CHƯƠNG X

KHÔNG NHÀ

Tôi lủi thủi quay về quán trọ, cõi lòng trĩu nặng còn khóe mắt vẫn vương màu đỏ hoe. Vừa bước vào sân, tôi đã thấy ngay ông chủ quán đứng đó. Tôi định lẳng lặng đi ngang qua để tìm bầy chó của mình, nhưng ông ta lập tức bước ra cản đường.

"Thế nào, chủ của cậu đâu rồi?" ông ta cất giọng tra hỏi.

"Thầy ấy bị kết án rồi ạ."

"Bao lâu?"

"Hai tháng tù ạ."

"Phạt bao nhiêu?"

"Một trăm franc ạ."

"Hai tháng... một trăm franc," ông ta lẩm bẩm nhẩm tính, lặp đi lặp lại mấy lần.

Tôi toan bước tiếp, nhưng ông ta lại chắn ngang mặt.

"Thế cậu định làm gì trong hai tháng này?"

"Cháu không biết thưa ông."

"Ồ, cậu không biết! Tôi đoán là cậu giắt túi chút tiền để tự lo thân và mua đồ ăn cho đám thú kia chứ?"

"Dạ không thưa ông."

"Thế cậu tính ăn vạ ở đây để tôi nuôi chắc?"

"Dạ không thưa ông, cháu không trông chờ vào ai cả."

Đó là sự thật cay đắng. Ngay lúc này, tôi chẳng còn ai trên đời để mà bấu víu.

"Chủ của cậu đã nợ tôi một khoản tiền lớn rồi," ông ta ráo hoảnh nói tiếp. "Tôi không thể chứa chấp cậu ròng rã hai tháng trời mà chẳng biết lấy gì để thu hồi vốn. Cậu phải đi khỏi đây."

"Đi ư! Cháu biết đi đâu bây giờ thưa ông?"

"Đó không phải việc của tôi. Tôi chẳng có họ hàng thân thích gì với cậu cả. Tại sao tôi phải cưu mang cậu?"

Trong phút chốc, tôi chết sững. Người đàn ông này nói đúng. Ông ấy chẳng có lý do gì để dang tay che chở cho tôi.

"Nào, lùa cả lũ chó và con khỉ của cậu cút khỏi đây đi! Dĩ nhiên, cậu phải để túi đồ của chủ cậu lại làm tài sản thế chấp. Khi nào ông ấy mãn hạn tù, ông ấy sẽ đến đây chuộc, và lúc đó ta sẽ tính toán tiền bạc sòng phẳng."

Một tia hy vọng chợt lóe lên trong đầu tôi.

"Vì ông biết chắc thầy ấy sẽ thanh toán hóa đơn khi quay lại, vậy ông có thể cho cháu ở nhờ đến lúc đó, và tính gộp luôn phần chi phí ăn ở của cháu vào được không ạ?"

"Á à! Chủ của cậu có thể xoay xở đủ tiền trọ cho hai ngày, nhưng hai tháng lại là chuyện hoàn toàn khác!"

"Cháu sẽ ăn thật ít, ông cho bao nhiêu cháu ăn bấy nhiêu."

"Còn cả lũ chó với con khỉ của cậu nữa chứ! Không nói nhiều, đi ngay đi! Ra mấy ngôi làng ngoài kia mà kiếm ăn, cậu sẽ tự lo được thôi."

"Nhưng thưa ông, làm sao chủ cháu tìm được cháu khi thầy ấy ra tù? Thầy ấy chắc chắn sẽ quay lại đây tìm."

"Thì đến ngày đó, cậu cứ việc mò về đây."

"Thế nhỡ thầy ấy viết thư cho cháu thì sao?"

"Tôi sẽ giữ bức thư đó lại."

"Nhưng nếu cháu không hồi âm thì thầy ấy..."

"Thôi, câm miệng lại. Nhanh cái chân lên và cút ra ngoài! Tôi cho cậu đúng năm phút. Nếu tôi quay ra mà vẫn thấy cậu lảng vảng ở đây, tôi sẽ lôi cổ cậu đi báo cảnh sát đấy."

Tôi thừa hiểu có quỳ xuống van xin ông ta lúc này cũng hoài công. Tôi chỉ còn một con đường duy nhất là "đi khỏi đây". Tôi lầm lũi bước về phía chuồng ngựa, gọi mấy chú chó và Pretty-Heart lại, cẩn thận vác cây đàn hạc lên vai, rồi gạt nước mắt rời khỏi quán trọ.

Tôi rảo bước thật nhanh để thoát khỏi thị trấn, trong lòng phấp phỏng nỗi lo vì mấy chú chó không hề được đeo rọ mõm. Nhỡ chạm trán cảnh sát, tôi biết lấy cớ gì để phân trần? Rằng tôi cạn kiệt tiền bạc ư? Chẳng sai chút nào; cả gia tài của tôi chỉ vỏn vẹn mười một xu. Chừng ấy tiền làm sao sắm nổi rọ mõm cho chúng. Cảnh sát dư sức tống giam tôi. Nếu cả thầy Vitalis và tôi đều vướng vòng lao lý, bầy thú tội nghiệp này biết bấu víu vào đâu? Hơn bao giờ hết, tôi cảm nhận sức nặng của trách nhiệm đang đè trĩu lên đôi vai gầy gò của mình.

Càng bước đi vội vã, tôi càng thấy bầy chó ngước lên nhìn mình bằng ánh mắt tha thiết, một ánh mắt mà tôi dư sức hiểu được. Chúng đang réo rắt cơn đói. Pretty-Heart, chú khỉ tôi đang cõng trên lưng, thỉnh thoảng lại đưa tay giật nhẹ tai tôi để thu hút sự chú ý. Rồi cậu chà chà tay lên bụng với điệu bộ thảm thiết chẳng kém gì ánh mắt của bầy chó. Khổ nỗi, chính tôi cũng đang cồn cào gan ruột. Chúng tôi đã bỏ bụng được chút gì từ sáng đâu. Mười một xu ít ỏi chẳng thể nào cáng đáng nổi cả hai bữa trưa và tối. Thế nên, chúng tôi đành ngậm ngùi chắt bóp lại thành một bữa duy nhất; và nếu ăn vào ban trưa, bữa ăn ấy sẽ phải làm nhiệm vụ lấp đầy dạ dày cho cả một ngày dài.

