CHƯƠNG XXIX
CHỐN LAO TÙ
Mùa xuân chầm chậm gõ cửa, và cuối cùng ngày gia đình rời khỏi London cũng đến. Những cỗ xe ngựa đã được sơn phết lại bóng bẩy và chất đầy ắp hàng hóa. Nào là vải vóc, mũ nón, khăn choàng, khăn tay, cho đến áo len, đồ lót, khuyên tai, dao cạo râu, xà phòng, phấn son, kem dưỡng da... quả thực là có đủ mọi thứ trên đời mà người ta có thể tưởng tượng ra.
Tất cả các cỗ xe đều chật ních. Ngựa kéo cũng đã được mua về. Từ đâu, và bằng cách nào ư? Tôi chẳng hề hay biết. Chúng tôi chỉ thấy người ta dắt ngựa về, và thế là mọi thứ đã sẵn sàng cho chuyến đi. Ban đầu, hai đứa chưa rõ mình sẽ ở lại với ông nội hay đi cùng gia đình. Thế nhưng, người cha - hẳn vì nhận ra ngón đàn của chúng tôi hái ra bộn tiền - đã gọi hai đứa lại vào tối hôm trước và báo rằng chúng tôi sẽ lên đường cùng ông để biểu diễn.
"Chúng ta hãy trốn về Pháp đi," Mattia thúc giục, "đây là một cơ hội tốt đấy."
"Sao cậu không muốn đi dạo quanh nước Anh cơ chứ?"
"Bởi vì mình có linh cảm chẳng lành. Nếu cứ nán lại đây, sớm muộn gì chuyện xấu cũng xảy ra. Hơn nữa, về Pháp, biết đâu chúng ta sẽ tìm được phu nhân Milligan và Arthur. Nếu Arthur thực sự bị ốm, hẳn là bà ấy sẽ đưa cậu nhóc lên chiếc thuyền du lịch kia thôi, vì mùa hè sắp đến rồi mà."
Tôi đành đáp lại bạn rằng mình buộc phải ở lại.
Ngay ngày hôm đó, chúng tôi cất bước lên đường. Đến buổi chiều, tôi mới tận mắt chứng kiến cách họ tống khứ những món đồ ế ẩm với giá rớt thê thảm. Khi đoàn xe tiến vào một ngôi làng lớn, những cỗ xe lần lượt đỗ lại giữa quảng trường công cộng. Một bên thùng xe được hạ xuống, phô bày cơ man hàng hóa bắt mắt để người mua mặc sức ngắm nghía, chọn lựa.
"Nhìn giá này! Nhìn giá này đi!" người cha lớn tiếng rao hàng. "Mọi người tìm đâu ra những món đồ tốt thế này với cái giá đó cơ chứ! Tôi không bán đâu nhé; tôi đang cho không mọi người đấy. Nhìn món này mà xem!"
"Chắc chắn lão ta ăn cắp chúng rồi," tôi nghe văng vẳng tiếng người ta xì xào to nhỏ khi nhìn thấy mức giá rẻ bèo. Nếu lúc ấy họ để ý đến vẻ mặt cúi gằm, đầy xấu hổ của tôi, hẳn họ sẽ biết ngay suy đoán của mình là hoàn toàn chính xác.
Những người mua hàng có thể không chú ý đến tôi, nhưng Mattia thì có. Cậu ấy khẽ hỏi: "Cậu định cắn răng chịu đựng cảnh này bao lâu nữa đây?"
Tôi lặng thinh.
"Chúng ta hãy về Pháp đi," cậu ấy lại tha thiết nài nỉ. "Mình linh cảm thấy một mối nguy hiểm đang rình rập, và nó sẽ ập đến sớm thôi. Cậu không nghĩ rằng sớm muộn gì cảnh sát cũng sờ gáy ông Driscoll sao? Cậu cứ nhìn xem ông ấy bán đồ rẻ mạt đến mức nào kìa! Rồi chuyện gì sẽ xảy ra?"
"Ôi, Mattia...."
"Nếu cậu cứ cố tình nhắm mắt làm ngơ, thì mình buộc phải mở to mắt ra để nhìn cho rõ. Dù chẳng làm gì nên tội, cả hai đứa mình cũng sẽ bị tóm gọn thôi. Lúc đó làm sao chúng ta chứng minh được sự trong sạch của mình? Chẳng phải chúng ta đang bỏ vào miệng những thức ăn được mua bằng chính những đồng tiền ông ấy kiếm được từ đống hàng hóa này sao?"
Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó; lời nói của bạn giáng xuống tâm trí tôi như một cú tát điếng người.
"Nhưng... nhưng chúng ta tự kiếm cái ăn bằng sức lao động của chính mình cơ mà," tôi lắp bắp, cố vớt vát tìm lời biện minh.
