quen thuộc.
"Đêm qua cậu ngủ có ngon giấc không?" Arthur hồ hởi cất lời, "Chắc hẳn là êm ái hơn hẳn cảnh màn trời chiếu đất ngoài đồng chứ?"
Sau khi vòng tay cẩn trọng cất lời chào bà Milligan, tôi mỉm cười đáp lại rằng mình đã có một đêm say giấc nồng.
"Thế còn bầy chó thì sao?" Arthur tò mò hỏi tiếp.
Tôi liền khẽ gọi một tiếng, cả bầy lập tức lăng xăng chạy ùa đến cùng với Pretty-Heart. Chú khỉ ranh mãnh lại bắt đầu nhăn nhó, làm đủ mọi trò hề y như thói quen mỗi bận đinh ninh rằng cả đoàn sắp sửa bước vào giờ diễn.
Bà Milligan cẩn thận thu xếp cho con trai nằm nghỉ nơi bóng râm mát mẻ, rồi ân cần ngồi xuống ngay bên cạnh.
"Bây giờ," bà dịu dàng bảo tôi, "cháu hãy dắt bầy chó và chú khỉ ra chỗ khác chơi nhé; bác và Arthur phải bắt đầu giờ học rồi."
Vâng lời bà, tôi dắt theo bầy thú lững thững bước về phía mũi tàu.
Thế nhưng, trong đầu tôi không khỏi thắc mắc: một cậu bé ốm yếu, tội nghiệp dường kia thì còn có thể học hành gì được chứ?
Đưa mắt ngoái nhìn lại, tôi thấy người mẹ đang kiên nhẫn bảo con trai đọc nhẩm một bài học trong cuốn sách bà cầm trên tay. Cậu bé có vẻ đang chật vật đến khổ sở để nắn nót ghi nhớ từng con chữ, song mẹ cậu vẫn hiền từ nhẫn nại.
"Không được đâu," mãi lúc sau bà mới lên tiếng, "Arthur à, con vẫn chưa thuộc được một chút nào cả."
"Nhưng con không thể nào nạp vào đầu được, mẹ ơi, con thực sự không thể," cậu bé nài nỉ bằng một giọng van lơn, đáng thương vô cùng. "Mẹ thấy đấy, con đang ốm mà."
"Đúng là cơ thể con đang mang bệnh, nhưng trí óc con thì đâu có ốm. Mẹ tuyệt đối không thể để con lớn lên trong sự thiếu hiểu biết cạn cợt, chỉ viện cớ rằng con là một đứa trẻ ốm yếu đâu, Arthur ạ."
Những lời ấy lọt vào tai tôi nghe sao mà nghiêm khắc lạ lùng, thế nhưng, âm điệu buông ra từ bờ môi bà lại cất lên một vẻ ngọt ngào và chan chứa sự vỗ về.
"Cớ sao con nỡ làm mẹ phiền lòng đến vậy? Con thừa hiểu mẹ sẽ buồn bã ra sao mỗi lúc con lười biếng học hành mà, đúng không?"
"Con không học nổi đâu, mẹ ơi; con không thể." Dứt lời, cậu bé tủi thân òa khóc nức nở.
Tuy nhiên, bà Milligan chẳng hề để lòng mình mềm đi trước những giọt nước mắt não lòng của con trai, dẫu cho gương mặt bà chất chứa nỗi xúc động và thậm chí còn đượm vẻ xót xa hơn cả cậu bé.
"Sáng nay mẹ vốn rất muốn để con được thỏa thích vui đùa cùng Remi và bầy chó," bà nói, "nhưng con sẽ không được phép chơi đùa cho đến khi nào học thuộc lòng bài học này." Nói đoạn, bà đặt cuốn sách vào tay Arthur rồi cất bước rời đi, để mặc cậu bé nằm lại một mình trên boong tàu lộng gió.
Từ chỗ mình đứng, tôi vẫn có thể nghe rõ tiếng sụt sùi khóc lóc của cậu. Quả thực tôi không sao hiểu nổi: làm thế nào mà một người mẹ-nhìn bề ngoài rõ ràng là yêu thương con cái đến nhường ấy-lại có thể tỏ ra sắt đá, nghiêm khắc với một cậu bé bệnh tật và tội nghiệp đến thế cơ chứ? Một lúc khá lâu sau, bà mới quay trở lại.
