CHƯƠNG V

LÊN ĐƯỜNG

Việc một người đàn ông bỏ ra bốn mươi franc để mua một đứa trẻ không có nghĩa ông ta là một kẻ máu lạnh, hay có ý định ăn thịt đứa bé. Cụ Vitalis không hề có ý định ăn thịt tôi. Dù có vung tiền ra mua một đứa trẻ, ông cũng chẳng phải là phường ác độc. Tôi sớm nhận ra điều này qua cách ông đối xử với mình. Cả hai chúng tôi đã lặng lẽ bước đi được một quãng khá xa. Đột nhiên, một tiếng thở dài thườn thượt bật ra khỏi lồng ngực tôi.

"Ông biết cháu đang cảm thấy thế nào," cụ Vitalis cất giọng ôn tồn; "cháu cứ khóc đi nếu muốn. Nhưng hãy cố gắng hiểu rằng chuyện này rốt cuộc cũng chỉ vì lợi ích của chính cháu mà thôi. Những người đó không phải là cha mẹ ruột của cháu; người vợ đối xử với cháu rất tốt và ông biết cháu yêu thương bà ấy, thế nên cháu mới đau buồn đến nhường này. Nhưng bà ấy đâu thể giữ cháu lại nếu người chồng đã nhất quyết không đồng ý. Vả lại, ông ta có lẽ cũng chẳng phải là kẻ xấu xa gì cho cam. Ông ta đang ốm đau, bệnh tật và chẳng thể cáng đáng công việc được nữa. Ông ta sẽ thấy vô cùng chật vật để xoay xở lo cho cả gia đình..."

Vâng, những lời ông nói đều đúng, nhưng trong đầu tôi lúc ấy chỉ quẩn quanh một ý nghĩ duy nhất, rằng có lẽ tôi sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ còn cơ hội được gặp lại người mà tôi yêu thương nhất trên đời này nữa.

"Cháu sẽ không phải chịu khổ khi đi cùng ông đâu," cụ lão nói tiếp; "dẫu sao, đi theo ông thế này vẫn còn tốt chán so với việc bị tống vào Trại tế bần1. Nhưng ông nói trước cho cháu nghe nhé, cháu đừng có ý định bỏ trốn, bởi vì chỉ cần cháu vừa rục rịch ý định đó, Capi và Zerbino sẽ đánh hơi và tóm được cháu ngay lập tức."

Bỏ trốn ư-tôi chẳng còn chút tâm trí nào để nghĩ đến việc đó nữa. Tôi biết trốn đi đâu bây giờ? Suy cho cùng thì ông lão dáng vẻ cao lớn này có lẽ sẽ là một người chủ tốt. Tôi chưa bao giờ từng đi bộ một lèo xa đến thế. Phóng tầm mắt ra xung quanh, tôi chỉ thấy toàn là những vùng đất hoang vu, cằn cỗi và đồi núi trập trùng, chẳng hề tươi đẹp diễm lệ như tôi từng mường tượng về thế giới bao la bên ngoài ngôi làng nhỏ bé của mình.

Cụ Vitalis sải những bước dài đều đặn, cõng khỉ Pretty-Heart trên vai hoặc thỉnh thoảng giấu nó vào túi, còn bầy chó thì lóc cóc chạy theo sát gót chân chúng tôi. Lâu lâu, cụ Vitalis lại cất giọng thốt ra một lời âu yếm với bầy thú, lúc thì bằng tiếng Pháp, khi lại bằng một ngôn ngữ lạ lẫm mà tôi chẳng tài nào hiểu nổi. Cả ông lẫn những con vật dường như chẳng hề biết đến hai chữ mệt mỏi. Nhưng tôi... tôi thì đã thực sự kiệt sức. Tôi lê những bước chân nặng nhọc và phải cố gắng hết sức bình sinh mới có thể bám theo kịp người chủ mới của mình. Dẫu vậy, tôi vẫn cắn răng chịu đựng, không muốn hé răng xin ông cho dừng lại nghỉ ngơi.

