CHƯƠNG I
NGÔI LÀNG QUÊ HƯƠNG TÔI
Tôi vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi. Thế nhưng, cho mãi tới năm lên tám, tôi vẫn cứ đinh ninh rằng mình cũng có một người mẹ như bao đứa trẻ khác trên đời. Bởi lẽ, mỗi khi tôi khóc, luôn có một người phụ nữ dịu dàng ôm chặt tôi vào lòng, âu yếm dỗ dành cho đến khi tôi nín bặt mới thôi. Đêm nào cũng vậy, tôi chẳng bao giờ chìm vào giấc ngủ nếu thiếu nụ hôn chúc ngủ ngon của má. Còn những ngày tháng Mười hai, khi từng cơn gió mang theo làn tuyết lạnh buốt quật từng hồi vã lả vào khung cửa sổ, má lại ủ đôi bàn chân bé nhỏ của tôi trong hai bàn tay ấm sực và cất tiếng hát ru êm đềm. Mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in từng giai điệu thân thương ấy. Những lúc tôi đang mải chăn bò ngoài đồng mà cơn giông chợt ập tới, má lại tất tả chạy tuốt ra tận ngõ để đón tôi, rồi lấy chiếc váy xòe bằng vải bông trùm kín cả đầu lẫn vai tôi cho khỏi ướt.
Mỗi bận tôi xích mích với đám con trai trong làng, má lại ân cần bắt tôi kể cho rõ ngọn ngành. Má sẽ nhẹ nhàng khuyên bảo khi tôi trót dại, và mỉm cười khen ngợi khi tôi làm đúng. Chính qua những cử chỉ dịu dàng ấy, cùng với muôn vàn sự chăm chút nhỏ nhặt khác, qua cách má trò chuyện, cách má âu yếm nhìn tôi, và cả cái cách má mắng yêu tôi nữa, tôi đã tin chắc một điều rằng bà chính là người mẹ ruột thịt sinh ra mình.
Ngôi làng của tôi, hay nói chính xác hơn là ngôi làng nơi tôi đã khôn lớn, bởi tôi nào có quê hương, chẳng có nơi chôn nhau cắt rốn, cũng chẳng hề biết cha mẹ mình là ai-ngôi làng nơi tôi trải qua những năm tháng tuổi thơ ấy mang tên Chavanon1; đó là một trong những vùng quê nghèo khó bậc nhất nước Pháp. Người ta chỉ có thể cày cấy trên vài mảnh đất cằn cỗi nhỏ nhoi, bởi lẽ những bãi hoang rộng mênh mông đã bị bụi thạch nam2 và đám kim tước3 mọc ken đặc che phủ. Hai má con tôi nương tựa vào nhau trong một căn nhà nhỏ nép mình ven dòng suối.
Cho đến tận năm lên tám, tôi chưa từng thấy bóng dáng bất kỳ người đàn ông nào trong nhà; thế nhưng má nuôi của tôi đâu phải là góa phụ. Chồng của má vốn là một thợ đẽo đá đang làm thuê trên Paris, và ông chưa từng một lần đáo qua nhà kể từ khi tôi đủ lớn để bắt đầu nhận biết mọi chuyện xung quanh. Thỉnh thoảng, ông mới nhờ một người bạn cùng nghề gửi chút tin tức mỗi khi người đó có dịp về thăm làng, bởi lẽ ở vùng này có rất nhiều nông phu bỏ quê lên thành phố làm thợ đẽo đá.
"Bà Barberin," người đàn ông ấy sẽ nói, "chồng bà vẫn khỏe, ông ấy nhờ tôi báo cho bà biết là ông ấy vẫn đang có việc làm, và gửi cho bà số tiền này. Bà đếm lại xem có đủ không nhé?"
Chỉ có ngần ấy thôi. Má Barberin nghe xong đã thấy nhẹ cả lòng, bởi dẫu sao chồng bà vẫn đang bình an khỏe mạnh và có công ăn việc làm ổn định.