Tôi cứ thế mải miết đi vô định. Chẳng màng bận tâm bước chân sẽ đưa mình về đâu; đi đâu cũng được, bởi vùng đất này với tôi vẫn chỉ là một khoảng trống vô hình. Chuyện tìm chỗ ngả lưng chẳng khiến tôi bận tâm mảy may; cùng lắm thì màn trời chiếu đất.... Nhưng còn thức ăn, đào đâu ra thức ăn bây giờ!

Chắc mẩm chúng tôi đã rã rời lết bộ suốt hai tiếng đồng hồ trước khi tôi dám dừng chân, vậy mà bầy chó vẫn không ngừng chĩa ánh mắt van lơn về phía tôi, còn Pretty-Heart thì cứ kéo tai rồi xoa bụng liên hồi. Đến lúc này, tôi mới thấy yên tâm là mình đã bỏ lại thị trấn đủ xa để không còn phải nơm nớp lo sợ chuyện gì nữa. Tôi đẩy cửa bước vào tiệm bánh đầu tiên vừa đập vào mắt. Tôi ngập ngừng hỏi mua một pound1 rưỡi bánh mì.

"Cậu nên lấy hẳn ổ hai pound thì hơn," người phụ nữ khuyên nhủ. "Nhiêu đó nhằm nhò gì với cả một gánh xiếc thú của cậu. Cậu phải để mấy con chó tội nghiệp này được ăn no chứ."

Ồ không, với gánh xiếc của tôi thì đúng là chẳng bõ bèn gì, nhưng với cái túi tiền lép kẹp của tôi thì lại là cả một gia tài. Bánh mì có giá năm xu một pound; hai pound sẽ ngốn bay mười xu. Tôi thầm nghĩ không thể vung tay quá trán trước khi biết ngày mai cả bọn sẽ sống bằng gì. Tôi điềm tĩnh từ chối ý tốt của bà chủ, nhẹ nhàng nói rằng một pound rưỡi là đã đủ và lịch sự nhờ bà đừng cắt thêm. Vừa bước ra khỏi tiệm, tôi vừa ôm khư khư ổ bánh mì trong tay như thể ôm một báu vật. Mấy chú chó mừng rỡ nhảy cẫng lên quấn lấy chân tôi. Pretty-Heart phấn khích giật giật tóc tôi, miệng ré lên từng hồi the thé.

Chúng tôi không đi xa thêm nữa. Chọn ngay cái cây đầu tiên bên đường, tôi dựng cây đàn hạc vào gốc rễ sần sùi rồi thả mình xuống vạt cỏ xanh. Bầy chó lập tức ngồi quây thành vòng tròn đối diện, Capi chễm chệ ở giữa, Dulcie nép một bên, còn Zerbino canh chừng bên kia. Pretty-Heart, chẳng bao giờ biết mỏi mệt là gì, đứng chầu chực với tư thế sẵn sàng chộp lấy miếng bánh đầu tiên rơi xuống. Việc chia phần ăn lúc này quả là một bài toán hóc búa. Tôi cẩn thận xé ổ bánh ra làm năm phần, cố gắng đong đếm sao cho công bằng nhất có thể, rồi từ tốn phân phát từng lát. Tôi lần lượt chuyền tay cho mỗi con một mẩu bánh, hệt như một tay chia bài lão luyện. Pretty-Heart, với cái dạ dày bé xíu, hiển nhiên chiếm trọn ưu thế, bởi cậu đã no căng trong khi chúng tôi vẫn đang thòm thèm. Tôi bèn bớt lại ba miếng nhỏ từ phần của cậu, giấu nhẹm vào túi để lát nữa dặm thêm cho bầy chó. Sau cùng, vì vẫn còn dư một mẩu tí hon, tôi bẻ vụn ra chia đều cho cả bọn; coi như đó là chút lộc tráng miệng.

Bữa ăn đạm bạc kết thúc, tôi chợt thấy đã đến lúc cần phải giãi bày vài lời với những người bạn đồng hành của mình. Dù mang danh là trưởng nhóm, tôi chưa bao giờ xem mình là kẻ bề trên, đến mức tự gánh vác mọi chuyện mà gạt chúng ra ngoài tình cảnh bi đát của cả đoàn lúc này.

Có vẻ Capi đã linh cảm được tâm tư của tôi, cậu ngồi ngoan ngoãn, đôi mắt to tròn, lanh lợi chăm chăm nhìn thẳng vào mặt tôi.

"Nghe này, Capi," tôi hắng giọng, "và cả cậu nữa, Dulcie, Zerbino cùng Pretty-Heart, những người bạn đồng cam cộng khổ của mình, mình có một tin sét đánh cho các cậu đây. Chúng ta sẽ không được gặp lại thầy trong hai tháng tròn trĩnh."

"Gâu!" Capi sủa lên một tiếng sắc lẹm.

"Đó là một tai họa giáng xuống đầu thầy và cũng là một thảm họa với chúng ta. Lâu nay mọi việc lớn nhỏ đều do một tay thầy lo liệu, giờ thầy đi vắng rồi, chúng ta chẳng đào đâu ra nổi một đồng cắc cắn đôi."

Vừa nghe đến chữ "tiền", thứ ngôn ngữ mà cậu am hiểu đến tường tận, Capi lập tức đứng bật dậy bằng hai chân sau, cuống cuồng chạy vòng quanh như thể đang đi vòng vo thu tiền boa từ "quý vị khán giả kính mến".

"Mình biết thừa cậu đang nóng lòng muốn trổ tài biểu diễn rồi, Capi," tôi bật cười gượng gạo; "đó quả là một sáng kiến không tồi, nhưng liệu chúng ta có kiếm chác được gì không? Đấy mới là vấn đề nan giải. Cả gia tài chúng ta giờ chỉ còn đúng ba xu rách, thế nên các cậu buộc phải quen với cái bụng réo rắt thôi. Mọi người phải ngoan ngoãn và nghe lời; có thế mọi chuyện mới dễ thở hơn cho chúng ta. Capi, Dulcie, Zerbino và cả Pretty-Heart nữa, các cậu phải dốc sức giúp đỡ mình hết khả năng nhé. Mình muốn được tin tưởng rằng mình luôn có các cậu kề vai sát cánh."

