CHƯƠNG XXX

VƯỢT NGỤC

Tôi không được tha bổng, bởi quan tòa còn đang chờ bắt giữ gã đàn ông đã cùng đứa trẻ lén lút đột nhập vào nhà thờ. Chỉ đến lúc đó, họ mới có thể đối chất xem tôi có phải là đồng phạm của gã hay không. Phía công tố viên cho biết họ đang ráo riết bám theo dấu vết của thủ phạm, và ý nghĩ phải đứng chung bục bị cáo tại Tòa Đại hình bên cạnh gã khiến tôi cảm thấy nhục nhã và đau đớn tột cùng.

Tối hôm ấy, khi bóng chiều vừa nhá nhem, tôi chợt nghe thấy tiếng kèn cornet trong trẻo vang lên. Là Mattia! Mattia vô cùng quý giá của tôi! Cậu ấy muốn báo tin rằng mình đang ở ngay gần đây và vẫn luôn ngóng trông tôi. Rõ ràng cậu ấy đang đứng trên con phố khuất sau bức tường đối diện ô cửa sổ phòng giam này. Tiếng bước chân xáo xác xen lẫn tiếng rì rầm huyên náo vọng lại. Chắc hẳn Mattia và Bob đang biểu diễn.

Đột nhiên, một giọng nói dõng dạc vang lên bằng tiếng Pháp, xé toạc không gian: "Ngày mai, vào lúc rạng sáng!" Ngay lập tức, tiếng kèn cornet của Mattia rúc lên những nốt cao vút, lấn át mọi âm thanh.

Chẳng cần phải quá tinh ý cũng hiểu được rằng, Mattia không đời nào nói tiếng Pháp với đám đông khán giả người Anh. Dù chưa mường tượng ra ý nghĩa thực sự của lời nhắn ấy, nhưng tôi biết chắc mình phải nín thở chờ đợi vào lúc rạng sáng ngày mai. Vừa khi trời sập tối, tôi thả mình lên chiếc võng, trằn trọc mãi mới chợp mắt được đôi chút dù cơ thể đã rã rời. Cuối cùng, cơn mệt mỏi cũng kéo tôi vào giấc ngủ. Lúc tôi bừng tỉnh, bóng tối vẫn còn đặc quánh. Hàng vạn vì sao lấp lánh trên vòm trời đêm, và không gian chìm trong một sự tĩnh lặng đến gai người. Tiếng chuông đồng hồ vọng lại điểm ba giờ sáng. Tôi thầm đếm từng giờ, từng mười lăm phút nặng nề trôi qua. Tựa lưng vào bờ tường lạnh lẽo, tôi dán chặt mắt vào ô cửa sổ nhỏ, lặng ngắm những vì sao đang dần lụi tắt. Phía xa xa, tiếng gà gáy eo óc cất lên. Rạng sáng đã đến.

Tôi khẽ khàng đẩy cánh cửa sổ. Tôi đang chờ đợi phép màu gì cơ chứ? Chấn song sắt lạnh lẽo vẫn sừng sững ở đó, và bức tường cao ngất nghểu vẫn chắn ngang tầm mắt. Làm sao tôi có thể thoát ra ngoài, vậy mà dù biết suy nghĩ ấy thật viển vông, trái tim tôi vẫn cồn cào khao khát tự do. Gió sương buổi sớm ùa vào làm tôi run lên bần bật, nhưng tôi vẫn cố bám trụ bên bậu cửa, trân trân nhìn ra khoảng không vô định, dỏng tai nghe ngóng những âm thanh mơ hồ. Một đám mây trắng lớn bồng bềnh lướt qua bầu trời. Bình minh đã rạng. Tim tôi đập thình thịch liên hồi. Rồi tôi sững người khi nghe thấy tiếng cào xước nhè nhẹ trên mặt tường, dù chẳng hề có tiếng bước chân nào cất lên. Tôi nín thở lắng nghe. Tiếng cào vẫn kiên nhẫn tiếp tục. Đột nhiên, một cái đầu nhô lên khỏi gờ tường. Dưới ánh sáng mờ ảo của buổi ban mai, tôi nhận ra đó là Bob.

Cậu ấy thấy tôi đang tì sát mặt vào song sắt.

"Khẽ thôi!" cậu ấy thì thào.