"Đúng là vậy. Nhưng hiện tại, chúng ta đang sống chung với những kẻ cắp," Mattia đáp lời bằng một giọng điệu thẳng thắn hơn bao giờ hết, "và rồi lỡ như bị tống vào tù, chúng ta làm sao có thể tiếp tục đi tìm gia đình của cậu được nữa. Mình cũng thực sự nóng lòng muốn gặp mặt phu nhân Milligan để cảnh báo bà ấy về tên James Milligan đó. Cậu không biết được hắn có thể giở trò gì với Arthur đâu. Chúng ta hãy mau rời khỏi đây khi còn có cơ hội."
"Hãy cho mình thêm vài ngày để suy nghĩ cho thật kỹ đã, Mattia," tôi nói.
"Vậy thì cậu quyết định nhanh lên. Jack the Giant Killer1 đánh hơi thấy mùi thịt người-còn mình, mình đánh hơi thấy mùi nguy hiểm."
Hoàn cảnh đã thay tôi đưa ra quyết định mà bản thân vốn mãi chần chừ chưa dám thực hiện.
Vài tuần thoăn thoắt trôi qua kể từ ngày chúng tôi rời khỏi London. Ông Driscoll đã cho dựng những cỗ xe của gia đình tại một thị trấn đang nô nức chuẩn bị cho các cuộc đua ngựa. Vì cả tôi và Mattia đều không phải phụ giúp việc bán hàng, hai đứa quyết định thả bộ đến trường đua nằm cách thị trấn một quãng khá xa. Ở Anh, bên ngoài các trường đua ngựa thường là nơi hội hè tưng bừng. Những gánh xiếc rong, các nghệ sĩ đường phố đủ mọi tài nghệ, những người thợ chơi nhạc cụ, cùng vô số những người bán hàng rong đã rộn rịp tụ tập về đây từ hai, ba ngày trước.
Đang rảo bước, chúng tôi tình cờ đi ngang qua một đống lửa trại đang rực cháy, phía trên treo lủng lẳng một chiếc ấm đun nước bốc khói nghi ngút. Chợt cả hai cùng sững sờ nhận ra Bob, cậu bạn cũ từng làm chung với Mattia trong rạp xiếc. Cậu ấy vỡ òa trong niềm vui sướng tột độ khi tình cờ gặp lại chúng tôi. Bob kể rằng cậu đến xem đua ngựa cùng hai người bạn và dự định sẽ cống hiến cho khán giả những màn trình diễn sức mạnh mãn nhãn. Rắc rối thay, mấy nhạc công mà cậu thuê lại bỏ kèo vào phút chót. Cậu vô cùng lo lắng, sợ rằng buổi diễn ngày mai sẽ trở thành một thảm họa tồi tệ. Thiếu đi tiếng nhạc rộn rã, làm sao có thể thu hút được đám đông tò mò? Liệu chúng tôi có thể giang tay giúp đỡ cậu ấy trong lúc khốn đốn này không? Tiền kiếm được sẽ chia đều cho năm người chúng tôi để cùng nhau lập thành một gánh hát tạm thời. Thậm chí, Bob còn hứa chia cả phần cho Capi nữa, bởi cậu rất muốn chú chó nhỏ trổ tài với vài trò xiếc vui nhộn trong giờ nghỉ giải lao. Không chần chừ, chúng tôi gật đầu đồng ý tắp lự và hứa sẽ có mặt đúng giờ hẹn vào ngày hôm sau.
Thế nhưng, khi tôi hào hứng báo lại kế hoạch này với ông Driscoll, ông ta liền dội một gáo nước lạnh khi tuyên bố cần Capi ở lại và chúng tôi tuyệt đối không được mang nó theo. Trong lòng tôi chợt dấy lên một nỗi hoài nghi bất an. Liệu những con người này có lợi dụng chú chó ngoan ngoãn của tôi để giở trò trộm cắp bẩn thỉu nào không? Chỉ qua một cái nhìn lướt nhanh, dường như ông ta đã đọc thấu những luồng suy nghĩ đang cuộn trào trong đầu tôi.
"Ồ, không sao đâu," ông ta nở một nụ cười giả lả, giọng điệu tỏ vẻ ôn tồn thường ngày. "Capi là một con chó giữ nhà cừ khôi; nó phải đứng canh gác cạnh những cỗ xe. Ở một nơi đông đúc xô bồ như chỗ chúng ta sắp đến, lũ trộm cắp rất dễ ra tay. Hai đứa mày cứ đi một mình và chơi đùa với thằng bạn Bob đi. Nếu biểu diễn xong muộn, mà điều này thì chắc mười mươi rồi, tụi mày có thể quay về gặp chúng tao tại Quán Trọ Old Oak. Ngay sáng mai, chúng ta sẽ lại lên đường."
