CHƯƠNG III

ĐOÀN CỦA CỤ VITALIS

Đêm hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình bị lôi xệch vào Trại trẻ mồ côi. Tờ mờ sáng tỉnh giấc, tôi không dám tin là mình vẫn còn nằm đó, trên chiếc giường nhỏ bé quen thuộc. Tôi đưa tay sờ nệm, rồi tự cấu vào cánh tay để xem đây là mơ hay thực. Ồ, đúng vậy, tôi vẫn còn được ở cùng má Barberin.

Suốt buổi sáng hôm đó, má chẳng nói với tôi nửa lời, và tôi bắt đầu thầm nghĩ rằng họ đã từ bỏ ý định tống khứ tôi đi. Có lẽ má đã lên tiếng, kiên quyết giữ tôi lại chăng. Nhưng vừa lúc bóng nắng đứng trưa, Barberin bảo tôi đội mũ lên và đi theo ông. Tôi len lén nhìn má Barberin như chực chờ một tia hy vọng. Canh lúc chồng không để ý, má khẽ ra hiệu bảo tôi cứ ngoan ngoãn đi theo. Tôi đành vâng lời. Má dịu dàng vỗ nhẹ lên vai lúc tôi bước ngang qua, ngầm nhắn nhủ rằng chẳng có gì phải sợ hãi. Lặng thinh không nói một lời, tôi lủi thủi bước theo gót ông.

Từ nhà chúng tôi ra đến làng là một chặng đường khá xa - phải cuốc bộ chừng một giờ đồng hồ. Dọc đường đi, Barberin không hé răng với tôi lấy một câu. Ông cứ thế xăm xăm bước, chân cao chân thấp, thỉnh thoảng lại ngoái đầu nhìn xem tôi có bám theo không. Ông định lôi mình đi đâu? Câu hỏi ấy cứ luẩn quẩn mải miết trong đầu tôi. Bất chấp cái ra hiệu trấn an từ má Barberin, một dự cảm chẳng lành vẫn quặn lên trong lòng, thôi thúc tôi tìm đường bỏ chạy. Tôi cố tình đi rớt lại phía sau, mường tượng cảnh mình sẽ nhảy phốc xuống một con mương nào đó mà Barberin không thể nào đuổi bắt kịp.

Lúc đầu, ông có vẻ bằng lòng khi thấy tôi lầm lũi lẽo đẽo ngay sát gót. Nhưng hiển nhiên, chút ý đồ nhen nhóm của tôi nhanh chóng bị ông nghi ngờ. Ông bất thần quay lại, túm chặt lấy cổ tay tôi. Tôi đành cam chịu rảo bước cho kịp tốc độ của ông. Cứ thế, chúng tôi lê bước vào làng. Bất kỳ ai đi ngang qua cũng ngoái lại trố mắt nhìn, bởi bộ dạng tôi lúc ấy trông chẳng khác nào một con chó dữ đang bị xích.

Lúc chúng tôi sắp sửa bước ngang qua quán rượu, một người đàn ông đứng ngoài cửa cất tiếng gọi Barberin và rủ ông ta vào trong. Barberin liền véo tai tôi, đẩy mạnh tôi vào trước rồi đóng sập cửa lại. Trái với vẻ thô bạo ấy, lòng tôi lại chợt dâng lên một cảm giác nhẹ nhõm lạ kỳ. Dù sao đây cũng chỉ là quán rượu của làng, và từ lâu tôi đã luôn khao khát được một lần ngó xem bên trong ấy ra sao. Đã bao bận tôi thầm tự hỏi rốt cuộc điều gì đang diễn ra đằng sau những tấm rèm đỏ kia, và giờ thì tôi sắp sửa được tỏ tường...