Tôi không dám vỗ ngực tự xưng rằng chúng hiểu rành rọt từng câu từng chữ tôi thốt ra, nhưng ít nhất chúng cũng cảm nhận được tinh thần cốt lõi. Sự vắng mặt đột ngột của thầy đủ để chúng ngầm hiểu một biến cố tồi tệ vừa xảy ra, và chúng đang nóng lòng chờ đợi một lời giải thích từ tôi. Nếu không tường tận mọi lẽ, thì chí ít chúng cũng được an ủi khi biết rằng tôi vẫn một lòng quan tâm đến chúng, và chúng đã đáp lại tấm chân tình đó bằng sự tập trung cao độ dành cho tôi.

Tập trung ư? Vâng, đó chỉ là lời khen dành riêng cho bầy chó. Pretty-Heart vốn dĩ chẳng thể ngồi yên quá nửa nén nhang. Cậu ta không tài nào dồn tâm trí vào một chuyện gì quá nổi một phút đồng hồ. Ban đầu lúc tôi cất lời, cậu cũng vểnh tai lắng nghe với dáng vẻ cực kỳ nghiêm túc, nhưng khi tôi còn chưa dứt câu thứ hai mươi, cậu đã phi thân lên cái cây có những tán lá vươn sà qua đầu chúng tôi, và giờ đang hồn nhiên đu mình qua lại giữa các cành. Nếu kẻ dám bỡn cợt tôi là Capi, chắc chắn lòng tự tôn của tôi sẽ bị giáng một đòn đau điếng; nhưng với Pretty-Heart, tôi chẳng còn lạ gì với những trò xốc nổi của cậu. Cậu ta đích thị là một đứa trẻ to xác, nông cạn đến mức đáng yêu. Mà ngẫm cho cùng, chuyện cậu thèm được bay nhảy tự do âu cũng là lẽ thường tình. Thú thật, chính tôi cũng thèm khát được như thế. Tôi cũng muốn vứt bỏ mọi phiền muộn mà leo tót lên cái cây đó chơi đùa cho thỏa thích, nhưng gánh nặng trách nhiệm và uy nghiêm của một vị thủ lĩnh bất đắc dĩ không cho phép tôi được buông thả bản thân vào những thú vui tầm thường đến vậy.

Nghỉ ngơi đôi chút, tôi ra hiệu cho cả đoàn tiếp tục lên đường. Trước mắt, chúng tôi cần tìm một nơi ngả lưng qua đêm và kiếm vài đồng xu lẻ lót dạ cho ngày mai. Đi bộ chừng một giờ, hình dáng một ngôi làng thấp thoáng hiện ra phía xa. Tôi vội vã chấn chỉnh lại đội hình, rồi cả bọn hiên ngang tiến vào làng với dáng vẻ trang nghiêm nhất có thể. Khổ nỗi, chúng tôi chẳng có tiếng sáo du dương, cũng thiếu hẳn phong thái uy nghi, lẫm liệt của thầy Vitalis. Ngày trước, hệt như một vị nhạc trưởng tài ba, thầy luôn biết cách thu hút trọn vẹn ánh nhìn của đám đông. Còn tôi, tôi chẳng có chiều cao lý tưởng, cũng chẳng sở hữu gương mặt khôi ngô nào. Ngược lại, tôi chỉ là một thằng nhóc nhỏ thó, gầy nhom và hẳn là đang mang một bộ dạng vô cùng lo âu. Vừa bước đi, tôi vừa thấp thỏm liếc ngang liếc dọc để xem màn ra mắt của chúng tôi có gây được chút ấn tượng nào không. Đáng buồn thay, chẳng có mấy tác dụng. Tuyệt nhiên không một ai bước theo gót chúng tôi. Về đến một quảng trường nhỏ, nơi có đài phun nước rợp bóng cây xanh mát, tôi lấy chiếc đàn hạc ra và gảy lên một khúc luân vũ. Dẫu điệu nhạc rộn rã, dẫu đôi tay ngoan ngoãn lướt êm trên cung đàn, thì tận sâu thẳm, trái tim tôi vẫn trĩu nặng một nỗi buồn khó tả.

Tôi khẽ ra lệnh cho Zerbino và Dulcie nhảy múa cùng nhau. Vốn ngoan ngoãn, hai đứa lập tức xoay tròn những bước khiêu vũ vô cùng đúng nhịp. Thế nhưng, chẳng một ai buồn nhọc công bước tới xem màn trình diễn của chúng tôi, dẫu thấp thoáng sau các khung cửa, tôi vẫn thấy bóng dáng mấy người phụ nữ đang vừa đan lát vừa rôm rả trò chuyện. Tôi vẫn kiên nhẫn gảy đàn, còn Zerbino và Dulcie thì miệt mài nhảy múa. Tôi thầm nhủ, biết đâu đấy, chỉ cần một người chịu bước tới, rồi người thứ hai sẽ tò mò đi theo, và chẳng mấy chốc sẽ có một đám đông vây quanh.

Cứ thế, tôi mải miết dạo nhạc, còn hai chú chó cứ xoay tít vòng. Vậy mà mấy người phụ nữ bên khung cửa kia thậm chí còn chẳng thèm ném cho chúng tôi một ánh nhìn. Thật sự nản lòng vô cùng. Dẫu vậy, tôi dặn lòng phải kiên cường bám trụ. Tôi vắt cạn sức lực vào khúc nhạc, khiến những sợi dây đàn rung lên bần bật, tưởng chừng như sắp đứt tung. Chợt, một cậu nhóc mới chập chững biết đi từ tốn lạch bạch bước ra khỏi nhà, tiến thẳng về phía chúng tôi. Mẹ cậu bé chắc chắn sẽ hớt hải chạy theo sau, rồi thể nào cũng kéo theo cô bạn hàng xóm, thế là chúng tôi sẽ có khán giả, và có cả tiền nữa!