Mới đêm hôm trước, chúng tôi vừa ngủ lại tại Quán Trọ Old Oak, một nơi nằm chơ vơ cách đó chừng một dặm trên con đường đất hẻo lánh. Quán trọ ấy do một đôi vợ chồng quản lý, mà ngay từ vẻ bề ngoài của họ đã toát lên một vẻ xảo trá, chẳng mang lại chút cảm giác an tâm nào. Tìm đến đó thì không khó, vì nó nằm ngay trên một con đường thẳng tắp. Điều duy nhất khiến tôi ngần ngại là quãng đường đi bộ trở về sẽ dài đằng đẵng, nhất là sau một ngày vắt kiệt sức lực vì biểu diễn.
Nhưng khi ông Driscoll đã lên tiếng, tôi đành phải nghe lời. Tôi hứa chắc chắn sẽ có mặt tại quán trọ. Sáng hôm sau, sau khi cẩn thận buộc Capi vào cỗ xe - nơi nó phải miễn cưỡng làm nhiệm vụ canh gác bất đắc dĩ - tôi và Mattia hối hả chạy đến trường đua ngựa.
Vừa đến nơi, chúng tôi lập tức hòa vào nhịp điệu rộn rã của buổi diễn, chơi nhạc không ngừng nghỉ cho đến tận đêm khuya mịt mùng. Những ngón tay tôi đau nhức, buốt nhói như bị ngàn mũi kim châm đâm sầm sập vào da thịt. Còn Mattia tội nghiệp thì đã dồn hết hơi tàn để thổi chiếc kèn cornet quá lâu, đến mức cậu dường như không thở nổi nữa. Trời đã quá nửa đêm. Ngay giữa lúc họ đang dốc sức cho vòng diễn cuối cùng, một tai nạn kinh hoàng ập đến. Thanh sắt khổng lồ mà nhóm của Bob dùng cho màn trình diễn sức mạnh đột ngột tuột tay, rơi thẳng xuống chân Mattia. Tim tôi như ngừng đập, cứ ngỡ chân cậu ấy đã gãy nát bấy. Thật may mắn làm sao, cái chân chỉ bị bầm tím nghiêm trọng. Dù không khúc xương nào bị gãy, nhưng cơn đau thấu xương vẫn khiến Mattia không thể tự nhấc chân bước đi được.
Bàn bạc nhanh chóng, chúng tôi quyết định để Mattia ở lại qua đêm trong xe ngựa cùng với Bob. Phần tôi, tôi đành phải cất bước đi một mình quay về Quán Trọ Old Oak, bởi tôi cần phải biết gia đình Driscoll dự định đi về hướng nào vào ngày mai.
Bóng tối bao trùm lấy không gian tĩnh mịch khi tôi lê bước đến quán trọ. Tôi đưa mắt dáo dác nhìn quanh tìm kiếm những cỗ xe ngựa quen thuộc. Chẳng thấy bóng dáng chúng đâu cả! Tất cả những gì lọt vào tầm mắt tôi, lấp ló bên cạnh một hoặc hai cỗ xe tồi tàn cũ nát, chỉ là một chiếc lồng sắt khổng lồ. Vừa tiến lại gần, tôi bỗng rợn người khi nghe phát ra từ bên trong tiếng gầm gừ đáng sợ của một con thú hoang. Còn những cỗ xe lộng lẫy, rực rỡ sắc màu của gia đình Driscoll thì đã bốc hơi không để lại vết tích.
Tôi tiến đến và gõ cửa quán trọ. Gã chủ quán mở cửa, soi thẳng ánh sáng chói lọi từ chiếc đèn lồng trên tay vào mặt tôi. Hắn lập tức nhận ra tôi, nhưng thay vì mở rộng cửa cho tôi vào, hắn trừng mắt lạnh nhạt, hất hàm bảo:
"Mày mau chóng đuổi theo bố mẹ mày đi, họ đã lên đường đến Lewes rồi. Tốt nhất là đừng có đứng đây lãng phí thời gian của tao nữa!"
Nói xong đoạn, hắn lạnh lùng đóng sầm cánh cửa gỗ cái rầm ngay trước mũi tôi.
Kể từ ngày đặt chân đến nước Anh, vốn tiếng Anh của tôi đã tiến bộ đáng kể. Tôi hiểu rõ từng chữ những gì gã chủ quán vừa nói, nhưng ngặt nỗi, tôi chẳng có lấy một chút mường tượng nào về vị trí của cái thị trấn Lewes ấy. Mà dù có biết đường đi nước bước chăng nữa, tôi cũng chẳng thể đành lòng cất bước bỏ lại Mattia bơ vơ một mình phía sau. Nén tiếng thở dài, tôi bắt đầu lê những bước chân rã rời, mệt mỏi quay ngược lại trường đua. Một giờ sau, tôi đã chìm vào giấc ngủ thiếp đi bên cạnh Mattia, ngay trong lòng chiếc xe ngựa ấm áp của Bob.