Bob ra hiệu bảo tôi lùi lại khỏi ô cửa. Dù trong lòng đầy thắc mắc, tôi vẫn ngoan ngoãn làm theo. Cậu ấy đưa một chiếc ống nhỏ lên miệng rồi thổi mạnh. Một vật thể nhỏ xíu xé gió bay vút qua những chấn song, rơi đánh "tạch" ngay dưới chân tôi. Cái đầu của Bob lập tức lặn mất tăm.

Tôi vồ lấy vật vừa rớt xuống. Đó là một mẩu giấy lụa được vo tròn lại, bé tẹo như một hạt đậu. Trời còn quá tối để có thể đọc được những dòng chữ viết bên trong, nên tôi đành thấp thỏm đợi đến khi trời sáng rõ. Tôi thận trọng khép cửa sổ lại, cuộn mình vào võng, tay nắm chặt lấy mẩu giấy nhỏ xíu như nắm lấy chính sinh mệnh của mình. Sao mà bình minh đến muộn màng thế này! Cuối cùng, tôi cũng có thể dán mắt vào những dòng chữ nguệch ngoạc:

"Ngày mai cậu sẽ bị áp giải trên tàu hỏa đến nhà tù quận. Một viên cảnh sát sẽ ngồi cùng khoang với cậu. Hãy ngồi sát cánh cửa mà cậu bước vào. Sau bốn mươi phút (hãy đếm cẩn thận nhé), đoàn tàu sẽ giảm tốc độ khi đến gần một ngã ba; lúc đó hãy mở cửa và nhảy ra ngoài. Cứ leo lên ngọn đồi nhỏ bên trái. Chúng mình sẽ đợi ở đó. Hãy giữ vững lòng can đảm; quan trọng nhất là phải lao thật mạnh về phía trước và tiếp đất bằng chân."

Được cứu rồi! Tôi sẽ không phải ra hầu tòa tại Tòa Đại hình nữa! Mattia tuyệt vời quá, Bob yêu quý của tôi ơi! Thật may mắn khi có Bob sát cánh cùng Mattia, bởi nếu chỉ có một mình, cậu bạn nhỏ bé đáng thương của tôi chẳng thể nào xoay xở nổi kế hoạch liều lĩnh này.

Tôi đọc đi đọc lại mẩu giấy không biết bao nhiêu lần. Bốn mươi phút sau khi tàu chuyển bánh.... Ngọn đồi bên trái.... Nhảy ra khỏi một chuyến tàu đang chạy là chuyện vô cùng mạo hiểm, nhưng ngay cả khi có thể phải đánh đổi bằng cả mạng sống, tôi vẫn sẽ làm. Thà chết còn hơn phải mang bản án của một tên trộm bẩn thỉu.

Nhưng... liệu các cậu ấy có tính đến chuyện cứu Capi không nhỉ?

Sau khi ngấu nghiến từng dòng chữ lần cuối, tôi cho mẩu giấy vào miệng, nhai nát tươm thành một đống bã.

Buổi chiều ngày hôm sau, một viên cảnh sát bước vào xà lim và áp giải tôi đi. Đó là một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi. Trong lòng tôi khấp khởi mừng thầm khi nhận ra bộ dạng ông ta có vẻ khá nặng nề, chậm chạp.

Mọi chuyện diễn ra đúng y như những gì Bob đã dự tính. Đoàn tàu bắt đầu xình xịch lăn bánh. Tôi chủ động chọn ngay vị trí sát cánh cửa mà mình vừa bước lên. Viên cảnh sát ngồi chễm chệ ở phía đối diện. Cả khoang tàu lúc bấy giờ chỉ có hai người chúng tôi.

"Cậu có nói được tiếng Anh không?" viên cảnh sát cất giọng.

"Cháu có thể hiểu nếu ông không nói quá nhanh," tôi từ tốn đáp lời.

"Vậy thì nghe này chàng trai, ta muốn cho cậu một lời khuyên nhỏ," ông ta nói, giọng điệu kẻ cả, "đừng dại dột qua mặt luật pháp. Cứ ngoan ngoãn kể hết cho ta nghe sự tình, rồi ta sẽ thưởng cho cậu năm shilling1. Có chút tiền lận lưng thì những ngày tháng trong tù của cậu sẽ dễ thở hơn nhiều đấy."