"Nào, mẹ con mình thử lại một lần nữa nhé?" bà nhẹ nhàng cất lời hỏi dỗ.
Bà ngồi sát lại bên con trai, cầm lấy cuốn sách và bắt đầu cất giọng đọc câu chuyện ngụ ngôn mang tựa đề "Chó sói và bầy cừu3." Bà chậm rãi đọc đi đọc lại từ đầu chí cuối chừng ba bận, sau đó mới trao trả cuốn sách cho Arthur và dặn dò cậu tự mình ôn lại bài. Xong xuôi, bà quay bước đi sâu vào trong khoang tàu.
Tôi có thể thấy đôi môi Arthur đang mấp máy nhẩm bài. Cậu bé hẳn đang nỗ lực hết sức. Nhưng chẳng mấy chốc, ánh mắt cậu đã trượt khỏi trang sách; đôi môi cũng thôi động đậy. Ánh nhìn lơ đãng của cậu lang thang khắp chốn, nhất quyết không chịu quay về với những dòng chữ. Đột nhiên, cậu bắt gặp ánh mắt tôi; tôi bèn ra hiệu giục cậu tiếp tục bài học. Cậu mỉm cười, tựa như thầm cảm ơn tôi đã nhắc nhở, rồi lại ngoan ngoãn dán mắt vào cuốn sách. Thế nhưng, cũng như trước, cậu chẳng thể nào gom nổi sự tập trung; đôi mắt lại bắt đầu thả hồn bâng quơ từ bờ kênh bên này sang bờ bên kia. Đúng lúc đó, một cánh chim vụt bay ngang qua boong thuyền, nhanh như một mũi tên. Arthur ngước đầu lên nhìn theo đường bay vút đi ấy. Khi chú chim khuất bóng, cậu quay sang nhìn tôi.
"Mình không tài nào học nổi bài này," cậu cất lời, "dù mình thực sự rất muốn."
Tôi bước lại gần cậu bạn nhỏ.
"Bài này đâu có khó đến thế," tôi khẽ nói.
"Khó chứ, khó kinh khủng luôn ấy."
"Mình lại thấy nó khá dễ. Lúc mẹ cậu đọc bài, mình đã nhẩm theo, và giờ thì gần như thuộc lòng rồi."
Cậu mỉm cười như thể chẳng tin vào những gì tôi vừa nói.
"Cậu có muốn mình đọc thử cho nghe không?"
"Cậu làm sao mà thuộc nhanh thế được."
"Vậy để mình thử xem sao nhé? Cậu cầm sách dò đi."
Cậu đón lấy cuốn sách, và tôi bắt đầu cất giọng đọc thuộc lòng từng câu thơ. Tôi đọc trôi chảy, gần như chẳng sai chữ nào.
"Trời đất! Cậu thuộc thật à?"
"Chưa thuộc hẳn đâu, nhưng mình tin lần tới mình sẽ đọc mà không vấp váp lỗi nào."
"Cậu làm cách nào mà học nhanh vậy?"
"Mình chăm chú lắng nghe từng lời lúc mẹ cậu đọc, không để ý vẩn vơ xem có chuyện gì đang diễn ra xung quanh cả."
Đôi gò má Arthur bỗng ửng đỏ, cậu bẽn lẽn quay mặt đi chỗ khác.
"Mình sẽ cố gắng, giống y như cậu," cậu lúng túng nói, "nhưng hãy chỉ cho mình với, cậu làm cách nào để nhớ được từng ấy từ ngữ?"
Tôi cũng chẳng biết diễn đạt thế nào cho tường tận, nhưng vẫn cố gắng hết sức để giải thích cặn kẽ cho cậu hiểu.
"Câu chuyện ngụ ngôn này viết về cái gì nào?" tôi hỏi. "Một bầy cừu. Vậy thì trước tiên, mình hãy nghĩ về bầy cừu ấy; chúng đang gặm cỏ trên một cánh đồng. Mình có thể nhắm mắt lại và tưởng tượng thấy chúng đang nằm nghỉ ngơi và ngủ vùi trên bãi cỏ; nhờ cách hình dung sống động như vậy, mình sẽ chẳng bao giờ quên được."
"Đúng rồi, đúng rồi," cậu reo lên, "mình cũng thấy chúng rồi, những chú cừu trắng tinh và đen nhánh! Đang nằm trên một cánh đồng xanh mướt."