Sáng hôm sau, Bob cặn kẽ chỉ cho tôi đường đến Lewes và tôi bắt đầu rục rịch sửa soạn lên đường. Đang mải nhìn cậu ấy đun nước chuẩn bị bữa sáng, tôi ngước mắt lên khỏi bếp lửa và sững sờ khi thấy Capi đang bị một viên cảnh sát lôi xềnh xệch về phía chúng tôi. Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra thế này? Khoảnh khắc Capi nhận ra chủ, nó giật phăng sợi xích, thoát khỏi tay viên sĩ quan rồi lao như tên bắn về phía tôi, mừng rỡ nhảy cẫng lên và rúc gọn vào vòng tay tôi.
"Đó là chó của cậu phải không?" viên cảnh sát lạnh lùng hỏi.
"Vâng."
"Vậy thì đi theo tôi, cậu đã bị bắt."
Nói đoạn, ông ta tiến tới, túm chặt lấy cổ áo tôi.
"Ông định làm gì mà bắt cậu ấy?" Bob hét lớn, giật nảy mình bật dậy khỏi đống lửa.
"Anh là anh trai nó à?"
"Không, tôi là bạn của cậu ấy."
"Chà, chuyện là thế này. Một gã đàn ông và một thằng nhãi đã đột nhập vào nhà thờ St. George2 đêm qua. Chúng bắc thang chui tọt qua cửa sổ, còn con chó này thì túc trực ở ngoài để báo động. Khi bị bắt quả tang, trong lúc cuống cuồng tẩu thoát qua cửa sổ, chúng đã bỏ lại con chó trong nhà thờ. Tôi thừa biết rằng cứ bám theo con chó thì ắt sẽ tóm được bọn trộm. Đây là một tên, thế giờ cha nó lẩn trốn ở xó nào rồi?"
Tôi chết lặng, không thốt nên lời. Mattia, nãy giờ vẫn dỏng tai nghe ngóng, lật đật bước ra khỏi xe và tập tễnh tiến về phía tôi. Bob đang ra sức phân trần với viên cảnh sát rằng tôi hoàn toàn vô tội. Cậu ấy quả quyết tôi đã ở lại cùng cậu ấy mãi đến tận một giờ sáng, sau đó tôi mới băng qua màn đêm để tới quán trọ Old Oak, nói chuyện với gã chủ quán ở đó, rồi lập tức quay về đây.
"Vào lúc một giờ mười lăm phút, nhà thờ bị đột nhập," viên sĩ quan rành rọt tuyên bố, "và thằng nhãi này đã rời khỏi đây lúc một giờ để kịp tóm lấy tên kia và lẻn vào nhà thờ."
"Từ đây vào thị trấn mất hơn mười lăm phút cơ mà," Bob vội vã phản bác.
"Nếu chạy thục mạng thì không," viên cảnh sát gằn giọng đáp trả, "và lấy cái gì làm bằng chứng là nó đã rời khỏi đây lúc một giờ?"
"Tôi có thể chứng minh điều đó! Tôi xin lấy danh dự ra thề!" Bob hét lên đầy phẫn uất.
Viên cảnh sát chỉ nhún vai thờ ơ. "Thằng nhãi này có thể giãi bày điều đó với quan tòa," ông ta nói với vẻ dửng dưng.
Lúc tôi bị giải đi, Mattia vòng tay ôm chầm lấy cổ tôi. Bề ngoài, trông cứ như thể cậu ấy đang bịn rịn muốn trao tôi một cái ôm tạm biệt, nhưng thực chất Mattia lại nuôi một mục đích khác.
"Cứ giữ vững dũng khí nhé," cậu ấy khẽ khàng thì thầm vào tai tôi, "chúng mình sẽ không bao giờ bỏ rơi cậu đâu."
"Chăm sóc Capi giúp mình nhé," tôi dặn dò bằng tiếng Pháp, nhưng viên sĩ quan lại hiểu được.
"Ồ, không đâu," ông ta lên tiếng, "Tôi sẽ giữ lại con chó đó. Nó đã giúp tôi tìm ra cậu, chắc mẩm nó cũng sẽ giúp tôi tóm cổ tên còn lại."
Bị còng tay vào tay viên cảnh sát, tôi lầm lũi bước qua bao ánh mắt tò mò của đám đông. Thế nhưng, trái với những người nông dân ở Pháp từng buông lời dè bỉu, mỉa mai trong lần đầu tiên tôi bị bắt giữ, những con người ở đây lại tỏ ra câm lặng. Hầu hết bọn họ đều mang sẵn lòng ác cảm với cảnh sát. Đó đều là những kiếp người du mục, những kẻ sống rày đây mai đó, mang trong mình tâm hồn lang bạt tự do.