Xin đừng vì chuyện ông Barberin biền biệt xa nhà mà vội nghĩ rằng hai vợ chồng họ cơm không lành, canh không ngọt. Ông ở lại Paris đơn giản chỉ vì công việc mưu sinh níu bước chân ông nơi phồn hoa đô hội. Đến khi tuổi cao sức yếu, ông sẽ lại trở về quê nương tựa bóng xế bên vợ bằng chút tiền còm cõi đã chắt bóp bao năm.
Một buổi chiều tháng Mười một buốt giá, có một người đàn ông lạ mặt nấn ná trước cổng nhà chúng tôi. Lúc bấy giờ, tôi đang mải miết tước những cành củi khô bên thềm cửa. Qua khe hở trên thanh chắn ngang, ông ta khẽ cất tiếng gọi, dò hỏi xem có phải má Barberin ngụ ở chốn này không. Tôi vội vã cất lời xác nhận và dặn ông cứ tự nhiên vào nhà. Khẽ khàng đẩy cánh cổng gỗ đã xỉn màu sương gió, ông ta mệt mỏi lê từng bước nặng nhọc về phía hiên. Trong đời mình, tôi chưa từng thấy ai tiều tụy và lấm lem đến thế. Từ đỉnh đầu cho đến gót giày, ông ta phủ kín một lớp bùn đất nhão nhoét. Rõ ràng, người đàn ông này vừa trải qua một chặng đường thiên lý vô cùng gian nan qua những nẻo đường sình lầy lội. Vừa nghe thấy tiếng động lách cách ngoài sân, má Barberin lật đật chạy ra.
"Tôi mang tin từ Paris về," người lạ mặt cất lời.
Chỉ vừa dứt câu, âm sắc trầm đục của ông đã khiến má Barberin giật thót, gương mặt thoáng nét kinh hoàng.
"Ôi lạy Chúa," bà bật khóc, hai bàn tay run rẩy siết chặt lấy nhau, "có chuyện chẳng lành xảy ra với Jerome rồi sao!"
"Đúng là có chuyện, nhưng bà đừng quá hoảng sợ. Ông ấy bị tai nạn, tính mạng vẫn còn, chỉ e rằng từ nay sẽ mang tật nguyền. Tôi từng trọ chung một buồng với ông ấy. Chớp lúc tôi sửa soạn về quê, ông ấy có nhờ tôi ghé qua gửi gắm đôi lời với bà. Tôi chẳng thể nán lại lâu, đường về nhà còn dăm dặm nữa, mà trời thì cũng đã xế bóng rồi."
Nhưng má Barberin nào có cam lòng, bà tha thiết muốn tỏ tường mọi cơ sự. Thế nên, bà nài nỉ ông ta nán lại dùng một bữa cơm chiều. Đường sá dạo này đi lại trắc trở lắm! Đã vậy, thiên hạ còn râm ran tin đồn sói hoang hay lượn lờ nơi bìa rừng khi đêm xuống. Sáng mai ông cất bước cũng chưa muộn màng gì. Ông ở lại nhé?
Ông ta gật đầu ưng thuận. Chễm chệ ngồi xuống nơi góc lò sưởi ấm áp, ông vừa tợp một ngụm súp vừa chậm rãi tường thuật cho hai má con nghe ngọn nguồn cớ sự. Tai ương giáng xuống khi giàn giáo thình lình đổ sập khiến Barberin trọng thương. Ngặt một nỗi, chỗ đó lại là nơi đáng ra ông không được phép bén mảng tới, thế nên tay chủ thầu lạnh lùng rũ bỏ mọi trách nhiệm bồi thường.
"Thật tội nghiệp cho Barberin," người lạ mặt thở dài, tay xoa xoa vuốt những lớp bùn non giờ đã khô cứng đờ trên hai ống quần tơi tả, "ông ấy chẳng hề được số phận mỉm cười, số quả là đen đủi! Khối kẻ đã vớ bẫm được một khoản tiền kếch xù từ những vụ tai nạn tương tự, nhưng chồng bà thì e là chẳng xơ múi được đồng cắc nào đâu!"