Barberin kéo ghế ngồi xuống bàn cùng người chủ quán vừa vẫy ông ta vào, còn tôi thì lặng lẽ thu mình ngồi cạnh bếp lò. Ở một góc khuất ngay gần đó, có một ông cụ vóc dáng cao lớn với bộ râu dài trắng muốt. Cụ khoác trên người một bộ trang phục kỳ lạ đến mức tôi chưa từng thấy thứ gì tương tự trên đời. Những lọn tóc dài của cụ buông xõa ngang vai, trên đầu đội một chiếc mũ chóp cao màu xám điểm xuyết vài chiếc lông chim xanh đỏ rực rỡ. Một tấm da cừu với phần lông len lộn vào trong được quấn chặt quanh người cụ. Tấm áo da ấy chẳng có tay, nhưng qua hai lỗ lớn khoét rỗng dưới vai, hai cánh tay cụ thò ra, bọc kín trong những ống tay áo nhung tùng tiệm có lẽ xưa kia từng mang sắc xanh lơ. Dưới chân, những chiếc xà cạp len được kéo cao lên tận đầu gối, và để giữ cho chúng khỏi tuột, một dải ruy băng vắt chéo quấn quanh chân cụ mấy vòng chắc chắn. Cụ cứ ngồi yên ở đó, hai khuỷu tay chống lên đôi đầu gối đang vắt chéo nhau. Thật tình, tôi chưa bao giờ thấy một con người bằng xương bằng thịt nào lại mang một dáng vẻ tĩnh tại và bình thản đến nhường ấy. Trông cụ cứ như một vị thánh bước ra từ nhà thờ làng tôi vậy. Nằm cuộn mình quanh cụ là ba chú chó - một chú chó xù trắng tinh, một chú chó xù đen tuyền, cùng một chú chó nhỏ nhắn màu xám tro mang vẻ mặt lanh lợi và vô cùng đáng yêu. Kỳ lạ thay, chú chó xù trắng còn đội chễm chệ một chiếc mũ bảo hiểm cảnh sát sờn cũ, được buộc chặt dưới cằm bằng một sợi dây da mỏng.

Giữa lúc tôi còn đang mải mê trố mắt nhìn ông cụ đầy kinh ngạc, Barberin và gã chủ quán bắt đầu thì thầm to nhỏ. Bản năng mách bảo tôi chính là chủ đề của cuộc mặc cả ấy. Barberin đang thao thao bất tuyệt kể lể rằng ông ta dẫn tôi ra làng là để lôi đến văn phòng thị trưởng, hòng nhờ ngài thị trưởng gây sức ép buộc Trại trẻ mồ côi phải chi tiền trợ cấp nuôi dưỡng tôi. Có lẽ đó là giải pháp cuối cùng mà má Barberin thân yêu có thể níu kéo, nhưng tự sâu thẳm, tôi hiểu rằng nếu Barberin moi được một khoản tiền để tiếp tục nuôi tôi, thì tôi sẽ chẳng còn gì phải sợ hãi nữa.

Vị khách già, người mà nãy giờ tưởng như chẳng bận tâm sự đời nhưng thực chất vẫn luôn lắng tai nghe ngóng, bỗng đột ngột đưa tay chỉ thẳng về phía tôi. Cụ quay sang Barberin, cất tiếng bằng một chất giọng lơ lớ đặc trưng:

"Đó là đứa trẻ đang làm vướng chân ông hả?"

"Chính là nó đó."

"Và ông đinh ninh rằng Trại trẻ sẽ chịu xì tiền ra cho ông nuôi nó sao?"

"Lạy Chúa! Vì nó mồ côi không cha không mẹ, mà tôi lại phải tốn bao nhiêu công sức tiền của vì nó, nên thị trấn trả cho tôi chút đỉnh cũng là lẽ công bằng thôi."

"Tôi không bảo thế là không công bằng. Nhưng ông nghĩ trên đời này, cứ việc gì công bằng thì người ta sẽ tự động làm chắc?"

"Ờ thì... không hẳn!"

"Nếu vậy, tôi e rằng ông sẽ chẳng bao giờ nhận được thứ mình muốn đâu."

"Vậy thì tống nó vào Trại! Chẳng có thứ luật lệ nào ép tôi phải chứa chấp nó trong nhà nếu tôi đã không muốn."

"Ngay từ đầu ông đã đồng ý nhận nuôi nó, thì ông phải giữ lời hứa chứ."

"Chà, tôi cóc cần giữ nó nữa. Bất cứ khi nào muốn tống khứ nó đi, tôi sẽ làm ngay lập tức."

"Biết đâu đấy, hiện giờ lại có cách để giải quyết cục nợ này," ông cụ điềm nhiên nói sau vài giây trầm ngâm suy nghĩ, "và lại còn kiếm thêm được chút tiền đút túi nữa."

"Nếu ông chỉ cho tôi cách đó, tôi sẵn sàng bao ông một chầu rượu."

"Gọi đồ uống đi, thế là xong chuyện."

"Chắc chứ?"

"Chắc chắn."

Ông cụ đứng dậy rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện Barberin. Thật kỳ lạ, ngay khoảnh khắc ông cụ cựa mình, tôi chợt thấy tấm áo khoác da cừu của ông cũng nhúc nhích theo. Lớp da phồng lên một chút, khiến tôi thầm tò mò không biết liệu ông có giấu thêm một chú chó nào khác dưới nách áo hay không.