Không hề có lấy một củ hành nào được vương vãi trong nhà tù nơi tôi bị giam giữ. Đây là một chốn ngục tù thực sự, với những song sắt lạnh lẽo giăng kín nơi cửa sổ. Cảnh tượng ấy đã nhẫn tâm bóp nghẹt mọi ý nghĩ chạy trốn khỏi tâm trí tôi. Căn phòng giam chật hẹp chỉ trơ trọi một chiếc ghế dài và một chiếc võng. Tôi buông thõng người thả mình xuống ghế, vùi mặt vào hai bàn tay và ngồi lặng thinh như thế rất lâu. Dẫu Mattia và Bob có kêu gọi sự giúp đỡ từ những người bạn khác đi chăng nữa, họ cũng chẳng bao giờ có thể đưa tôi thoát khỏi chốn lao tù này. Tôi đứng dậy, nặng nhọc bước về phía cửa sổ. Những chấn song được rèn rất chắc chắn và ken đặc vào nhau. Bức tường đá dày đến ba feet3 sừng sững uy nghi. Sàn nhà bên dưới được lát bằng những tảng đá lớn, trong khi cánh cửa ra vào lại được gia cố bằng một tấm sắt kiên cố... Không, tôi vĩnh viễn chẳng thể nào trốn thoát.
Tôi bắt đầu vẩn vơ tự hỏi, liệu bản thân có thể chứng minh sự trong sạch của mình hay không, bất chấp sự hiện diện rành rành của Capi tại hiện trường. Có lẽ Mattia và Bob sẽ cứu vãn tình thế bằng cách đưa ra bằng chứng ngoại phạm. Nếu họ làm được điều đó, tôi sẽ được giải thoát, bất kể lời khai câm lặng chống lại tôi từ chú chó đáng thương của mình. Khi người cai ngục mang thức ăn vào, tôi rụt rè hỏi bác ấy xem liệu có mất nhiều thời gian trước khi tôi phải ra hầu tòa hay không. Thuở ấy, tôi nào đâu biết rằng ở nước Anh, tù nhân sẽ bị điệu ra trước vành móng ngựa ngay vào ngày hôm sau khi bị bắt. Người cai ngục, trông có vẻ là một người đàn ông hiền lành và tử tế, ôn tồn báo cho tôi biết rằng mọi chuyện chắc chắn sẽ diễn ra vào ngày hôm sau.
Tôi từng nghe người ta rỉ tai nhau về những người tù tình cờ tìm thấy thông điệp của bạn bè gửi gắm trong những phần thức ăn mang vào. Không còn tâm trí nào để đụng đũa, tôi liền sốt sắng bẻ vụn ổ bánh mì. Chẳng có gì được giấu bên trong cả. Còn sót lại vài củ khoai tây, tôi ra sức nghiền nát chúng thành bột, nhưng mỏi mắt kiếm tìm cũng không thấy nổi một mẩu giấy nhắn bé tẹo nào. Đêm hôm ấy, tôi trằn trọc thức trắng.
Sáng hôm sau, người cai ngục bước vào phòng giam của tôi cùng một bình nước và chiếc chậu rửa. Bác ấy ân cần bảo tôi cứ rửa mặt nếu muốn, bởi vì tôi sắp phải ra trước quan tòa, và một diện mạo tươm tất chẳng bao giờ là thừa cả. Khi người cai ngục quay lại, bác ấy ra hiệu cho tôi đi theo. Chúng tôi bước qua vài dãy hành lang tối tăm, rồi dừng lại trước một cánh cửa nhỏ vừa được mở ra.
"Vào đi cháu," bác ấy nói.
Căn phòng tôi bước vào ngột ngạt đến nghẹt thở. Một âm thanh rì rầm khe khẽ của những giọng nói xa xăm vọng tới. Dù hai bên thái dương đang giật từng hồi thình thịch và đôi chân run rẩy tưởng chừng không thể đứng vững, tôi vẫn cố gắng đưa mắt quan sát xung quanh. Đó là một căn phòng khá lớn với trần nhà cao vút và những ô cửa sổ rộng thênh thang. Quan tòa uy nghi ngồi trên một bục cao. Ngay phía dưới ông là ba viên chức tòa án đang ngồi ở hàng ghế trước. Gần chỗ tôi đứng có một quý ông mặc áo choàng và đội bộ tóc giả đặc trưng. Tôi hết sức ngạc nhiên khi nhận ra đây chính là luật sư bảo vệ cho mình. Nhưng tại sao tôi lại có luật sư? Ông ấy từ đâu đến?