"Chính đôi guốc gỗ2 đó làm cháu mệt đấy," cụ nói, cúi xuống nhìn tôi bằng ánh mắt ái ngại. "Khi nào chúng ta đến Ussel3, ông sẽ sắm cho cháu một đôi giày."

Những lời nói ấy như một liều thuốc thần tiếp thêm cho tôi dũng khí. Từ tận đáy lòng, tôi luôn khao khát có được một đôi giày. Cậu con trai của ngài thị trưởng và thằng bé con ông chủ quán trọ đều đi giày, thế nên mỗi sáng Chủ nhật khi đến nhà thờ, chúng như đang kiêu hãnh lướt đi trên những lối đi lát đá, trong khi đám trẻ nhà quê chúng tôi lết những đôi guốc gỗ lại khua nhịp tạo ra một mớ âm thanh ồn ào đến đinh tai nhức óc.

"Ussel có xa không hả ông?"

"Chà, câu hỏi đó hẳn xuất phát từ tận đáy lòng cháu nhỉ," cụ Vitalis bật cười hiền từ. "Vậy là cháu rất muốn có một đôi giày, đúng không? Được thôi, ông hứa sẽ mua cho cháu, và là một đôi giày có đóng đinh to đàng hoàng nhé. Ông cũng sẽ sắm cho cháu vài chiếc quần nhung, một chiếc áo gi lê và một cái mũ nữa. Hy vọng chừng đó sẽ làm cháu nín khóc, và tiếp thêm sức lực cho đôi chân cháu bước nốt sáu dặm đường tiếp theo."

Giày có đinh! Niềm tự hào bỗng chốc trào dâng mãnh liệt trong lồng ngực tôi. Có giày để đi đã là oai phong lắm rồi, đằng này lại còn là giày có đinh nữa chứ! Trong phút chốc, tôi quên bẵng đi cả nỗi buồn tủi đớn đau. Giày đinh! Quần nhung! Áo gi lê! Mũ! Ôi, giá mà Má Barberin có thể nhìn thấy tôi ngay lúc này, má sẽ vui sướng biết nhường nào, má sẽ hãnh diện về tôi biết bao! Nhưng dẫu cho có được hứa hẹn về một đôi giày oách và những chiếc quần nhung thật đẹp khi đi hết sáu dặm đường, thì đôi chân tơi bời của tôi dường như vẫn chẳng thể nào lê nổi để vượt qua hết quãng đường xa xôi ấy.

Bầu trời khi chúng tôi vừa cất bước vẫn còn trong vắt, thế mà thoắt cái đã kéo mây xám xịt, rồi một cơn mưa bụi bắt đầu lất phất tuôn rơi. Cụ Vitalis khoác chiếc áo da cừu dày dặn nên được che chắn khá kỹ. Ông còn che chở cho cả Pretty-Heart, bởi con khỉ tinh ranh đã luồn tọt vào đó trốn biệt ngay khi hạt mưa đầu tiên vừa chạm đất. Chẳng bù cho bầy chó và tôi, chúng tôi không có lấy một mảnh che thân, nên chỉ loáng sau nước đã ngấm sũng tận da thịt. Lâu lâu, lũ chó lại rùng mình rũ bớt nước đọng trên lông. Tôi thì chẳng thể làm theo cái cách tự nhiên ấy, đành cắn răng lê từng bước nhọc nhằn trong bộ quần áo ướt nhẹp, vừa nặng trĩu vừa lạnh buốt.

"Cháu có dễ bị cảm lạnh không?" người chủ mới của tôi cất tiếng hỏi.

"Cháu không biết nữa. Cháu chẳng nhớ mình từng bị cảm bao giờ."

"Tốt lắm. Vậy là cháu cũng khỏe mạnh đấy. Nhưng ông không muốn để cháu phải chịu khổ hơn mức cần thiết đâu. Cách đây một đoạn có một ngôi làng, chúng ta sẽ qua đêm ở đó."

Ngặt nỗi, ngôi làng này chẳng có quán trọ nào cả. Hơn nữa, cũng không ai muốn rước vào nhà một lão ăn mày già nua dắt díu theo một đứa trẻ và ba con chó, tất thảy đều đang ướt lướt thướt.