Thấy thế, tôi gảy đàn êm dịu lại để tránh làm đứa nhỏ giật mình, cũng là một cách dụ cậu bé đến gần hơn. Với đôi tay bé xíu vươn dài về phía trước, bước thấp bước cao chệnh choạng hết chân này đến chân kia, cậu nhóc chầm chậm tiến tới. Chỉ dăm ba bước nữa thôi là cậu sẽ sà vào lòng chúng tôi. Nhưng đúng lúc ấy, người mẹ đưa mắt ngoái tìm. Cô tinh ý nhận ra con mình ngay tức khắc. Song, thay vì chạy lại bế con như tôi mường tượng, cô lại cất tiếng gọi giật ngược. Nghe tiếng mẹ, đứa bé ngoan ngoãn quay ngoắt người, lững thững đi về. Chắc hẳn những người ở vùng này chẳng mặn mà gì với nhạc khiêu vũ, rất có thể là như thế.

Tôi ra hiệu cho Zerbino và Dulcie nằm nghỉ, rồi tự mình cất giọng hát khúc canzonetta2 quen thuộc. Có lẽ chưa bao giờ trong đời, tôi lại khao khát làm vui lòng khán giả đến nhường này.

Vừa dứt câu thứ hai, tôi chợt thấy một người đàn ông khoác chiếc áo lửng đang sải bước cộc lốc tiến về phía mình. Ơn trời, cuối cùng cũng có người đoái hoài! Tôi dốc bầu tâm huyết hát hăng say hơn nữa.

"Này, mày làm trò gì ở đây thế hả, cái thằng ranh con kia?" ông ta quát lớn.

Lời nạt nộ làm tôi điếng người, vội ngưng bặt tiếng hát. Tôi há hốc mồm, chết trân nhìn ông ta hầm hầm bước tới.

"Tao hỏi mày đang làm gì ở đây?"

"Dạ... cháu đang hát ạ, thưa ông."

"Thế mày có giấy phép được phép ca hát ở quảng trường làng này không hả?"

"Dạ... thưa ông, cháu không có ạ."

"Vậy thì cút ngay! Nếu không tao sẽ gọi người đến tóm cổ mày nhốt lại!"

"Nhưng... thưa ông..."

"Cút ngay cho khuất mắt tao, đồ ăn mày nhãi nhép!"

Bài học đắt giá từ người thầy tội nghiệp vẫn còn in hằn trong tâm trí, nhắc nhở tôi về hậu quả khôn lường nếu dám chống đối lại nhà chức trách. Chẳng đợi ông ta phải gầm lên lần thứ hai, tôi co giò lỉnh đi ngay tức khắc.

Ăn mày ư! Thật bất công quá đỗi. Tôi đâu có ngửa tay xin xỏ ai, tôi mang lời ca tiếng hát ra để kiếm sống kia mà. Chẳng đầy năm phút sau, tôi đã bỏ lại ngôi làng thiếu tình người nhưng lại dư thừa luật lệ ấy lùi sâu vào dĩ vãng. Mấy chú chó cun cút bám theo sau gót, đầu rũ rượi cúi gằm, chiếc đuôi thì cụp chặt giữa hai chân. Dường như chúng lờ mờ đoán được một đám mây xui xẻo vừa ập xuống đầu cả bọn. Chốc chốc, Capi lại chạy lên dẫn trước rồi ngoái đầu dùng ánh mắt tinh anh dò xét nét mặt tôi. Nếu là một ai khác, ắt hẳn đã dồn dập chất vấn, nhưng Capi vốn dĩ quá đỗi ngoan ngoãn, chẳng bao giờ cậu tọc mạch một lời. Tôi thầm thấy bờ môi cậu run rẩy, như đang cố nuốt ngược lại những lời phản kháng đầy bất bình.

Đợi đến lúc bóng dáng ngôi làng đã khuất hẳn tầm mắt, tôi mới ra hiệu cho cả bọn dừng chân. Ba chú chó ngoan ngoãn quây thành một vòng tròn quanh chủ, để Capi đứng giữa, đôi mắt thao láo nhìn tôi chờ đợi.

"Tại mình không có giấy phép biểu diễn nên họ mới nhẫn tâm đuổi đi đấy," tôi phân trần.

"Rồi sao nữa?" Capi nghiêng đầu, ánh mắt ánh lên vẻ thắc mắc.

"Thì nghĩa là đêm nay tụi mình phải ngủ lang ngoài trời, và bụng thì rỗng tuếch vì chẳng có bữa tối nào cả."

Vừa nghe đến hai chữ "bữa tối", một tràng sủa ầm ĩ lập tức rộ lên. Tôi khẽ thở dài, xoè nốt ba đồng xu lẻ hoi lóp ra cho chúng xem.

"Các cậu thấy đấy, gia tài của chúng ta chỉ vỏn vẹn chừng này thôi. Nếu vung tay tiêu sạch ba đồng xu này vào tối nay, ngày mai lấy gì lấp đầy dạ dày vào bữa sáng? Dù sao hôm nay tụi mình cũng đã lót dạ chút đỉnh rồi, nên tốt nhất là cắn răng chịu đựng, cất kỹ số tiền này phòng thân." Nói đoạn, tôi nhét ba đồng xu vào sâu tít dưới đáy túi.

Capi và Dulcie hiểu chuyện, cam chịu cúi gằm mặt xuống. Trái lại, Zerbino - cái tên vốn ương bướng lại thêm tật phàm ăn - vẫn không chịu để yên mà cứ hậm hực gầm gừ trong họng. Tôi quắc mắt nhìn cậu chàng đầy nghiêm khắc:

"Capi, cậu giải thích cho Zerbino thủng ra đi, xem chừng cậu ấy vẫn chưa chịu thông thì phải," tôi quay sang dặn dò vị Capitano trung thành.