Lẫn trong số các nhân chứng, tôi lờ mờ nhận ra Bob cùng hai người bạn của anh ấy, lão chủ quán trọ Old Oak, và vài gương mặt xa lạ. Rồi ở bục đối diện, đứng giữa những người khác, tôi bắt gặp ánh mắt của viên cảnh sát đã bắt giữ mình đêm qua. Chỉ bằng vài lời đanh thép, công tố viên đã trình bày rành rọt tội danh. Một vụ trộm vừa xảy ra tại Nhà thờ St. George. Những kẻ cắp, gồm một gã đàn ông và một đứa trẻ, đã dùng thang trèo lên và đập vỡ cửa sổ để đột nhập. Chúng còn mang theo một con chó để canh chừng. Vào lúc một giờ mười lăm phút sáng, một người khách bộ hành đi ngang qua đã tinh mắt nhìn thấy ánh đèn le lói trong nhà thờ, bèn lập tức đánh thức người gác chuông. Vài người đàn ông hối hả chạy đến hiện trường; con chó liền sủa vang báo động, nhờ đó những tên trộm kịp thời tẩu thoát qua lối cửa sổ, bỏ lại con vật bơ vơ. Nhưng sự tinh khôn của con chó mới thật đáng kinh ngạc. Ngay sáng hôm sau, nó đã dẫn viên cảnh sát thẳng đến trường đua ngựa, và tại đó, nó lập tức mừng rỡ nhận ra chủ nhân của mình, người không ai khác chính là bị cáo đang đứng thẫn thờ ở bục dành cho tù nhân. Về phần tên trộm thứ hai, họ cho biết đang ráo riết lần theo dấu vết và hy vọng sẽ sớm tóm gọn hắn.
Có quá ít lý lẽ được đưa ra để bênh vực cho tôi; những người bạn của tôi đã cố gắng thiết lập một bằng chứng ngoại phạm, nhưng công tố viên lại sắc sảo vạch ra rằng tôi có thừa thời gian để gặp gỡ đồng bọn ở nhà thờ, rồi mới thong dong chạy về Quán trọ Old Oak. Sau đó, họ chất vấn tôi làm thế nào để giải thích việc con chó của mình lại có mặt trong nhà thờ vào lúc một giờ mười lăm. Tôi chỉ biết thưa rằng mình không thể trả lời được, vì con chó đã không ở cạnh tôi suốt cả ngày hôm đó. Dẫu vậy, tôi vẫn quả quyết thề rằng mình hoàn toàn vô tội. Vị luật sư của tôi đã cố gắng viện lý do rằng chú chó có thể đã đi lạc vào nhà thờ vào ban ngày, rồi vô tình bị nhốt lại khi người gác chuông khóa cửa. Ông ấy đã làm tất cả những gì có thể vì tôi, nhưng lời bào chữa ấy thật sự quá yếu ớt và thiếu sức thuyết phục. Cuối cùng, quan tòa nghiêm nghị tuyên án: Tòa yêu cầu chuyển bị cáo đến nhà tù cấp hạt, chờ Bồi thẩm đoàn4 quyết định xem liệu có cần đưa bị cáo ra xét xử trước Tòa đại hình5 hay không.
Tòa đại hình!
Tôi như kiệt sức, gục ngã xuống băng ghế. Ôi, giá như mình chịu nghe lời Mattia.
-
Tên một nhân vật trong truyện cổ tích dân gian Anh, nổi tiếng với sự dũng cảm và trí thông minh đã đánh bại những gã khổng lồ hung ác. Nhân vật này thường gắn liền với hình ảnh đánh hơi thấy sự hiện diện của kẻ thù. ↩
-
St. George (Thánh George) là vị thánh bảo hộ của nước Anh, biểu tượng của lòng dũng cảm với truyền thuyết cưỡi ngựa đâm chết rồng. Rất nhiều nhà thờ và công trình tại Anh được đặt theo tên ông. ↩
-
Feet (số nhiều của foot) là đơn vị đo chiều dài phổ biến ở Anh và Mỹ. Một foot dài khoảng 30,48 cm. Ba feet tương đương với gần 1 mét. ↩
-
Nhóm người dân bình thường được tòa án lựa chọn ngẫu nhiên để lắng nghe bằng chứng và đưa ra quyết định xem bị cáo có tội hay không, nhằm đảm bảo tính khách quan thay vì chỉ do một quan tòa phán quyết. ↩
-
Cấp tòa án chuyên xét xử những vụ án hình sự nghiêm trọng. Ở Anh, nếu tội danh đủ nặng, nghi phạm sẽ không được xử ở tòa án địa phương mà phải chuyển lên cấp tòa này. ↩
CHAPTER XXIX
IN PRISON
Spring came slowly, but at last the day arrived for the family to leave London. The caravans had been repainted and were loaded with merchandise. There were materials, hats, shawls, handkerchiefs, sweaters, underwear, ear-rings, razors, soap, powders, cream, everything that one could imagine.
The caravans were full. The horses bought. Where, and how? I did not know but we saw them come and everything was then ready for the departure. We did not know if we were to stay with the old grandfather or go with the family, but my father, finding that we made good money playing, told us the night before that we should go on the road with him and play our music.
"Let us go back to France," urged Mattia; "here's a good chance now."
"Why not travel through England?"
"Because I tell you something's going to happen if we stay here, and besides we might find Mrs. Milligan and Arthur in France. If he has been ill she will be sure to take him on their barge, now the summer is coming."
I told him that I must stay.
The same day we started. I saw in the afternoon how they sold the things that cost so little. We arrived at a large village and the caravans were drawn up on the public square. One of the sides was lowered and the goods displayed temptingly for the purchasers to inspect.