Họ định làm gì tôi đây? Trái tim tôi đập thình thịch liên hồi, ánh mắt chẳng thể nào dứt khỏi người đàn ông xa lạ.

"Ông nhất quyết không cho đứa trẻ này ăn thêm một miếng bánh mì nào nữa nếu chẳng ai chịu móc hầu bao ra trả, đúng chứ?"

"Đúng thế... bởi vì..."

"Thôi, khỏi cần thanh minh lý do làm gì. Chuyện đó chẳng liên quan gì đến tôi. Bây giờ, nếu ông không muốn nuôi nó nữa, thì cứ giao nó cho tôi. Tôi sẽ chịu trách nhiệm."

"Ông á? Ông đòi nhận nuôi nó cơ á!"

"Chẳng phải ông đang muốn tống khứ nó đi sao?"

"Dễ gì mà tôi giao phó một thằng nhóc như nó cho ông. Ông nhìn xem, nó đẹp mã thế này kia mà. Phải nói là thằng nhỏ kháu khỉnh nhất cái làng này đấy!"

"Tôi xem rồi."

"Mày lại đây, Remi!"

Hai đầu gối tôi run bần bật, run rẩy dò dẫm từng bước tiến về phía chiếc bàn.

"Nào, đừng sợ, cháu bé," ông cụ khẽ cất giọng dỗ dành.

"Đấy, ông cứ nhìn cho kỹ mà xem," Barberin lại liến thoắng.

"Thì tôi có chê nó xấu xí đâu, xấu thì tôi đã chẳng thèm ngó ngàng. Tôi đâu có đi tìm một con quái vật."

"À, giá mà nó là một con quái vật hai tai, hay chí ít là một thằng lùn..."

"Thì ông đã khư khư giữ nó lại rồi, bởi ông có thể kiếm bộn tiền nhờ việc mang một con quái vật đi trình diễn. Nhưng thằng bé này đâu phải người lùn, cũng chẳng mọc thêm tai quái gở, nên ông chẳng làm ăn được gì với nó cả. Nó sinh ra bình thường như bao người, tóm lại là với ông, nó vô tích sự."

"Nó biết làm việc chứ bộ."

"Nhưng nó ốm yếu."

"Ốm yếu? Nó á! Ôi lạy Chúa tôi! Nó khỏe khoắn chẳng kém một gã trai tráng nào đâu. Ông nhìn cặp giò của nó xem, rắn rỏi chừng này cơ mà! Đời ông đã thấy đôi chân nào thẳng tắp hơn thế này chưa?"

Nói đoạn, Barberin thô bạo xắn ống quần tôi lên.

"Gầy quá," ông cụ nhận xét.

"Thế còn cánh tay nó thì sao?" Barberin vẫn không chịu thua.

"Cũng chẳng khá hơn đôi chân là mấy... dẫu có nhỉnh hơn đôi chút. Thể trạng này không chịu nổi cảnh cùng đinh1 sương gió đâu."

"Sao cơ, tay chân thế này mà ông còn chê à? Ông cứ tự tay nắn thử xem nào."

Ông cụ luồn bàn tay gầy guộc, nhăn nheo của mình xuống, vuốt ve rồi nắn bóp đôi chân tôi. Ông vừa lắc đầu vừa chun mũi chê bai.

Cảnh tượng này sao mà quen thuộc đến lạ, hệt như cái lần gã lái buôn ghé nhà tôi để mua con bò dạo nọ. Gã ta cũng săm soi, véo chỗ này, nắn chỗ kia. Gã cũng lắc đầu quầy quậy, chê ỏng chê eo rằng con bò này tệ lắm, mua về chẳng mong gì bán lại được giá, thế mà rốt cuộc gã vẫn móc ví mua đứt rồi dắt con vật đi. Chẳng lẽ... ông cụ này cũng định mua tôi rồi lôi tôi đi biệt xứ? Ôi, má Barberin ơi! Má Barberin!

Giá mà tôi có đủ can đảm, hẳn tôi đã hét lên rằng mới tối hôm qua thôi, chính Barberin còn đay nghiến tôi là đồ ốm đói, chân tay tong teo như que củi. Nhưng tôi biết tỏng mình sẽ chẳng được ích lợi gì ngoài việc chuốc thêm một trận đòn roi chửi bới, nên đành cắn răng im lặng.

Hai gã đàn ông kỳ kèo qua lại hồi lâu, đem từng khuyết điểm, ưu điểm của tôi ra mà mổ xẻ.