"Số quả là đen đủi!" ông ta chép miệng nhắc lại, giọng nói chất chứa sự cảm thương dạt dào, phơi bày một sự thật trần trụi rằng chính bản thân ông ta cũng sẵn sàng hy sinh một nửa thân xác này miễn là đổi lấy được một khoản tiền bồi thường ấm no. "Tôi đã nói cạn lời với ông ấy rồi, ông ấy phải kiện tay chủ thầu đó tới cùng."
"Kiện cáo ư," má Barberin hoảng hốt thốt lên, "chuyện đó tốn kém tiền bạc lắm."
"Đúng thế, nhưng ngộ nhỡ bà thắng kiện thì sao!"
Má Barberin rạo rực muốn khăn gói lên đường đi Paris ngay tức khắc, chỉ ngặt một nỗi tình thế lại quá đỗi eo le... đường sá thì xa xôi vạn dặm, mà chi phí lại vô cùng tốn kém!
Sáng sớm hôm sau, hai má con tôi tất tả vào làng để thỉnh thị ý kiến của vị linh mục nhân từ. Ngài khuyên má chớ vội vàng lên chốn phồn hoa khi chưa rõ sự tình, chưa biết mình có thể giúp ích được gì hay không. Ngài đã tự tay chắp bút viết một bức thư gửi đến bệnh viện nơi Barberin đang điều trị. Vài hôm sau, thư hồi đáp gửi về báo rằng vợ của Barberin không cần thiết phải lên tận nơi, nhưng bà có thể xoay xở gửi cho chồng một khoản tiền, bởi ông đang ráo riết chuẩn bị đưa gã chủ thầu vô trách nhiệm kia ra tòa.
Ngày nối ngày, tuần lại tiếp tuần trôi qua, thi thoảng chúng tôi lại nhận được những phong thư giục giã gửi thêm lộ phí. Bức thư cuối cùng, với những lời lẽ khẩn thiết và tuyệt vọng hơn thảy những lá thư trước, chốt hạ một câu lạnh lùng rằng nếu tiền bạc đã cạn kiệt, thì chỉ còn nước phải bán con bò đi để lo liệu cơ sự.
Chỉ những ai từng gắn bó với ruộng đồng, từng chung sống với những người nông dân chân lấm tay bùn mới thấu suốt được nỗi chua xót nghẹn ngào chôn giấu trong ba từ ngắn ngủi, "Bán con bò". Một khi con bò vẫn còn nhẩn nha nhai cỏ trong chuồng, họ sẽ luôn an tâm rằng cái đói sẽ không thể gõ cửa. Mẹ con tôi thường vắt bơ từ những giọt sữa ngọt ngào của nó để điểm xuyết cho bát súp thêm phần béo ngậy, và dùng sữa để hầm khoai tây cho mềm tơi. Chúng tôi đã sống những tháng ngày khỏe mạnh nhờ ân huệ của con bò ấy, đến độ cho đến tận lúc tôi đang ôn lại những dòng hồi ức này, tôi gần như chưa từng một lần được nếm qua hương vị của thịt cá mặn mòi. Nhìn lại, con bò của chúng tôi đâu chỉ là nguồn sống, nó còn là một người bạn tri kỷ thiết tha. Nhiều kẻ vẫn lầm tưởng bò là giống loài đần độn. Đừng nhầm lẫn, chúng vô cùng mẫn tiệp. Mỗi khi chúng tôi kề cà trò chuyện, vuốt ve hay âu yếm nó, nó đều thấu hiểu tất cả. Và chỉ bằng ánh nhìn từ đôi mắt to tròn, êm ái, nó biết cách thổ lộ cho chúng tôi biết niềm vui và nỗi buồn của mình. Thật lòng mà nói, nó yêu thương mẹ con tôi và chúng tôi cũng dành trọn tình cảm cho nó, giản đơn là vậy. Thế mà giờ đây, chúng tôi đành phải gạt nước mắt chia lìa nó, bởi chỉ khi con bò bị bán đi, lòng tham của chồng má Barberin mới được thỏa mãn.