Tôi toan buột miệng rằng mình chẳng có tội tình gì để thú nhận, nhưng sực nghĩ điều đó chỉ chuốc lấy cơn thịnh nộ của ông ta, nên đành nuốt ngược lời vào trong và giữ thái độ im lặng.

"Cứ suy nghĩ cho kỹ đi," ông ta lại tiếp tục, "đến khi vào tù, đừng vội hé môi nửa lời với bất kỳ kẻ nào, hãy tìm cách nhắn gọi ta. Tốt nhất là cậu nên có một người bao bọc, chở che, và ta thì luôn sẵn lòng giúp đỡ cậu."

Tôi khẽ gật đầu.

"Nhớ tìm gọi Dolphin nhé. Cậu nhớ tên ta chứ?"

"Dạ có, thưa ông."

Tôi vờ tì người vào cánh cửa. Cửa sổ đang mở toang, gió rít từng cơn lùa vào lồng lộng. Cảm thấy gió thổi lạnh buốt, viên cảnh sát bèn nhích dần vào giữa băng ghế để tránh rét. Chớp lấy thời cơ, tay trái tôi khẽ khàng luồn ra ngoài vặn nhẹ tay nắm cửa, trong khi tay phải thì kìm chặt không cho cánh cửa bật ra.

Thời gian nhích từng phút một; bỗng đầu máy xe lửa tuýt còi inh ỏi rồi từ từ hãm tốc. Thời khắc sinh tử đã đến. Tôi dồn hết sức đẩy mạnh cánh cửa bật tung ra, rồi lao mình lao ra ngoài không trung xa nhất có thể. Trong giây phút cận kề hiểm nguy, thật may mắn khi đôi tay vươn về phía trước của tôi đã chạm ngay xuống lớp cỏ mềm. Dẫu vậy, cú va đập kinh hoàng với mặt đất vẫn khiến cơ thể tôi lăn lông lốc nhiều vòng rồi lịm đi.

Khi mơ màng tỉnh lại, cảm giác tròng trành, lắc lư khiến tôi ngỡ mình vẫn đang mắc kẹt trên tàu. Tôi lờ mờ nhận ra cơ thể mình đang bị kéo đi xóc nảy. Khẽ đưa mắt nhìn quanh, tôi phát hiện mình đang nằm chỏng chơ dưới thùng một chiếc xe bò. Thật kỳ lạ! Má tôi chợt ướt sũng. Một chiếc lưỡi mềm mại, ấm nóng đang không ngừng liếm láp trên khuôn mặt tôi. Tôi khẽ cựa mình. Một chú chó lạ hoắc với bộ lông vàng khè đang chồm hai chân lên người tôi. Cùng lúc đó, bóng dáng Mattia quỳ ngay bên cạnh lọt vào tầm mắt.

"Cậu được cứu rồi!" cậu ấy reo lên, vừa nói vừa nhẹ nhàng đẩy chú chó sang một bên.

"Mình đang ở đâu thế này?"

"Cậu đang nằm trên xe bò đấy. Bob đang cầm cương trên kia kìa."

"Sao rồi hả?" Giọng Bob vọng xuống từ băng ghế lái. "Cậu có cử động được tay chân không?"

Nghe lời cậu ấy, tôi thử duỗi người, cử động các khớp xương.

"Tốt lắm," Mattia thở phào; "ơn trời là không bị gãy cái xương nào."

"Đã có chuyện gì xảy ra vậy?"

"Cậu đã nhảy khỏi tàu y như kế hoạch, nhưng cú va đập mạnh đã khiến cậu bất tỉnh nhân sự, rồi lăn tọt luôn xuống dưới mương. Đợi mãi không thấy cậu trồi lên, Bob liền nhảy khỏi xe bò, lén lút trườn xuống tận chân đồi rồi bế thốc cậu mang về. Chúng mình cứ ngỡ là cậu đã mất mạng rồi cơ. Ôi, Remi ơi, cậu có biết là mình đã sợ hãi đến nhường nào không."

Tôi xúc động nắm lấy bàn tay đang run rẩy của bạn, khẽ vuốt ve. "Thế còn viên cảnh sát thì sao?" tôi hỏi.