"Ở đây không có chỗ trọ đâu," họ cộc lốc nói.

Vừa dứt lời, họ đã đóng sầm cửa lại ngay trước mũi chúng tôi. Hai ông cháu gõ cửa hết nhà này đến nhà khác, nhưng đáp lại chỉ là những lời từ chối. Lẽ nào chúng tôi cứ thế mà lê bước suốt bốn dặm đường dằng dặc tới tận Ussel, chẳng được nghỉ ngơi lấy một chút nào sao? Màn đêm đã buông xuống, và cơn mưa rả rích càng làm cái lạnh ngấm sâu vào tận tủy. Ôi, lúc này tôi mới thấy thèm khát biết bao mái nhà ấm áp của má Barberin!

Cuối cùng, một người nông dân có lòng từ tâm hơn những người hàng xóm đã bằng lòng cho chúng tôi tá túc trong kho thóc của mình. Dù vậy, ông ta đưa ra điều kiện dứt khoát là chúng tôi có thể ngủ lại, nhưng tuyệt đối không được thắp đèn.

"Đưa diêm của ông cho tôi," ông ta nói với cụ Vitalis. "Sáng mai khi các người rời đi, tôi sẽ trả lại."

Ít ra thì chúng tôi cũng đã có một mái nhà để nương náu qua cơn bão.

Từ chiếc bao tải đeo trên lưng, cụ Vitalis lấy ra một ổ bánh mì lớn rồi bẻ thành bốn phần. Ấy là lần đầu tiên tôi được tận mắt chứng kiến cách ông thiết lập kỷ luật và sự vâng lời trong gánh xiếc của mình. Số là, ban nãy, trong lúc chúng tôi mải miết đi từ nhà này sang nhà khác để xin tá túc, Zerbino đã lẻn vào một nếp nhà và lao vút ra ngay tắp lự, mõm gặm theo một mẩu bánh mì. Khi ấy, cụ Vitalis chỉ điềm nhiên bảo:

"Được rồi, Zerbino... cứ chờ đến tối nay."

Tôi đã sớm quên khuấy vụ trộm vặt ấy, cho tới tận lúc thấy cụ Vitalis chia bánh mì; dáng vẻ Zerbino trông ủ dột đến thảm hại. Cụ Vitalis và tôi đang ngồi trên một chiếc hộp gỗ, kẹp giữa là khỉ Pretty-Heart. Ba chú chó đứng thành một hàng thẳng tắp ngay trước mặt, Capi và Dulcie dán chặt mắt vào người chủ. Riêng Zerbino thì đứng rũ rượi, đôi tai cụp xuống còn đuôi thì kẹp chặt giữa hai chân.

"Kẻ trộm cắp phải bước ra khỏi hàng và đi ra góc kia," cụ Vitalis ra lệnh bằng một chất giọng đanh thép; "mi sẽ phải đi ngủ mà không có bữa tối."

Zerbino tiu nghỉu lùi lại, lê bước đi ngoằn ngoèo tiến về phía góc tối mà cụ Vitalis vừa trỏ tay. Nó nằm mọp xuống dưới một đống cỏ khô khuất lấp, nhưng chúng tôi vẫn mường tượng ra dáng vẻ xót xa của nó qua những tiếng thở thườn thượt, nấc lên cùng những tiếng ư ử khe khẽ.

Cụ Vitalis bèn đưa cho tôi một phần bánh mì. Trong lúc tôi đang ăn, ông cẩn thận bẻ những mẩu vụn cho Pretty-Heart, Capi và Dulcie. Chao ôi, tôi thèm khát bát súp nóng hổi của Má Barberin biết nhường nào... dẫu bát súp ấy có chẳng bỏ bơ đi chăng nữa. Tôi nhớ đến nao lòng ngọn lửa reo vui ấm áp, chiếc giường nhỏ êm ái cùng những tấm chăn mà tôi có thể xéo lên đắp ủn tới tận mũi. Rã rời và kiệt quệ, tôi thu mình ngồi đó, đôi bàn chân sưng rộp, tấy đỏ vì cọ xát với đôi guốc gỗ quá lâu. Tôi run bần bật vì cái lạnh thấu xương ngấm qua bộ quần áo ướt sũng. Đêm đã buông xuống từ lâu, nhưng tôi nào có màng chi đến giấc ngủ.