Một gã lái buôn gia súc gõ cửa nhà chúng tôi. Sau khi đảo mắt săm soi kỹ lưỡng nàng Rousette-gã cứ liên hồi lắc đầu nguầy nguậy, bĩu môi chê bai rằng con vật này rớt giá thê thảm, gã chẳng đời nào tống khứ nổi nó cho ai khác đâu, nó làm gì có lấy một giọt sữa, bơ làm ra thì ôi thiu dở tệ,-nhưng rồi chốt lại, gã hào phóng tuyên bố sẽ mua nó. Gã ra vẻ ta đây rủ lòng thương xót, chỉ vì thấy má Barberin là một người đàn bà chân chất, hiền lành nên mới cắn răng chịu thiệt.
Tội nghiệp nàng Rousette, nó dường như cũng linh cảm được tai ương đang giáng xuống. Nó bướng bỉnh trụ lại, nhất quyết không chịu bước ra khỏi chuồng, rồi cất tiếng rống lên những tiếng bi ai thảm thiết.
"Mày vòng ra phía sau rồi đuổi nó ra đây," gã lái buôn hất hàm ra lệnh cho tôi, tay gã chìa ra chiếc roi da đang tòng teng trên cổ.
"Không, thằng bé sẽ không làm thế đâu," má tôi xót xa cất lời. Xoa nhẹ lên tấm lưng trần của nàng Rousette tội nghiệp, má thủ thỉ, giọng đẫm nước mắt: "Nào, cô bé xinh đẹp của má, ngoan ngoãn lại đây... lại đây với má nào."
Rousette chẳng thể nào khước từ được lời kêu gọi ân cần của má. Khi bước chân đã chạm đến mặt đường, gã đàn ông nhẫn tâm buộc chặt nó vào phía sau chiếc xe kéo. Ngựa của gã vút đi như tên bắn, còn nó thì lầm lũi bước theo trong nỗi tủi hờn.
Mẹ con tôi lặng lẽ quay vào nhà, nhưng dẫu một lúc lâu sau, tiếng rống tuyệt vọng của nó vẫn còn văng vẳng bên tai. Không còn những giọt sữa ngọt ngào, cũng chẳng còn chút bơ béo ngậy! Bữa sáng trôi qua với duy nhất một mẩu bánh mì khô khốc, còn bữa tối đành lót dạ bằng củ khoai tây luộc chấm muối.
Ngày lễ Thứ Ba Béo (Shrove Tuesday)4 năm ấy tình cờ rơi vào đúng vài hôm sau khi con bò nhà tôi bị bán đi. Nhớ lại năm ngoái, má Barberin đã thết đãi tôi một bữa tiệc linh đình với cơ man nào là bánh xèo và bánh táo chiên. Lúc ấy, tôi ăn ngon lành đến nỗi gương mặt má rạng ngời lên cùng một nụ cười ngập tràn mãn nguyện. Nhưng giờ đây, nhà chẳng còn cô bò Rousette để vắt sữa hay đánh bơ nữa. Thế là hết hy vọng về ngày lễ Thứ Ba Béo rồi, tôi tự nhủ với một nỗi buồn len lỏi trong lòng.
Ấy vậy mà má Barberin lại dành cho tôi một niềm bất ngờ to lớn. Xưa nay má vốn chẳng có thói quen vay mượn ai, thế nhưng lần này, má cất công đi xin một cốc sữa từ bà hàng xóm, rồi mượn tạm một vắt bơ từ một nhà khác. Và rồi, khi tôi trở về nhà vào khoảng giữa trưa, tôi bắt gặp má đang mải mê trút từng luồng bột mì trắng muốt vào một chiếc bát đất nung cỡ bự.
"Ô," tôi reo lên, bước lại gần má, "bột mì phải không má?"