"Thế bình thường ai sẽ trông coi bầy cừu?"
"Là những chú chó."
"Và ai nữa nào?..."
"Một người chăn cừu."
"Nếu cảm thấy bầy cừu đã được an toàn, họ sẽ làm gì?"
"Bầy chó sẽ lăn ra ngủ, trong khi người chăn cừu mải mê thổi sáo ở phía đằng xa cùng những người chăn cừu khác."
Cứ từng chút một như thế, Arthur đã vẽ ra trọn vẹn cả câu chuyện ngụ ngôn trong tâm trí. Tôi kiên nhẫn giảng giải mọi chi tiết, theo cách dễ hiểu nhất mà tôi có thể nghĩ ra. Khi cậu bé đã thực sự chìm đắm trong niềm say mê, chúng tôi cùng nhau nhẩm lại từng dòng chữ; và chỉ nửa giờ sau, cậu đã thuộc làu làu bài học khó nhằn.
"Ồ, chắc chắn mẹ sẽ vui biết bao!" cậu hớn hở reo vang.
-
Vào thế kỷ 19, Pháp có một mạng lưới kênh đào nội địa (canal) rất phát triển để vận chuyển hàng hóa. Việc gia đình Milligan thiết kế riêng một du thuyền để ngoạn cảnh trên kênh chứng tỏ họ thuộc giới thượng lưu vô cùng giàu có. ↩
-
Trước khi có động cơ hơi nước, các phương tiện trên kênh đào thường di chuyển bằng cách sử dụng sức ngựa, la hoặc sức người. Họ đi trên một con đường mòn dọc bờ kênh (gọi là towpath) và dùng dây để kéo thuyền dưới nước. ↩
-
Một truyện ngụ ngôn kinh điển (thường được biết đến qua các tác giả như Aesop hay La Fontaine), rất phổ biến trong chương trình giáo dục trẻ em ở phương Tây nhằm dạy bài học về sự cảnh giác trước kẻ thù. ↩
CHAPTER XI
ANOTHER BOY'S MOTHER
Arthur's mother was English. Her name was Mrs. Milligan. She was a widow, and Arthur was her only son; at least, it was supposed that he was her only son living, for she had lost an elder child under mysterious conditions. When the child was six months old it had been kidnaped, and they had never been able to find any trace of him. It is true that, at the time he was taken, Mrs. Milligan had not been able to make the necessary searches. Her husband was dying, and she herself was dangerously ill and knew nothing of what was going on around her. When she regained consciousness her husband was dead and her baby had disappeared. Her brother-in-law, Mr. James Milligan, had searched everywhere for the child. There being no heir, he expected to inherit his brother's property. Yet, after all, Mr. James Milligan inherited nothing from his brother, for seven months after the death of her husband, Mrs. Milligan's second son, Arthur, was born.
But the doctors said that this frail, delicate child could not live. He might die at any moment. In the event of his death, Mr. James Milligan would succeed to the fortune. He waited and hoped, but the doctors' predictions were not fulfilled. Arthur lived. It was his mother's care that saved him. When he had to be strapped to a board, she could not bear the thought of her son being closed up in a house, so she had a beautiful barge built for him, and was now traveling through France on the various canals.
Naturally, it was not the first day that I learned all this about the English lady and her son. I learned these details little by little, while I was with her.
I was given a tiny cabin on the boat. What a wonderful little room it appeared to me! Everything was spotless. The only article of furniture that the cabin contained was a bureau, but what a bureau: bed, mattress, pillows, and covers combined. And attached to the bed were drawers containing brushes, combs, etc. There was no table or chairs, at least not in their usual shape, but against the wall was a plank, which when pulled down was found to be a little square table and chair. How pleased I was to get into that little bed. It was the first time in my life that I had felt soft sheets against my face. Mother Barberin's were very hard and they used to rub my cheeks, and Vitalis and I had more often slept without sheets, and those at the cheap lodging houses at which we stayed were just as rough as Mother Barberin's.
I woke early, for I wanted to know how my animals had passed the night. I found them all at the place where I had installed them the night before, and sleeping as though the beautiful barge had been their home for several months. The dogs jumped up as I approached, but Pretty-Heart, although he had one eye half open, did not move; instead he commenced to snore like a trombone.