"Đoàn tàu vẫn cứ thế xình xịch chạy tiếp; nó chẳng thèm dừng lại lấy một nhịp."

Ánh mắt tôi lại đổ dồn vào chú chó lông vàng xấu xí. Nó đang chớp chớp nhìn tôi bằng đôi mắt thân thương y hệt như Capi. Nhưng Capi thì làm gì có bộ lông màu vàng khè thế này....

"Thế chú chó nào đây?" tôi thắc mắc.

Chưa đợi Mattia kịp mở lời, con vật nhỏ xíu đó đã chồm hẳn lên người tôi, mừng rỡ rít lên những tiếng ỉ ôi rồi lại liếm láp lấy để.

"Là Capi của chúng ta đấy! Bọn mình đã nhuộm lông cho nó rồi!" Mattia phá lên cười nắc nẻ.

"Nhuộm lông á? Nhưng tại sao chứ?"

"Để ngụy trang chứ sao! Như thế thì chẳng ai có thể nhận ra nó nữa. Mà này, Bob đang muốn lót lại rơm cho cậu nằm êm ái hơn đấy."

Trong lúc hai người bạn tất bật đệm lót lại chỗ nằm cho tôi, tôi bèn lên tiếng hỏi xem cả nhóm đang đi đâu.

"Bọn mình đang hướng đến Little Hampton2," Mattia đáp, "Anh trai của Bob có một con tàu neo đậu ở đó, đang chuẩn bị vượt biển sang Pháp để vận chuyển bơ và trứng từ vùng Normandy3. Remi à, chúng ta nợ Bob một ân tình quá lớn. Thử nghĩ xem, một đứa vô dụng, nhỏ bé như mình thì làm được nên trò trống gì nếu chỉ đơn độc có một mình? Ngay cả cái kế hoạch để cậu nhảy tàu tẩu thoát cũng là do một tay Bob vạch ra đấy."

"Thế còn Capi? Ai đã bày ra mưu kế giải cứu nó vậy?"

"Là mình. Nhưng chính Bob đã nảy ra sáng kiến nhuộm lông cho Capi để thay hình đổi dạng, đề phòng bị nhận diện sau khi bọn mình cuỗm nó khỏi tay viên cảnh sát Jerry. Lão thẩm phán cứ tấm tắc khen Jerry 'sáng dạ'; nhưng lão ta cũng chẳng sáng dạ đến độ không biết bọn mình đã cuỗm mất Capi ngay dưới mũi lão. Thật ra thì Capi đã đánh hơi thấy mùi của mình và suýt chút nữa đã cắn đứt dây dắt để tự trốn thoát rồi. Phải công nhận Bob quá rành rẽ mấy ngón nghề của bọn trộm chó."

"Thế còn cái chân đau của cậu thì sao rồi?"

"Đỡ nhiều rồi, thậm chí là gần như đã khỏi hẳn. Mà mình cũng làm gì có tâm trí đâu mà bận tâm đến nó nữa kìa."

Màn đêm buông dần. Phía trước chúng tôi vẫn là một chặng đường dài dằng dặc.

"Cậu có sợ không?" Mattia khẽ hỏi, khi thấy tôi cứ nằm im lìm đăm chiêu.

"Không, mình không sợ," tôi đáp, "vì mình tin là họ không thể nào bắt lại được mình đâu. Nhưng mình cứ trăn trở mãi, cuộc chạy trốn này chẳng khác nào một sự ngầm thừa nhận tội lỗi. Điều đó khiến lòng mình nặng trĩu."

"Cả Bob và mình thà làm bất cứ điều gì, còn hơn là phải trơ mắt nhìn cậu đứng trước vành móng ngựa4 của Tòa Đại hình. Dẫu cho cậu có được trắng án đi chăng nữa, thì việc phải trải qua phiên tòa đó cũng đã là một nỗi kinh hoàng rồi."