"Chứ sao nữa," má mỉm cười dịu dàng đáp lời tôi, "đúng là bột mì đấy, Remi bé nhỏ của má ạ, thứ bột tuyệt hảo nhất. Con nhìn xem những vảy bột này mới mịn màng làm sao."
Dù tò mò khôn tả chẳng biết má dùng bột mì để làm gì, nhưng tôi nào dám cất tiếng hỏi. Hơn thế nữa, tôi không muốn má biết tôi vẫn hằng nhớ hôm nay là ngày lễ Thứ Ba Béo, tôi sợ sẽ làm má chạnh lòng.
"Người ta hay làm gì với bột mì nhỉ?" má cất tiếng hỏi, ánh mắt đầy ý cười nhìn tôi.
"Làm bánh mì ạ."
"Rồi làm gì nữa nào?"
"Làm bột nhão ạ."
"Còn gì nữa không?"
"Dạ, con không biết."
"Con biết quá đi chứ, nhưng vì con là một cậu bé ngoan nên con chẳng dám nói ra. Con thừa biết hôm nay là ngày Lễ Bánh xèo (Pancake day)5, nhưng vì con nghĩ nhà mình chẳng còn lấy một giọt sữa hay miếng bơ nào nên con không nỡ nhắc đến. Có đúng vậy không hả con?"
"Ôi, má ơi."
"Má làm sao có thể nỡ để ngày Lễ Bánh xèo trôi qua một cách tẻ nhạt đến vậy với Remi bé nhỏ của má cơ chứ. Con thử ngó vào trong cái thùng kia mà xem."
Tôi lật đật mở nắp thùng ra. Ôi chao, tôi thấy nào sữa, nào bơ, trứng, và cả ba quả táo căng mọng.
"Đưa trứng cho má nào," má nói nhỏ nhẹ; "trong lúc má đập trứng, con gọt vỏ táo đi nhé."
Thế là trong lúc tôi lúi húi thái táo thành từng lát mỏng, má cẩn thận đập trứng vào bột rồi bắt đầu đánh đều tay. Thi thoảng, má lại châm thêm chút sữa cho ngấm. Khi bột đã quyện lại thật đều đặn, má bê chiếc bát đất nung lớn đặt nhẹ lên đám tro hồng, bởi lẽ phải đợi đến bữa tối hai mẹ con tôi mới được thưởng thức bánh xèo và bánh táo. Quả thật, hôm đó là một ngày dài đằng đẵng đối với tôi, và không biết bao nhiêu lần tôi đã len lén nhấc tấm vải đậy trên miệng bát lên để ngó vào trong.
"Con làm bột lạnh mất thôi," má khẽ la lên; "nếu thế bột sẽ chẳng thể nở được đâu con ạ."
Nhưng thật may, bột nở rất đẹp. Những bong bóng nhỏ li ti bắt đầu sủi lên thành từng gợn trên bề mặt, và mùi trứng quyện với sữa tươi đã bắt đầu tỏa ra một mùi hương thơm lừng, ngầy ngậy.
"Con đi chẻ một ít củi đi nhé," má Barberin khẽ bảo; "chúng ta cần một ngọn lửa thật đượm."
Cuối cùng, ngọn nến trong nhà cũng đã được thắp sáng lên.
"Cho củi vào lò đi con!"
Má chẳng cần phải nhắc đến lần thứ hai; từ nãy đến giờ tôi đã nôn nóng chờ đợi câu nói này lắm rồi. Chẳng mấy chốc, một ngọn lửa cháy rực rỡ đã bùng lên trong ống khói, ánh lửa bập bùng soi rọi và sưởi ấm cả căn bếp nhỏ. Kế đến, má Barberin vươn tay gỡ chiếc chảo rán từ trên móc treo xuống rồi đặt ngay ngắn lên bếp lửa.
"Đưa bơ cho má nào!"