Capi hiểu ý, lập tức dùng chân trước vỗ nhẹ lên vai Zerbino. Dường như giữa hai chú chó đang nổ ra một cuộc cự cãi nảy lửa. Dùng từ cự cãi với loài chó nghe có vẻ khiên cưỡng, song loài vật chắc chắn nắm giữ những thứ ngôn ngữ bí mật của riêng mình. Riêng với loài chó, chúng không chỉ có khả năng trò chuyện mà còn biết "đọc" nữa kìa. Cứ nhìn cái cách chúng nghểnh mõm lên đánh hơi bầu không khí, hay cúi gập gặm nhấm mùi vị trên mặt đất, ngửi sục sạo từ lùm cây cho đến từng hòn đá cuội mà xem. Có những lúc, chúng sẽ bất thần khựng lại trước một khóm cỏ dại hay một bờ tường, dáng điệu vô cùng cảnh giác. Dẫu mắt người phàm chẳng nhìn thấu điều gì, nhưng những chú chó lại ung dung đọc được vô vàn thông điệp kỳ bí, được mã hóa bằng thứ chữ viết lạ lùng mà con người có vắt óc cũng chẳng thể nào giải mã nổi.

Tôi chẳng thể nghe thấu Capi đang thì thầm điều gì với Zerbino. Bởi lẽ, loài chó dẫu có nghe hiểu tiếng người đi chăng nữa, thì con người nào có rành rọt tiếng sủa của loài chó. Tôi chỉ lờ mờ thấy vẻ mặt cứng đầu bướng bỉnh của Zerbino; khăng khăng đòi phải mang ba đồng xu kia đi mua thức ăn ngay tắp lự. Quá sức chịu đựng, Capi bỗng nổi trận lôi đình. Và chỉ đến khi vị thủ lĩnh nhe nanh giương oai, thì gã Zerbino - vốn mang sẵn tính nhát chết - mới chịu khép miệng. Chữ "khép miệng" ở đây, hiểu theo một cách đầy ẩn ý, là cậu chàng hậm hực thu mình nằm bẹp rí xuống đất.

May thay, trời trong mây tạnh nên việc ngủ lang ngoài trời cũng chẳng đến mức thê thảm. Mối bận tâm duy nhất lúc này là phải cảnh giác với lũ sói lang thang, nhỡ đâu vùng này lại có sói rình rập.

Cứ thế, gánh xiếc nhỏ lang thang bước vô định trên con đường mòn trắng xóa cho tới lúc tìm được một chốn dung thân. Đi mải miết, cả bọn lạc bước vào một khu rừng rậm rạp. Loáng thoáng phía xa, vài khối đá granite khổng lồ nằm ngổn ngang. Cảnh vật xung quanh toát lên vẻ hoang vu, tiêu điều đến rợn ngợp, nhưng vào lúc này, còn nơi nào lý tưởng hơn thế nữa? Tôi nhẩm tính có thể kiếm được một vách đá che chắn sương đêm ẩm ướt cho "chúng tôi". Nói "chúng tôi" ở đây, nghĩa là bao gồm cả Pretty-Heart và tôi, bởi mấy chú chó có bộ lông dày sụ kia nào biết sợ cảm lạnh giữa đêm trường. Tôi tự nhủ bản thân phải giữ gìn sức khỏe thật tốt, vì trên đôi vai gầy gò này là một trách nhiệm vô cùng nặng nề. Thử tưởng tượng mà xem, nếu lỡ tôi ngã bệnh, bầy thú nhỏ này sẽ đi về đâu? Và nếu tôi phải è cổ ra chăm sóc thêm một Pretty-Heart ốm yếu, thì số phận tôi sẽ thảm hại đến mức nào?

Giữa những tảng đá chơ vơ, chúng tôi lùng sục được một hang động nhỏ nhắn, nền hang lót một lớp lá khô êm ái. Chỗ này quả là một báu vật tuyệt vời! Chỉ tiếc là thiếu vắng bóng dáng của thức ăn. Tôi ráng dằn vặt cơn cồn cào trong ruột, cố lờ đi sự thật là tất cả đang rỗng bụng. Người xưa chẳng từng bảo "Ngủ là ăn" đó ư?

Trước khi nhắm mắt, tôi xoa đầu Capi, thủ thỉ giao phó nhiệm vụ gác đêm cho cậu. Hiểu ý chủ, thay vì đánh giấc nồng sưởi ấm trên nệm lá thông êm ái, chú chó trung thành lầm lũi nằm trấn giữ ngay trước cửa hang, oai vệ hệt một người lính gác. Có Capi canh chừng, tôi có thể yên tâm say giấc, vì thừa biết mọi kẻ lạ mặt đều không thể qua mặt được đôi tai thính nhạy của cậu. Dẫu đã trút bỏ gánh lo an toàn, tôi vẫn trằn trọc không sao chợp mắt nổi. Bên cạnh, Pretty-Heart đã rúc vào chiếc áo khoác của tôi mà ngủ say sưa; còn Zerbino và Dulcie cũng đang nằm sóng soài dưới chân vùi vào giấc mộng. Nhưng chao ôi, muôn vàn nỗi lo toan đè nặng trong tâm trí tôi còn lấn át cả sự rã rời của thể xác.

Ngày mở đầu chuỗi hành trình đơn độc sao mà thảm thương đến vậy, rồi ngày mai đây mọi chuyện sẽ trôi về đâu? Bụng đói meo, họng khát khô, mà vốn liếng còm cõi chỉ vỏn vẹn ba đồng xu. Lấy gì để nuôi ngần ấy miệng ăn, lỡ như ngày mai tôi chẳng kiếm chác được một đồng cắc nào? Lại còn chuyện cái rọ mõm, và cả tờ giấy phép ca hát quái quỷ kia nữa chứ? Ôi, tôi phải sống sao đây! Có khi nào tất cả chúng tôi sẽ bỏ mạng vì đói khát nơi xó rừng hoang vắng này không. Bồng bềnh trong mớ bòng bong ấy, tôi thẫn thờ ngước nhìn những vì tinh tú lấp lánh như dát bạc trên vòm trời đêm thăm thẳm. Không một gợn gió lướt qua. Sự tĩnh mịch nghẹt thở trùm lấp không gian vạn vật. Tuyệt nhiên vắng bặt tiếng lá xào xạc, tiếng chim gù, và cả tiếng lọc cọc xe ngựa trên đường xa. Trải dài trước mắt tôi là một khoảng không gian mênh mông, bát ngát vô tận. Chúng tôi thật cô độc làm sao, thật bi đát làm sao! Chẳng biết từ lúc nào, hai hàng nước mắt ứa tràn nơi khóe mi. Mẹ Barberin hiền từ ơi! Thầy Vitalis đáng kính của con ơi!