I guessed at once what was the matter: Pretty-Heart was very sensitive; he got angry very quickly and sulked for a long time. In the present circumstances he was annoyed because I had not taken him into my cabin, and he showed his displeasure by pretending to be asleep.
I could not explain to him why I had been forced to leave him on deck, and as I felt that I had, at least in appearances, done him an injury, I took him in my arms and cuddled him, to show him that I was sorry. At first he continued to sulk, but soon, with his changeable temper, he thought of something else, and by his signs made me understand that if I would take him for a walk on land he would perhaps forgive me. The man who was cleaning the deck was willing to throw the plank across for us, and I went off into the fields with my troop.
The time passed, playing with the dogs and chasing Pretty-Heart; when we returned the horses were harnessed and the barge in readiness to start. As soon as we were all on the boat the horses began to trot along the towing path; we glided over the water without feeling a movement, and the only sound to be heard was the song of the birds, the swish of the water against the boat, and the tinkle of bells around the horses' necks.
Here and there the water seemed quite black, as though it was of great depth; in other parts it was as clear as crystal and we could see the shiny pebbles and velvety grass below.
I was gazing down into the water when I heard some one call my name. It was Arthur. He was being carried out on his board.
"Did you sleep well?" he asked, "better than in the field?"
I told him that I had, after I had politely spoken to Mrs. Milligan.
"And the dogs?" asked Arthur.
I called to them; they came running up with Pretty-Heart; the latter making grimaces as he usually did when he thought that we were going to give a performance.
Mrs. Milligan had placed her son in the shade and had taken a seat beside him.
"Now," she said to me, "you must take the dogs and the monkey away; we are going to work."
I went with the animals to the front of the boat.
What work could that poor little boy do?
I looked round and saw that his mother was making him repeat a lesson from a book she held in her hand. He seemed to be having great difficulty in mastering it, but his mother was very patient.
"No," she said at last, "Arthur, you don't know it, at all."
"I can't, Mamma, I just can't," he said, plaintively. "I'm sick."
"Your head is not sick. I can't allow you to grow up in utter ignorance because you're an invalid, Arthur."
That seemed very severe to me, yet she spoke in a sweet, kind way.
"Why do you make me so unhappy? You know how I feel when you won't learn."
"I cannot, Mamma; I cannot." And he began to cry.
But Mrs. Milligan did not let herself be won over by his tears, although she appeared touched and even more unhappy.
"I would have liked to have let you play this morning with Remi and the dogs," she said, "but you cannot play until you know your lessons perfectly." With that she gave the book to Arthur and walked away, leaving him alone.
From where I stood I could hear him crying. How could his mother, who appeared to love him so much, be so severe with the poor little fellow. A moment later she returned.
"Shall we try again?" she asked gently.
She sat down beside him and, taking the book, she began to read the fable called "The Wolf and the Sheep." She read it through three times, then gave the book back to Arthur and told him to learn it alone. She went inside the boat.
I could see Arthur's lips moving. He certainly was trying very hard. But soon he took his eyes off the book; his lips stopped moving. His look wandered everywhere, but not back to his book. Suddenly he caught my eye; I made a sign to him to go on with his lesson. He smiled, as though to thank me for reminding him, and again fixed his eyes on his book. But as before, he could not concentrate his thoughts; his eyes began to rove from first one side of the canal to the other. Just then a bird flew over the boat, swiftly as an arrow. Arthur raised his head to follow its flight. When it had passed he looked at me.
"I can't learn this," he said, "and yet I want to."
I went over to him.
"It is not very difficult," I said.
"Yes, it is, it's awfully difficult."
"It seems to me quite easy. I was listening while your mother read it, and I almost learned it myself."
He smiled as though he did not believe it.
"Do you want me to say it to you?"
"You can't."
"Shall I try? You take the book."
He took up the book again, and I began to recite the verse. I had it almost perfect.
"What! you know it?"
"Not quite, but next time I could say it without a mistake, I believe."
"How did you learn it?"
"I listened while your mother read it, but I listened attentively without looking about to see what was going on round about me."
He reddened, and turned away his eyes.
"I will try, like you," he said, "but tell me, what did you do to remember the words?"
I did not quite know how to explain, but I tried my best.
"What is the fable about?" I said. "Sheep. Well, first of all, I thought of sheep; the sheep were in a field. I could see them lying down and sleeping in the field; picturing them so, I did not forget."