Bằng một mũi dao, má gạt nhẹ một miếng bơ to cỡ quả hạch vào trong lòng chảo. Miếng bơ xèo xèo tan chảy tức thì. Đã lâu lắm rồi mẹ con tôi mới lại được ngửi thấy mùi hương này. Ôi, cái mùi bơ mới thơm nức mũi làm sao! Nhưng ngay lúc tôi đang mải mê lắng nghe tiếng bơ cháy xèo xèo vui tai ấy, thì bỗng nhiên, tôi nghe thấy có tiếng bước chân nặng nề vang lên từ ngoài sân.
Ai lại đến quấy rầy chúng tôi vào giờ muộn mằn này cơ chứ? Hẳn lại là người hàng xóm nào đó sang xin củi đây mà. Tôi chẳng có thời gian đâu mà nghĩ ngợi lẩn thẩn thêm, bởi ngay lúc đó má Barberin đã nhúng chiếc thìa gỗ lớn vào bát, múc một muỗng bột đầy trút xèo vào chiếc chảo nóng rực. Đây tuyệt đối không phải lúc để tâm trí bay bổng đi đâu khác. Đột nhiên, có tiếng gậy gõ cộc cộc lên ván gỗ, rồi cánh cửa nhà bật mở tung.
"Ai đấy?" Má Barberin cất tiếng hỏi mà chẳng buồn ngoái đầu lại.
Một bóng đàn ông đã lù lù bước vào. Nhờ ngọn lửa bếp cháy rực hắt sáng lên người ông ta, tôi nom thấy trên tay người này đang lăm lăm một cây gậy lớn.
"Ra thế, mấy người đang bày tiệc ăn mừng ở nhà cơ đấy. Cứ tự nhiên đi!" Ông ta gằn giọng cộc cằn, mỉa mai.
"Lạy Chúa tôi!" Má Barberin thất thanh kêu lên, cuống cuồng đặt vội chiếc chảo rán xuống nền nhà, "Là ông đấy ư, Jerome?"
Rồi má luống cuống túm chặt lấy tay tôi, kéo tuột tôi về phía người đàn ông vẫn đang đứng sững nơi khung cửa.
"Cha con đây."
-
Tên một xã nhỏ nằm ở miền trung nước Pháp. Trong quá khứ, đây là một vùng nông thôn hẻo lánh và cằn cỗi. ↩
-
Loài cây bụi có hoa, thường mọc hoang dại thành từng đám lớn ở những vùng đất khô cằn, chua và thiếu dinh dưỡng tại châu Âu. ↩
-
Một loại cây bụi có hoa màu vàng rực rỡ và nhiều gai nhọn, có sức sống mãnh liệt, thường mọc hoang ở các vùng đất nghèo nàn. ↩
-
Ngày lễ truyền thống ở nhiều nước phương Tây diễn ra trước mùa Chay. Vào ngày này, người dân thường ăn những món giàu dinh dưỡng, béo ngậy để tiêu thụ hết bơ, trứng, sữa trước khi bước vào thời kỳ ăn chay tịnh. ↩
-
Một tên gọi phổ biến khác của ngày Thứ Ba Béo (Shrove Tuesday) tại các nước phương Tây, do món bánh bột mì pha trứng sữa chiên trên chảo (pancake - được dịch là bánh xèo) là món ăn đặc trưng không thể thiếu trong dịp này. ↩
CHAPTER I
MY VILLAGE HOME
I was a foundling. But until I was eight years of age I thought I had a mother like other children, for when I cried a woman held me tightly in her arms and rocked me gently until my tears stopped falling. I never got into bed without her coming to kiss me, and when the December winds blew the icy snow against the window panes, she would take my feet between her hands and warm them, while she sang to me. Even now I can remember the song she used to sing. If a storm came on while I was out minding our cow, she would run down the lane to meet me, and cover my head and shoulders with her cotton skirt so that I should not get wet.
When I had a quarrel with one of the village boys she made me tell her all about it, and she would talk kindly to me when I was wrong and praise me when I was in the right. By these and many other things, by the way she spoke to me and looked at me, and the gentle way she scolded me, I believed that she was my mother.