Tôi nằm sấp xuống nền đất ẩm, chôn mặt vào lòng bàn tay khóc nấc lên từng hồi. Bất giác, một luồng hơi ấm áp phả nhẹ qua mái tóc rối bời. Quờ quạng quay người lại, tôi cảm nhận rõ một chiếc lưỡi to bản, mềm mại đang âu yếm liếm láp vệt nước mắt nhạt nhòa trên má. Thì ra là Capi! Nghe tiếng nức nở của chủ nhân, cậu chàng vội chạy đến vỗ về, y hệt như cái ngày đầu tiên khi tôi thân cô thế cô lưu lạc giữa dòng đời. Tôi dang rộng đôi tay, ôm choàng lấy chiếc cổ mượt mà của Capi, rớt những nụ hôn xót xa lên chiếc mũi ươn ướt của cậu. Capi khẽ khịt mũi mấy tiếng nỉ non bi thiết, dường như cậu cũng đang thầm rỏ lệ cùng tôi. Mệt mỏi rã rời, tôi thiếp đi lúc nào không hay. Khi bừng tỉnh, bình minh đã rạng ngời, và Capi vẫn ngồi ngoan ngoãn bên cạnh, đăm đắm nhìn tôi. Trên cành cao, bầy chim ríu rít tấu lên khúc hoan ca đón nắng. Tiếng chuông nhà thờ từ đằng xa chậm rãi buông từng hồi ngân nga, báo hiệu giờ kinh Angelus3 - khoảnh khắc cầu nguyện tinh khôi buổi sớm. Vầng dương vươn mình lên cao, phóng những tia nắng vàng rực rỡ, nhẹ nhàng sưởi ấm cả thể xác lẫn tâm hồn băng giá của tôi.

Sốc lại tinh thần, cả bọn tiếp tục lên đường, nhắm thẳng hướng ngôi làng. Chắc mẩm ở đó kiểu gì cũng có một tiệm bánh mì: cứ thử đi ngủ với cái bụng trống rỗng mà xem, bạn sẽ hiểu thế nào là cái đói cồn cào cắn xé ruột gan khi vừa mở mắt. Tôi đánh liều quyết định bung hết ba đồng xu lẻ, chuyện ngày mai cứ để ngày mai tính.

Tiến vào làng, tôi chẳng thèm cất công đi hỏi thăm nhà thợ bánh làm gì cho mệt xác; vì chính cái mũi thính nhạy đã chỉ đường dẫn lối cho chúng tôi đi thẳng một mạch đến trước cửa tiệm. Giờ đây, khứu giác của tôi bén nhạy nào có thua kém gì mấy người bạn bốn chân kia. Ngay từ đằng xa xa, tôi đã ngửi thấy thoang thoảng mùi bánh mì nướng nóng hổi, thơm phưng phức nức mũi. Ấy thế nhưng, với số tiền cỏn con, chúng tôi đâu sắm sanh được là bao, khi giá bánh mì lên tới năm xu một pound. Trúng chia mỗi người được một mẩu bé tẹo bằng nắm tay, nên bữa điểm tâm sáng của cả hội vội vã kết thúc chỉ trong chớp mắt.

Hôm nay, bằng mọi giá chúng tôi phải kiếm được tiền. Tôi rảo bước quanh ngôi làng, đưa mắt tìm kiếm một bãi đất trống thuận lợi để biểu diễn, đồng thời cũng lẳng lặng quan sát nét mặt của những người qua đường, cố phỏng đoán xem ai sẽ là khán giả hào phóng, ai là kẻ khó tính. Dĩ nhiên, tôi chẳng định mở màn ngay tắp lự. Giờ vẫn còn quá sớm. Dự định của tôi là tìm được một chỗ ưng ý, rồi đợi đến giữa trưa mới quay lại và thử vận may của mình.

Đang miên man với những toan tính ấy, tôi chợt nghe tiếng la hét thất thanh vẳng đến từ phía sau. Vội vã quay ngoắt lại, tôi tá hỏa khi thấy Zerbino đang vắt chân lên cổ phóng như bay về phía mình, theo sát gót là một bà lão miệng la bai bải. Chẳng cần mất quá nhiều thời gian để tôi nhận ra cớ sự. Lợi dụng lúc tôi đang mải mê suy nghĩ, tên nhóc ranh mãnh này đã lỉnh vào một căn nhà nào đó và nẫng đi một miếng thịt. Cậu ta cứ thế cắm đầu cắm cổ mà chạy, miệng vẫn ngậm chặt lấy "chiến lợi phẩm".

"Đồ ăn trộm! Quân ăn cắp!" bà lão tru tréo lên; "Bắt lấy nó! Tóm cổ cả lũ chúng nó lại cho tôi!"

Nghe bà ta tri hô, tự dưng tôi cũng thấy mình mang tội, hoặc chí ít là tôi phải gánh trách nhiệm cho tội trạng tày đình của Zerbino. Thế là, theo phản xạ, tôi bắt đầu co giò bỏ chạy. Biết ăn nói làm sao với bà lão nếu bà ấy nằng nặc đòi tiền bồi thường cho miếng thịt cơ chứ? Đào đâu ra tiền mà trả? Nhỡ bị tóm cổ, chắc chắn họ sẽ tống tất cả vào nhà đá mất. Thấy tôi hớt hải tháo chạy thục mạng trên đường, Dulcie và Capi cũng tức tốc lao theo. Hai chú chó bám riết lấy gót chân tôi, trong khi Pretty-Heart thì đang vắt vẻo trên vai, hai tay quặp chặt lấy cổ tôi để khỏi bị hất văng xuống đất.