"Yes, yes," he said, "I can see them, black and white ones! in a green field."
"What looks after the sheep usually?"
"Dogs."
"And?..."
"A shepherd."
"If they thought the sheep were quite safe, what did they do?"
"The dog slept while the shepherd played his flute in the distance with the other shepherds."
Little by little Arthur had the entire fable pictured in his mind's eye. I explained every detail, as well as I was able. When he was thoroughly interested we went over the lines together and at the end of half an hour he had mastered it.
"Oh, how pleased mamma will be!" he cried.
When his mother came out she seemed displeased that we were together. She thought that we had been playing, but Arthur did not give her time to say a word.
"I know it!" he cried. "Remi has taught it to me."
Mrs. Milligan looked at me in surprise, but before she could say a word Arthur had commenced to recite the fable. I looked at Mrs. Milligan: her beautiful face broke into a smile; then I thought I saw tears in her eyes, but she bent her head quickly over her son and put her arms about him. I was not sure if she was crying.
"The words mean nothing," said Arthur; "they are stupid, but the things that one sees! Remi made me see the shepherd with his flute, and the fields, and the dogs, and the sheep, then the wolves, and I could even hear the music that the shepherd was playing. Shall I sing the song to you, Mamma?"
And he sang a little sad song in English.
This time Mrs. Milligan did really cry, for when she got up from her seat, I saw that Arthur's cheeks were wet with her tears. Then she came to me and, taking my hand in hers, pressed it gently.
"You are a good boy," she said.
The evening before I had been a little tramp, who had come on the barge with his animals to amuse a sick child, but this lesson drew me apart from the dogs and the monkey. I was, from now, a companion, almost a friend, to the sick boy.
From that day there was a change in Mrs. Milligan's manner toward me, and between Arthur and myself there grew a strong friendship. I never once felt the difference in our positions; this may have been due to Mrs. Milligan's kindness, for she often spoke to me as though I were her child.
When the country was interesting we would go very slowly, but if the landscape was dreary, the horses would trot quickly along the towing path. When the sun went down the barge stopped; when the sun rose the barge started on again.
If the evenings were damp we went into the little cabin and sat round a bright fire, so that the sick boy should not feel chilly, and Mrs. Milligan would read to us and show us pictures and tell us beautiful stories.
Then, when the evenings were beautiful, I did my part. I would take my harp and when the boat had stopped I would get off and go at a short distance and sit behind a tree. Then, hidden by the branches, I played and sang my best. On calm nights Arthur liked to hear the music without being able to see who played. And when I played his favorite airs he would call out "Encore," and I would play the piece over again.
That was a beautiful life for the country boy, who had sat by Mother Barberin's fireside, and who had tramped the high roads with Signor Vitalis. What a difference between the dish of boiled potatoes that my poor foster mother had given me and the delicious tarts, jellies, and creams that Mrs. Milligan's cook made! What a contrast between the long tramps in the mud, the pouring rain, the scorching sun, trudging behind Vitalis, ... and this ride on the beautiful barge!
The pastry was delicious, and yes, it was fine, oh, so fine not to be hungry, nor tired, nor too hot, nor too cold, but in justice to myself, I must say that it was the kindness and love of this lady and this little boy that I felt the most. Twice I had been torn from those I loved, ... first from dear Mother Barberin, and then from Vitalis. I was left with only the dogs and the monkey, hungry and footsore, and then a beautiful lady, with a child of about my own age, had taken me in and treated me as though I were a brother.
Often, as I looked at Arthur strapped to his bench, pale and drawn, I envied him, I, so full of health and strength, envied the little sick boy. It was not the luxuries that surrounded him that I envied, not the boat. It was his mother. Oh, how I wanted a mother of my own! She kissed him, and he was able to put his arms around her whenever he wished,-this lady whose hand I scarcely dared touch when she held it out to me. And I thought sadly that I should never have a mother who would kiss me and whom I could kiss. Perhaps one day I should see Mother Barberin again, and that would make me very happy, but I could not call her mother now, for she was not my mother....
I was alone.... I should always be alone.... Nobody's boy.
I was old enough to know that one should not expect to have too much from this world, and I thought that, as I had no family, no father or mother, I should be thankful that I had friends. And I was happy, so happy on that barge. But, alas! it was not to last long. The day was drawing near for me to take up my old life again.