My village, or, to be more exact, the village where I was brought up, for I did not have a village of my own, no birthplace, any more than I had a father or mother-the village where I spent my childhood was called Chavanon; it is one of the poorest in France. Only sections of the land could be cultivated, for the great stretch of moors was covered with heather and broom. We lived in a little house down by the brook.
Until I was eight years of age I had never seen a man in our house; yet my adopted mother was not a widow, but her husband, who was a stone-cutter, worked in Paris, and he had not been back to the village since I was of an age to notice what was going on around me. Occasionally he sent news by some companion who returned to the village, for there were many of the peasants who were employed as stone-cutters in the city.
"Mother Barberin," the man would say, "your husband is quite well, and he told me to tell you that he's still working, and to give you this money. Will you count it?"
That was all. Mother Barberin was satisfied, her husband was well and he had work.
Because Barberin was away from home it must not be thought that he was not on good terms with his wife. He stayed in Paris because his work kept him there. When he was old he would come back and live with his wife on the money that he had saved.
One November evening a man stopped at our gate. I was standing on the doorstep breaking sticks. He looked over the top bar of the gate and called to me to know if Mother Barberin lived there. I shouted yes and told him to come in. He pushed open the old gate and came slowly up to the house. I had never seen such a dirty man. He was covered with mud from head to foot. It was easy to see that he had come a distance on bad roads. Upon hearing our voices Mother Barberin ran out.
"I've brought some news from Paris," said the man.
Something in the man's tone alarmed Mother Barberin.
"Oh, dear," she cried, wringing her hands, "something has happened to Jerome!"
"Yes, there is, but don't get scared. He's been hurt, but he ain't dead, but maybe he'll be deformed. I used to share a room with him, and as I was coming back home he asked me to give you the message. I can't stop as I've got several miles to go, and it's getting late."
But Mother Barberin wanted to know more; she begged him to stay to supper. The roads were so bad! and they did say that wolves had been seen on the outskirts of the wood. He could go early in the morning. Wouldn't he stay?
Yes, he would. He sat down by the corner of the fire and while eating his supper told us how the accident had occurred. Barberin had been terribly hurt by a falling scaffold, and as he had had no business to be in that particular spot, the builder had refused to pay an indemnity.
"Poor Barberin," said the man as he dried the legs of his trousers, which were now quite stiff under the coating of mud, "he's got no luck, no luck! Some chaps would get a mint o' money out of an affair like this, but your man won't get nothing!"
"No luck!" he said again in such a sympathetic tone, which showed plainly that he for one would willingly have the life half crushed out of his body if he could get a pension. "As I tell him, he ought to sue that builder."
"A lawsuit," exclaimed Mother Barberin, "that costs a lot of money."
"Yes, but if you win!"
Mother Barberin wanted to start off to Paris, only it was such a terrible affair ... the journey was so long, and cost so much!
The next morning we went into the village and consulted the priest. He advised her not to go without first finding out if she could be of any use. He wrote to the hospital where they had taken Barberin, and a few days later received a reply saying that Barberin's wife was not to go, but that she could send a certain sum of money to her husband, because he was going to sue the builder upon whose works he had met with the accident.
Days and weeks passed, and from time to time letters came asking for more money. The last, more insistent than the previous ones, said that if there was no more money the cow must be sold to procure the sum.
Only those who have lived in the country with the peasants know what distress there is in these three words, "Sell the cow." As long as they have their cow in the shed they know that they will not suffer from hunger. We got butter from ours to put in the soup, and milk to moisten the potatoes. We lived so well from ours that until the time of which I write I had hardly ever tasted meat. But our cow not only gave us nourishment, she was our friend. Some people imagine that a cow is a stupid animal. It is not so, a cow is most intelligent. When we spoke to ours and stroked her and kissed her, she understood us, and with her big round eyes which looked so soft, she knew well enough how to make us know what she wanted and what she did not want. In fact, she loved us and we loved her, and that is all there is to say. However, we had to part with her, for it was only by the sale of the cow that Barberin's husband would be satisfied.