Lại có thêm một giọng nói khác vang lên phụ họa: "Bắt lấy thằng ăn trộm!" và ngay tức thì, thêm dăm ba người nữa nhập bọn truy đuổi. Nhưng chúng tôi vẫn cắm cổ mà chạy. Nỗi khiếp sợ vô hình chung đã chắp thêm đôi cánh cho những đôi chân bé nhỏ. Chưa bao giờ tôi thấy Dulcie chạy nhanh đến nhường ấy; mấy cái chân của cô nàng cứ thoăn thoắt tưởng chừng như chẳng thèm chạm đất. Rẽ xuống một con hẻm nhỏ rồi băng tạt qua một cánh đồng, chúng tôi nhanh chóng cắt đuôi được đám đông đang truy gắt gao phía sau. Thế nhưng, tôi vẫn không dám chững lại cho đến khi mệt đứt hơi, phổi như muốn vỡ tung ra. Chắc mẩm chúng tôi đã chạy thục mạng phải đến hai dặm đường. Lúc này tôi mới ngoái đầu nhìn lại. Phù, chẳng còn ai đuổi theo nữa. Capi và Dulcie vẫn lẽo đẽo ngay dưới chân, nhưng bóng dáng Zerbino thì khuất tít tận đằng xa. Chắc mẩm cậu ta đã kịp nấp vào đâu đó để đánh chén miếng thịt ăn trộm. Tôi cất tiếng gọi, nhưng với bản tính tinh ranh, cậu ta thừa hiểu một hình phạt thích đáng đang chờ mình phía trước. Vì vậy, thay vì ngoan ngoãn mò về chỗ tôi, cậu ta lại tẩu thoát càng nhanh càng tốt. Cậu ta đang chết đói, đó chính là nguyên do xui khiến cậu ta giở thói tắt mắt. Nhưng tôi quyết không thể nhân nhượng lấy đó làm lời ngụy biện. Cậu ta đã trộm cắp. Nếu tôi còn muốn duy trì kỷ luật của gánh hát nhỏ này, kẻ phạm tội bắt buộc phải chịu phạt. Bằng không, đến ngôi làng tiếp theo, biết đâu Dulcie cũng sẽ học thói xấu ấy, rồi dần dà đến cả Capi ngoan ngoãn cũng sẽ chẳng thể cưỡng lại cám dỗ. Tôi phải xử phạt Zerbino thật công khai và nghiêm khắc. Khổ nỗi, muốn làm thế thì trước tiên phải tóm được cậu ta đã, mà chuyện này thì e là chẳng dễ dàng chút nào.

Tôi đành quay sang nhìn Capi.

"Cậu đi tìm Zerbino về đây," tôi cất giọng nghiêm nghị nhất có thể.

Nghe lệnh, cậu ngoan ngoãn đánh hơi lên đường, nhưng dáng điệu có vẻ uể oải, chẳng còn chút hăng hái thường ngày. Bắt gặp ánh mắt cậu lấm lét nhìn mình, tôi thừa hiểu cậu thà đứng ra bênh vực Zerbino còn hơn là phải làm cái công việc phái viên bắt bớ này. Giao việc xong, tôi ngồi phịch xuống đất, kiên nhẫn đợi cậu áp giải "tù binh" trở về. Thú thực, tôi cũng mừng thầm vì cuối cùng cũng được thả lỏng cơ bắp sau cuộc đua điên cuồng vừa rồi. Chỗ chúng tôi dừng chân là bờ của một con kênh êm đềm, hai bên rợp bóng cây xanh mát và thoai thoải những cánh đồng trải dài.

Cả một giờ đồng hồ dài dằng dặc trôi qua. Mấy chú chó vẫn bặt tăm. Lòng tôi bắt đầu cồn lên bao nỗi lo âu, thì cuối cùng Capi cũng chịu ló mặt về, nhưng lại lủi thủi một mình, cái đầu xù cúi gằm xuống đất.

"Zerbino đâu rồi?"

Thay vì trả lời, Capi thu mình nằm bẹp xuống với bộ dạng đầy tội lỗi. Nhìn kỹ lại, tôi xót xa nhận ra một bên tai cậu đang rỉ máu. Thế là đủ hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Zerbino chống trả kịch liệt. Có lẽ Capi, dẫu một mực vâng lời tôi, nhưng trong thâm tâm cậu vẫn cho rằng tôi đã quá đỗi khắt khe với một con chó đang chết đói, nên cậu đã nương tay mà chịu thua. Thấy thế, tôi chẳng nỡ buông lời quở trách. Việc duy nhất tôi có thể làm lúc này là kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi Zerbino tự suy nghĩ thấu đáo mà mò về. Dù sao tôi cũng tin chắc rằng, sớm hay muộn cậu ta cũng sẽ cảm thấy hối lỗi, cúp đuôi quay lại và ngoan ngoãn cúi đầu chịu phạt.

Tôi nằm vắt tay lên trán, ngả lưng xuống thảm cỏ êm ái dưới gốc cây lớn, hai tay ôm ghì lấy Pretty-Heart vì lo nơm nớp cậu chàng lại nổi hứng ranh mãnh mà hùa theo thói trốn tránh của Zerbino. Dulcie và Capi cũng cuộn tròn thiếp đi dưới chân tôi tự lúc nào. Thời gian cứ thế lặng lẽ trôi. Zerbino vẫn bặt vô âm tín. Trong cái tĩnh lặng của chiều tà trĩu nặng mệt mỏi, cuối cùng tôi cũng thiếp đi.

Khi tôi bừng tỉnh, chẳng biết đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Nhìn ánh mặt trời vắt vẻo trên ngọn cây, tôi đoán chừng đã quá nửa chiều. Nhưng thực tình, chẳng cần mặt trời phải báo hiệu. Cái dạ dày trống rỗng đang réo rắt từng cơn biểu tình dữ dội đã nhắc nhở tôi rằng, mẩu bánh mì khô khốc lót dạ ban sáng dường như đã là chuyện của kiếp trước. Đảo mắt nhìn bộ dạng thảm não của hai chú chó và Pretty-Heart, tôi xót xa hiểu rằng chúng cũng đang lả đi vì đói. Capi và Dulcie ngước lên nhìn tôi bằng ánh mắt van lơn đến tội nghiệp; còn Pretty-Heart thì cứ nhăn nhó, xoa bụng liên hồi. Ấy vậy mà Zerbino vẫn chưa chịu vác mặt về. Tôi cất tiếng gọi lớn, rồi huýt sáo inh ỏi, nhưng đáp lại chỉ là tiếng gió lao xao vô vọng. Có lẽ, no bụng sau bữa trưa vương giả bằng miếng thịt trộm được, giờ này cậu chàng đang say sưa đánh giấc để tiêu hóa thức ăn, rúc sâu vào một bụi rậm êm ái nào đó rồi.