"Thôi được rồi, dù nó có ra sao đi chăng nữa," rốt cuộc ông cụ cũng chốt hạ, "tôi sẽ nhận nó. Nhưng ông phải nhớ cho kỹ điều này, tôi không mua đứt thằng bé. Tôi chỉ thuê nó thôi. Tôi sẽ trả cho ông hai mươi franc2 mỗi năm."

"Hai mươi franc cơ à!"

"Một món hời đấy chứ, và tôi sẽ trả trước bằng tiền mặt."

"Nhưng nếu tôi cứ giữ nó lại, chính quyền thị trấn sẽ chu cấp cho tôi hơn mười franc một tháng."

"Tôi biết tỏng cái khoản trợ cấp ấy, nhưng bù lại, ông sẽ phải tốn cơm nuôi báo cô3 nó."

"Nó có thể làm việc."

"Nếu ông nghĩ nó làm nên trò trống gì thì ông đã chẳng sốt sắng muốn tống cổ nó đi đến thế. Những kẻ như ông nhận nuôi trẻ lạc đâu phải vì mấy đồng bạc lẻ người ta trả công nuôi dưỡng, mà là vì mưu đồ bóc lột sức lao động của chúng. Ông coi chúng như đám người hầu không công, để chúng cày cuốc bù lại khoản tiền ăn, thế là ông chẳng mất một cắc tiền lương nào. Nếu thằng bé này thực sự vắt ra được nhiều giá trị cho ông, thì ông đã tóm chặt lấy nó rồi."

"Dù ông có nói ngả nói nghiêng thế nào, thì tôi vẫn đều đặn bỏ túi mười franc mỗi tháng."

"Và ngộ nhỡ Trại trẻ mồ côi không để ông nuôi nữa mà giao thằng bé cho kẻ khác thì sao? Khi đó ông sẽ trắng tay, chẳng xơ múi được đồng nào. Còn với tôi, ông chẳng cần chạy ngược chạy xuôi lo giấy tờ, việc của ông chỉ là ngửa tay ra nhận tiền."

Nói rồi, ông cụ rút một chiếc túi da từ trong nếp áo. Ông đếm đủ bốn đồng bạc trắng, ném xóc xuống mặt bàn. Những đồng xu rơi xuống, va vào nhau kêu leng keng vui tai.

"Nhưng ông phải nghĩ đến chuyện này nữa chứ," Barberin lớn giọng kêu lên; "một ngày nào đó, cha mẹ ruột của thằng ranh này sẽ xuất hiện."

"Thế thì đã sao?"

"Chà, những người cất công nuôi nấng nó đằng nào cũng phải được đền bù chút đỉnh chứ. Nếu tôi không tính tới nước cờ ấy, thì ngay từ đầu tôi đã chẳng thèm rước cục nợ này về làm gì."

Ôi! Lão già độc ác và xảo quyệt! Tôi căm hận Barberin đến tận xương tủy!

"Nghe đây, chính vì ông đinh ninh rằng lúc này cha mẹ nó sẽ không đến nhận con, nên ông mới rắp tâm đuổi nó đi," ông cụ vạch trần. "Còn nếu nhỡ đâu họ có lù lù xuất hiện thật, họ sẽ tìm đến gõ cửa nhà ông, chứ không phải tìm tôi. Bởi lẽ trên đời này, làm gì có ai biết tôi là ai."

"Nhưng ngộ nhỡ ông mới là người tìm ra tung tích của họ thì sao?"

"Vậy thì trong trường hợp đó, chúng ta sẽ cưa đôi món tiền thưởng. Và bây giờ, tôi sẽ chồng thêm ba mươi đồng xu nữa cho thằng bé."

"Bốn mươi đi."

"Không, so với những gì nó có thể làm được cho tôi, cái giá đó là quá vô lý."

"Thế rốt cuộc ông định bắt nó làm cái quái gì? Ông bảo cần một đôi chân dẻo dai, nó có thừa; ông cần đôi tay rắn chắc, nó cũng có đủ. Tôi vẫn giữ nguyên lập trường như lúc nãy. Ông định sử dụng nó vào việc gì?"

Nghe câu hỏi ấy, ông cụ ném cái nhìn giễu cợt về phía Barberin, rồi thong thả uống cạn ly rượu.

"Nó chỉ làm bạn đồng hành với tôi thôi. Tôi đang dần già yếu, và những đêm dài lang thang, tôi thấy có chút cô đơn. Những lúc rã rời mỏi mệt, có một đứa trẻ bên cạnh cũng an ủi phần nào."

"Chà, nếu chỉ có thế thì tôi dám chắc chân nó thừa sức phục vụ ông."