A cattle dealer came to our house, and after thoroughly examining Rousette,-all the time shaking his head and saying that she would not suit him at all, he could never sell her again, she had no milk, she made bad butter,-he ended by saying that he would take her, but only out of kindness because Mother Barberin was an honest good woman.
Poor Rousette, as though she knew what was happening, refused to come out of the barn and began to bellow.
"Go in at the back of her and chase her out," the man said to me, holding out a whip which he had carried hanging round his neck.
"No, that he won't," cried mother. Taking poor Rousette by the loins, she spoke to her softly: "There, my beauty, come ... come along then."
Rousette could not resist her, and then, when she got to the road, the man tied her up behind his cart and his horse trotted off and she had to follow.
We went back to the house, but for a long time we could hear her bellowing. No more milk, no butter! In the morning a piece of bread, at night some potatoes with salt.
Shrove Tuesday happened to be a few days after we had sold the cow. The year before Mother Barberin had made a feast for me with pancakes and apple fritters, and I had eaten so many that she had beamed and laughed with pleasure. But now we had no Rousette to give us milk or butter, so there would be no Shrove Tuesday, I said to myself sadly.
But Mother Barberin had a surprise for me. Although she was not in the habit of borrowing, she had asked for a cup of milk from one of the neighbors, a piece of butter from another, and when I got home about midday she was emptying the flour into a big earthenware bowl.
"Oh," I said, going up to her, "flour?"
"Why, yes," she said, smiling, "it's flour, my little Remi, beautiful flour. See what lovely flakes it makes."
Just because I was so anxious to know what the flour was for I did not dare ask. And besides I did not want her to know that I remembered that it was Shrove Tuesday for fear she might feel unhappy.
"What does one make with flour?" she asked, smiling at me.
"Bread."
"What else?"
"Pap."
"And what else?"
"Why, I don't know."
"Yes, you know, only as you are a good little boy, you don't dare say. You know that to-day is Pancake day, and because you think we haven't any butter and milk you don't dare speak. Isn't that so, eh?
"Oh, Mother."
"I didn't mean that Pancake day should be so bad after all for my little Remi. Look in that bin."
I lifted up the lid quickly and saw some milk, butter, eggs, and three apples.
"Give me the eggs," she said; "while I break them, you peel the apples."
While I cut the apples into slices, she broke the eggs into the flour and began to beat the mixture, adding a little milk from time to time. When the paste was well beaten she placed the big earthenware bowl on the warm cinders, for it was not until supper time that we were to have the pancakes and fritters. I must say frankly that it was a very long day, and more than once I lifted up the cloth that she had thrown over the bowl.
"You'll make the paste cold," she cried; "and it won't rise well."
But it was rising well, little bubbles were coming up on the top. And the eggs and milk were beginning to smell good.
"Go and chop some wood," Mother Barberin said; "we need a good clear fire."
At last the candle was lit.
"Put the wood on the fire!"
She did not have to say this twice; I had been waiting impatiently to hear these words. Soon a bright flame leaped up the chimney and the light from the fire lit up all the kitchen. Then Mother Barberin took down the frying pan from its hook and placed it on the fire.
"Give me the butter!"
With the end of her knife she slipped a piece as large as a nut into the pan, where it melted and spluttered. It was a long time since we had smelled that odor. How good that butter smelled! I was listening to it fizzing when I heard footsteps out in our yard.
Whoever could be coming to disturb us at this hour? A neighbor perhaps to ask for some firewood. I couldn't think, for just at that moment Mother Barberin put her big wooden spoon into the bowl and was pouring a spoonful of the paste into the pan, and it was not the moment to let one's thoughts wander. Somebody knocked on the door with a stick, then it was flung open.
"Who's there?" asked Mother Barberin, without turning round.
A man had come in. By the bright flame which lit him up I could see that he carried a big stick in his hand.
"So, you're having a feast here, don't disturb yourselves," he said roughly.
"Oh, Lord!" cried Mother Barberin, putting the frying pan quickly on the floor, "is it you, Jerome."
Then, taking me by the arm she dragged me towards the man who had stopped in the doorway.
"Here's your father."