Tình thế lúc này quả thật vô cùng nan giải. Nếu tôi quyết định nhổ trại rời khỏi nơi đây, rất có thể Zerbino sẽ vĩnh viễn lạc mất bầy, vì cậu ta chẳng có cách nào tìm lại được dấu vết của chúng tôi. Nhưng khốn nỗi, nếu cứ chôn chân ở lại, tôi sẽ vuột mất cơ hội kiếm được chút tiền lẻ để mua đồ ăn lót dạ. Cơn đói cồn cào đang thiêu đốt lục phủ ngũ tạng. Mấy chú chó cứ đăm đăm nhìn tôi bằng ánh mắt van nài tha thiết, trong khi Pretty-Heart thì cứ liên tục xoa xoa cái bụng xẹp lép, miệng rít lên những tiếng cáu kỉnh vì tức giận.

Zerbino vẫn chẳng thấy tăm hơi. Bất lực, tôi lại phái Capi lên đường truy tìm kẻ đào tẩu thêm một lần nữa. Ấy vậy mà nửa giờ sau, cậu lại lủi thủi trở về, tay không. Trời ơi, tôi phải làm sao bây giờ?

Dẫu biết rành rành Zerbino là kẻ có lỗi, và cũng chính vì sự bốc đồng của cậu ta mà cả đám mới lâm vào tình cảnh bi đát nhường này, nhưng tôi quyết không thể nhẫn tâm nhắm mắt bỏ rơi cậu. Thử hỏi thầy Vitalis sẽ nói gì nếu tôi không trao trả đủ vẹn toàn ba chú chó đáng yêu lại cho thầy? Hơn thế nữa, bất chấp cái tính nết hư hỏng ấy, tự sâu thẳm trái tim, tôi vẫn thương Zerbino, cái gã tiểu lưu manh ranh mãnh ấy biết nhường nào! Sau một hồi đắn đo, tôi quyết định sẽ cắm trại đợi cậu ta cho đến khi màn đêm buông xuống. Nhưng việc cứ phải ngồi bó gối chờ đợi trong lúc bụng đói meo quả là một cực hình. Tôi thầm nghĩ, giá như chúng tôi có thể bày ra trò gì đó lấp đầy thời gian, biết đâu những chuyển động nhịp nhàng sẽ xua tan đi cảm giác cồn cào khó chịu. Chỉ cần có một thú vui nào đó để đánh lạc hướng tâm trí, dù chỉ là tạm thời, chúng tôi sẽ tạm quên đi cơn đói đang cấu xé. Nhưng chốn đồng không mông quạnh này, biết lấy gì để giải sầu bây giờ?

Tôi nhíu mày cân nhắc mãi. Chợt những lời chỉ dạy ngày xưa của thầy Vitalis lại văng vẳng bên tai: thầy từng kể, khi một trung đoàn đã rã rời chân tay sau một cuộc hành quân dài đằng đẵng, ban nhạc quân đội sẽ cất lên những giai điệu hành khúc hào hùng và vui tươi nhất, nhờ thế mà những người lính quên hẳn đi sự rã rời của thể xác. Ý tưởng lóe lên như một tia sáng. Nếu tôi dạo lên vài bản nhạc thật vui nhộn bằng cây đàn hạc của mình, biết đâu chừng, chúng tôi cũng sẽ phớt lờ được sự réo rắt của dạ dày. Ai nấy đều đã oải và rã rời, nhưng chỉ cần những nốt nhạc rộn rã cất lên, rồi tôi bắt hai chú chó tội nghiệp cùng Pretty-Heart hòa mình vào những vũ điệu, thì chắc chắn thời gian sẽ trôi qua nhanh hơn. Nghĩ là làm, tôi với tay lấy cây đàn hạc đang dựng hờ dưới gốc cây. Xoay lưng lại phía mặt kênh êm ả, tôi nhanh chóng sắp xếp đội hình các "diễn viên" vào đúng vị trí, rồi tự tin gảy lên một điệu luân vũ tưng bừng.

Phút ban đầu, cả bọn chó lẫn chú khỉ đều uể oải, chẳng có vẻ gì là mặn mà với chuyện nhảy múa. Điều duy nhất chúng khao khát lúc này là những miếng ăn ngon lành. Nhìn bộ dạng ỉu xìu, tội nghiệp của những người bạn nhỏ, trái tim tôi như bị ai đó bóp nghẹt. Nhưng không được, chúng phải dứt ra khỏi ý nghĩ về cái đói đang hành hạ, hỡi ôi những sinh linh bé nhỏ đáng thương! Khẽ cắn môi, tôi dùng sức gảy đàn to hơn, nhịp điệu dồn dập và hối hả hơn. Dần dà, từng chút một, ma lực kỳ diệu của âm nhạc đã phát huy tác dụng quen thuộc. Chúng bắt đầu rướn mình nhảy múa, và tôi cứ thế đắm chìm gảy đàn, đàn mãi không thôi.

Giữa lúc giai điệu đang rộn rã, tôi chợt nghe một giọng nói thanh tao, non nớt của một đứa trẻ vang lên cất lời khen ngợi: "Tuyệt vời quá!" Giọng nói ấy phát ra từ ngay phía sau lưng. Giật mình, tôi vội vã ngoái đầu nhìn lại.



  1. Một đơn vị đo lường khối lượng truyền thống của phương Tây, một pound tương đương khoảng 0,45 kg. 

  2. Một thể loại bài hát ngắn, nhẹ nhàng, vui tươi mang đậm phong cách dân gian Ý. 

  3. Kinh Truyền tin của người Công giáo, thường được xướng lên khi chuông nhà thờ điểm vào buổi sáng sớm, giữa trưa và chập tối để tưởng nhớ sự kiện thiên thần báo tin cho Đức Mẹ Maria.