"Răng cháu đang đánh bò cạp kìa," cụ Vitalis lên tiếng; "cháu lạnh lắm à?"

"Cháu hơi lạnh một chút ạ."

Tôi nghe thấy tiếng sột soạt lôi đồ từ chiếc bao tải.

"Ông không có nhiều quần áo dự phòng," cụ cất lời, "nhưng đây có một chiếc áo sơ mi khô cùng một cái áo gi lê, cháu có thể mặc tạm. Xong rồi chui xuống dưới đống cỏ khô kia, cháu sẽ mau chóng thấy ấm lại và ngủ được thôi."

Thế nhưng, hơi ấm chẳng thể tìm đến nhanh như cụ Vitalis tưởng; một lúc rất lâu sau đó, tôi vẫn trằn trọc xoay trở gối đầu trên ổ rơm, cõi lòng quá đỗi tủi thân để có thể chợp mắt. Liệu tất cả những tháng ngày sắp tới của đời tôi sẽ mãi diễn ra như thế này sao? Cuốc bộ rã rời dưới những cơn mưa xối xả; ngủ vùi trên những căn gác xép tồi tàn, run rẩy oằn mình vì giá rét, và chỉ được lót dạ bằng một mẩu bánh mì khô khốc cho bữa tối? Chẳng còn ai yêu thương tôi; chẳng còn ai vỗ về âu yếm tôi; Má Barberin ơi, con không còn má nữa rồi!

Nỗi buồn tủi dâng lên ngập ngụa cõi lòng tôi. Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má. Chợt, tôi cảm nhận được một luồng hơi thở ấm áp khe khẽ lướt qua mặt mình. Tôi rụt rè vươn tay ra, và những ngón tay tôi chạm ngay vào bộ lông xù mềm mại của Capi. Cậu ấy đã rón rén tiến lại gần tôi từ lúc nào, bước những bước chân thật khẽ khàng trên ổ rơm. Cậu ấy ngửi tôi: tiếng khụt khịt mũi nhè nhẹ, hơi thở nồng đượm của cậu phả qua gò má và len lỏi vào mái tóc tôi. Cậu ấy muốn gì vậy nhỉ? Thoáng sau, cậu ngoan ngoãn nằm xuống ổ rơm, sát rạt bên tôi, và với tất cả sự dịu dàng, cậu bắt đầu liếm láp bàn tay tôi. Lòng dâng lên niềm xúc động nghẹn ngào trước sự vỗ về đầy thấu hiểu ấy, tôi nhổm dậy trên ổ rơm, vòng tay ôm ngang chiếc cổ xù lông và đặt một nụ hôn lên chiếc mũi ươn ướt, lạnh ngắt của cậu. Cậu ấy khe khẽ phát ra một tiếng gầm gừ nhỏ xíu trong cổ họng bộc lộ niềm vui thích, rồi nhanh nhẹn gác một bàn chân lên tay tôi và nằm im bất động. Tôi chợt quên đi mọi đớn đau, mỏi mệt và tủi hờn. Tôi không còn cô độc lẻ loi nữa. Tôi đã có một người bạn.



  1. Cơ sở do nhà nước hoặc các tổ chức xã hội lập ra (rất phổ biến ở châu Âu thế kỷ 19) để bắt buộc những người nghèo khổ, lang thang cơ nhỡ vào lao động và sinh sống. Điều kiện sống ở đây thường vô cùng khắc nghiệt. 

  2. Loại giày dép đẽo nguyên khối từ gỗ (tiếng Pháp gọi là sabot), rất phổ biến ở các vùng nông thôn châu Âu xưa, thường dành cho tầng lớp nông dân và người nghèo vì giá thành rẻ, đi lại dễ dàng trên đường bùn đất. 

  3. Một xã thuộc tỉnh Corrèze, vùng Nouvelle-Aquitaine ở miền trung nước Pháp.