Đinh ninh rằng ngay khi đoàn tàu dừng bánh, viên cảnh sát sẽ chẳng lãng phí một giây phút nào mà tức tốc bủa vây tìm kiếm tôi, nên chúng tôi ra sức thúc xe chạy nhanh hết mức có thể. Những ngôi làng chúng tôi lướt qua chìm sâu trong sự tĩnh mịch khôn cùng; chỉ còn lác đác vài ô cửa sổ hắt ra ánh đèn hiu hắt. Mattia và tôi nép chặt vào nhau dưới một tấm chăn mỏng tang. Những luồng gió buốt giá đã rít lên từ lúc nào không hay, và mỗi lần liếm môi, chúng tôi đều nếm được vị mằn mặn chan chát. Chúng tôi đang đến rất gần biển. Chẳng mấy chốc, một tia sáng chợt lóe lên phía xa xăm. Đó là ngọn hải đăng. Đột nhiên Bob kìm cương ngựa, nhảy phốc khỏi chiếc xe bò và dặn chúng tôi đứng chờ tại chỗ. Cậu ấy muốn đi trước gặp anh trai để dò hỏi xem liệu có cách nào đưa chúng tôi lên tàu một cách an toàn hay không.

Bob rời đi khá lâu. Chúng tôi không ai nói với ai lời nào. Tiếng sóng biển vỗ rì rào tưởng chừng như ngay sát bên tai. Mattia run bần bật, và tôi cũng chẳng khá hơn là bao.

"Lạnh quá," cậu ấy thì thào.

Nhưng liệu có phải chỉ vì cái lạnh mà chúng tôi run rẩy đến thế? Mỗi khi có một tiếng động khẽ vang lên, như tiếng một con bò hay con cừu ở bãi cỏ bên cạnh quệt vào hàng rào, trái tim chúng tôi lại đập thót lên vì sợ hãi. Rồi có tiếng bước chân vang lên trên mặt đường. Bob đang quay lại. Số phận của tôi sắp được định đoạt. Đi cùng Bob là một người thủy thủ mang dáng vẻ sương gió, khoác chiếc áo đi mưa và đội chiếc mũ vải tẩm dầu.

"Đây là anh trai mình," Bob lên tiếng; "anh ấy sẽ đưa các cậu lên tàu. Chúng ta đành phải chia tay nhau ngay lúc này thôi; tốt nhất là không để bất kỳ ai biết mình đã đưa các cậu đến đây."

Tôi chực mở lời cảm ơn Bob nhưng cậu ấy đã vội vàng ngắt lời. Tôi chỉ biết nắm chặt lấy tay bạn.

"Đừng nói gì thêm nữa," cậu ấy khẽ khàng bảo, "chính hai cậu cũng đã từng cứu mình khỏi rắc rối vào đêm hôm nọ cơ mà. Có qua có lại thôi. Và mình thực sự rất vui vì đã có thể giúp đỡ một người bạn tốt của Mattia."

Chúng tôi lặng lẽ nối gót anh trai Bob, rảo bước dọc theo những con phố vắng vẻ, quanh co uốn lượn cho đến khi ra tới tận bến tàu. Anh ấy đưa tay chỉ về phía một con tàu mà chẳng mảy may hé răng nửa lời. Chỉ vài phút sau, chúng tôi đã đặt chân lên boong. Người thủy thủ dặn chúng tôi đi xuống một khoang hầm nhỏ bé, khuất nẻo bên dưới.

"Hai giờ nữa tàu sẽ nhổ neo," anh ấy dặn dò; "các cậu cứ ở yên trong đó và tuyệt đối đừng gây ra tiếng động nào nhé."

Nhưng lạ thay, giờ đây chúng tôi không còn cảm thấy run rẩy nữa. Trong bóng tối tĩnh mịch của khoang hầm, chúng tôi ngồi kề vai sát cánh, cảm nhận sự an tâm lạ thường.




  1. Đơn vị tiền tệ cũ của Anh. Ở thời điểm đó, năm shilling là một khoản tiền khá lớn đối với một đứa trẻ, đủ để mua được nhiều bữa ăn no. ↩

  2. Tên một thị trấn cảng nằm ở bờ biển phía Nam nước Anh, từ đây các con tàu nhỏ có thể dễ dàng vượt eo biển Manche để sang bờ biển nước Pháp. ↩

  3. Một vùng duyên hải nằm ở phía Tây Bắc nước Pháp, nổi tiếng với những trang trại chăn nuôi bò sữa và các sản phẩm nông nghiệp trứ danh. ↩

  4. Bục dành cho bị cáo đứng trong các phiên tòa, thường được thiết kế uốn cong thành hình bán nguyệt giống như chiếc móng ngựa. ↩