"Look at the price! Look at the price!" cried my father. "You couldn't find anything like this elsewhere for the price! I don't sell 'em; I'm giving 'em away. Look at this!"
"He must have stolen them," I heard the people say when they saw the prices. If they had glanced at my shamed looks, they would have known that they were right in their suppositions.
If they did not notice me, Mattia did. "How much longer can you bear this?" he asked.
I was silent.
"Let us go back to France," he urged again. "I feel that something is going to happen, and going to happen soon. Don't you think sooner or later the police will get on to Driscoll, seeing how cheap he's selling the things? Then what'll happen?"
"Oh, Mattia...."
"If you will keep your eyes shut I must keep mine open. We shall both be arrested and we haven't done anything, but how can we prove that? Aren't we eating the food that is paid for by the money that he gets for these things?"
I had never thought of that; it struck me now like a blow in the face.
"But we earn our food," I stammered, trying to defend ourselves.
"That's true, but we're living with thieves," replied Mattia, speaking more frankly than he had ever done before, "and then if we're sent to prison, we can't look for your family. And I'm anxious to see Mrs. Milligan to warn her against that James Milligan. You don't know what he might not do to Arthur. Let us go while we can."
"Let me have a few more days to think it over, Mattia," I said.
"Hurry up, then. Jack the Giant Killer smelled flesh-I smell danger."
Circumstances did for me what I was afraid to do. Several weeks had passed since we left London. My father had set up his caravans in a town where the races were about to be held. As Mattia and I had nothing to do with selling the goods, we went to see the race-course, which was at some distance from the town. Outside the English race-courses there is usually a fair going on. Mountebanks of all descriptions, musicians, and stall holders gather there two or three days in advance.
We were passing by a camp fire over which a kettle was hanging when we recognized our friend Bob, who had been with Mattia in the circus. He was delighted to see us again. He had come to the races with two friends and was going to give an exhibition of strength. He had engaged some musicians but they had failed him at the last moment and he was afraid that the performance the next day would be a failure. He had to have musicians to attract a crowd. Would we help him out? The profits would be divided between the five of us that made up the company. There would even be something for Capi, for he would like to have Capi perform his tricks in the intervals. We agreed and promised to be there the next day at the time he mentioned.
When I told of this arrangement to my father he said that he wanted Capi and that we could not have him. I wondered if they were going to make my dog do some dirty trick. From my look my father guessed my thoughts.
"Oh, it's all right," he said; "Capi's a good watch dog; he must stand by the caravans. In a crowd like we shall have we might easily be robbed. You two go alone and play with your friend Bob, and if you are not finished until late, which will be quite likely, you can join us at the Old Oak Tavern. We shall go on our way again to-morrow."
We had spent the night before at the Old Oak Tavern, which was a mile out on a lonely road. The place was kept by a couple whose appearance did not inspire one with confidence. It was quite easy to find this place. It was on a straight road. The only annoying thing was that it was a long walk for us after a tiring day.
But when my father said a thing I had to obey. I promised to be at the Tavern. The next day, after tying Capi to the caravan, where he was to be on guard, I hurried off to the race-course with Mattia.
We began to play as soon as we arrived and kept it up until night. My fingers ached as though they had been pricked with a thousand pins and poor Mattia had blown his cornet so long that he could scarcely breathe. It was past midnight. Just as they were doing their last turn a big bar of iron which they were using in their feats fell on Mattia's foot. I thought that his foot was broken. Fortunately it was only severely bruised. No bones were broken, but still he could not walk.
It was decided that he should stay there that night with Bob and that I should go on alone to the Old Oak Tavern, for I had to know where the Driscoll family was going the next day. All was dark when I reached the tavern. I looked round for the caravans. They were nowhere to be seen. All I could see, beside one or two miserable wagons, was a big cage from which, as I drew near, came the cry of a wild beast. The beautiful gaudy colored caravans belonging to the Driscoll family were gone.
I knocked at the tavern door. The landlord opened it and turned the light from his lantern full on my face. He recognised me, but instead of letting me go in he told me to hurry after my parents, who had gone to Lewes, and said that I'd better not lose any time joining them. Then he shut the door in my face.
Since I had been in England I had learned to speak English fairly well. I understood clearly what he said, but I had not the slightest idea where Lewes was situated, and besides I could not go, even if I found out the direction, and leave Mattia behind. I began my weary tramp back to the race-course; an hour later I was sleeping beside Mattia in Bob's wagon.
The next morning Bob told me how to get to Lewes and I was ready to start. I was watching him boil the water for breakfast when I looked up from the fire and saw Capi being led towards us by a policeman. What did it mean? The moment Capi recognized me he gave a tug at his leash and escaping from the officer bounded toward me and jumped into my arms.
"Is that your dog?" asked the policeman.
"Yes."
"Then come with me, you're under arrest."
He seized me by the collar.
"What do you mean by arresting him?" cried Bob, jumping up from the fire.
"Are you his brother?"
"No, his friend."
"Well, a man and a boy robbed St. George's Church last night. They got up a ladder and went through the window. This dog was there to give the alarm. They were surprised in the act and in their hurry to get out by the window, the dog was left in the church. I knew that with the dog I'd be sure to find the thieves; here's one, now where's his father?"
I could not utter a word. Mattia, who had heard the talk, came out of the caravan and limped over to me. Bob was telling the policeman that I could not be guilty because I had stayed with him until one o'clock, then I went to the Old Oak Tavern and spoke to the landlord there, and came back here at once.
"It was a quarter after one that the church was entered," said the officer, "and this boy left here at one o'clock so he could have met the other and got to the church."
"It takes more than a quarter of an hour to go from here to the town," said Bob.
"On the run, no," replied the policeman, "and what proves that he left here at one o'clock?"
"I can prove it; I swear it," cried Bob.
The policeman shrugged his shoulders. "This boy can explain to the magistrate," he said.
As I was being led away, Mattia threw his arms about my neck, as though it was because he wanted to embrace me, but Mattia had another object.
"Keep up your courage," he whispered, "we won't forsake you."
"Take care of Capi," I said in French, but the officer understood.
"Oh, no," he said; "I'll keep that dog. He helped me to find you; he may help me to find the other."
Handcuffed to the policeman I had to pass under the gaze of a crowd of people, but they did not jeer me like the peasants in France had done at my first arrest; these people, almost all of them, were antagonistic to the police; they were gypsies, tramps, in fact, the Bohemian vagabond.
There were no onions strewn over this prison where I was now locked up. This was a real jail with iron bars at the windows, the sight of which put all thought of escape from my mind. In the cell there was only a bench and a hammock. I dropped onto the bench and remained for a long time with my head buried in my hands. Mattia and Bob, even with the help of other friends, could never get me away from here. I got up and went over to the window; the bars were strong and close together. The walls were three feet thick. The ground beneath was paved with large stones. The door was covered with a plate of sheet iron.... No, I could not escape.
I began to wonder if it would be possible for me to prove my innocence, despite Capi's presence in the church. Mattia and Bob could help me by proving an alibi. If they could prove this I was saved in spite of the mute testimony that my poor dog had carried against me. I asked the jailer when he brought in some food if it would be long before I should appear before the magistrate. I did not know then that in England you are taken into court the day after arrest. The jailer, who seemed a kindly sort of man, told me that it would certainly be the next day.
I had heard tales of prisoners finding messages from their friends in the food that was brought in to them. I could not touch my food, but I at once began to crumble my bread. I found nothing inside. There were some potatoes also; I mashed them to a pulp, but I found not the tiniest note. I did not sleep that night.
The next morning the jailer came into my cell carrying a jug of water and a basin. He told me to wash myself if I wished to, for I was to appear before the judge, and a good appearance never went against one. When the jailer returned he told me to follow him. We went down several passages, then came to a small door which he opened.
"Pass in," he said.
The room I entered was very close. I heard a confused murmur of voices. Although my temples were throbbing and I could scarcely stand, I was able to take in my surroundings. The room was of fair size with large windows and high ceiling. The judge was seated on a raised platform. Beneath him in front sat three other court officials. Near where I stood was a gentleman wearing a robe and wig. I was surprised to find that this was my lawyer. How was it I had an attorney? Where did he come from?
Amongst the witnesses, I saw Bob and his two friends, the landlord of the Old Oak Tavern, and some men whom I did not know. Then on another stand opposite, amongst several other persons, I saw the policeman who had arrested me. The public prosecutor in a few words stated the crime. A robbery had been committed in St. George's Church. The thieves, a man and a child, had climbed up a ladder and broken a window to get in. They had with them a dog to give the alarm. At a quarter after one, a late pedestrian had seen a light in the church and had at once aroused the sexton. Several men ran to the church; the dog barked and the thieves escaped through the window, leaving the dog behind them. The dog's intelligence was remarkable. The next morning the animal had led the policeman to the race-course where he had recognized his master, who was none other than the accused now standing in the prisoner's dock. As to the second thief, they were on his trail, and they hoped to arrest him shortly.
There was little to be said for me; my friends tried to prove an alibi, but the prosecutor said that I had ample time to meet my accomplice at the church and then run to the Old Oak Tavern after. I was asked then how I could account for my dog being in the church at quarter after one. I replied that I could not say, for the dog had not been with me all day. But I declared that I was innocent. My attorney tried to prove that my dog had wandered into the church during the day and had been locked in when the sexton closed the door. He did his best for me, but the defense was weak. Then the judge said that I should be taken to the county jail to wait for the Grand Jury to decide if I should, or should not, be held for the assizes.
The assizes!
I fell back on my bench. Oh, why had I not listened to Mattia.