"Ồ, cũng chẳng nhàn hạ đến mức ấy đâu, vì nó còn phải nhảy múa, phải đi bộ miệt mài, rồi lại tiếp tục hành trình và lại nhảy múa. Nó sẽ giữ một vị trí trong đoàn kịch của cụ Vitalis."

"Thế đoàn kịch của ông đang đóng đô ở đâu?"

"Tôi chính là cụ Vitalis đây, và tôi sẽ cho ông chiêm ngưỡng toàn bộ đoàn kịch của tôi ngay tại căn phòng này."

Nói đoạn, ông hé nếp áo da cừu, nhẹ nhàng lôi ra một sinh vật kỳ lạ nãy giờ vẫn được ôm ấp sát lồng ngực. Hóa ra, chính nó là kẻ thi thoảng lại hích tung tà áo lên. Đó chẳng phải là một chú chó con bé xíu như tôi hằng tưởng tượng. Tôi không biết phải gọi sinh vật này là gì, bởi lẽ đây là lần đầu tiên tôi được tận mắt nhìn thấy. Trong cơn kinh ngạc tột độ, tôi đăm đăm nhìn nó. Sinh vật ấy diện một chiếc áo khoác đỏ viền dải băng vàng rực rỡ, nhưng tứ chi lại để trần. Quả thật, chúng là những cánh tay và đôi chân thực thụ chứ chẳng phải móng vuốt loài vật, chỉ có điều chúng được phủ kín bởi một lớp da đen sạm, đầy lông lá, chứ không mang màu da trắng trẻo hay hồng hào. Cái đầu to cỡ nắm tay trông bè và ngắn; mũi thì hếch lên lộ ra đôi lỗ mũi tẹt, còn bờ môi mang một sắc vàng kỳ dị. Nhưng điều cuốn hút tôi hơn cả chính là đôi mắt nằm sát nhau, lấp lánh như hai hòn bi thủy tinh.

"Ôi, con khỉ xấu xí!" Barberin kêu ré lên.

Một con khỉ ư! Mắt tôi mở to hơn nữa. Hóa ra là một con khỉ. Dẫu chưa từng gặp ngoài đời, tôi đã được nghe người ta kể nhiều về chúng. Vậy ra cái sinh vật bé xíu, trông tựa như một đứa trẻ da đen này lại là một con khỉ!

"Đây là ngôi sao sáng giá của đoàn hát chúng tôi," cụ Vitalis cất giọng từ tốn. "Giới thiệu với ông, ngài Pretty-Heart. Nào, Pretty-Heart," - ông quay sang con vật - "mi hãy cúi chào quý khách đi."

Con khỉ bèn đưa tay lên môi, ân cần gửi một nụ hôn gió đến từng người trong chúng tôi.

"Và bây giờ," cụ Vitalis nói tiếp, chìa tay về phía chú chó xù bộ lông trắng muốt, "đến lượt cậu. Ngài Capi sẽ có vinh dự giới thiệu những người bạn đồng hành của mình với các quý khách đáng kính đang hiện diện tại đây."

Chú chó xù nãy giờ vẫn đứng im phăng phắc như tượng, nay bỗng nhanh nhẹn chồm lên. Nó đứng thẳng bằng hai chân sau, vắt chéo hai chân trước trước ngực, rồi rạp mình cúi chào người chủ thấp đến nỗi chiếc mũ kiểu cảnh sát trên đầu nó khẽ chạm cả mặt đất. Vừa hoàn thành xong nghi thức chào hỏi đầy lịch thiệp, nó liền quay sang những người bạn của mình. Một chân vẫn áp chặt vào ngực, nó dùng chân còn lại ra hiệu cho các bạn tiến bước lại gần. Hai chú chó kia, từ nãy vẫn dán chặt ánh nhìn vào Capi, lập tức đứng dậy. Chúng chìa chân ra cho từng người chúng tôi, thực hiện động tác bắt tay điệu nghệ như những quý ông trong giới thượng lưu, rồi lùi lại vài bước và lần lượt cúi chào.

"Đứa tôi gọi là 'Capi' này," cụ Vitalis giải thích, "vốn là từ viết tắt của Capitano trong tiếng Ý, mang ý nghĩa là vị chỉ huy. Cậu chàng là đứa thông minh nhất, luôn đảm nhận việc truyền đạt mệnh lệnh của tôi đến những đứa còn lại. Còn chàng công tử bột khoác áo lông đen đằng kia là ngài Zerbino, cái tên có nghĩa là 'tay chơi'. Ông cứ để ý nó mà xem, tôi tin chắc ông sẽ thấy cái tên ấy quả là đo ni đóng giày4. Còn cô nàng có vẻ mặt đoan trang, dịu dàng này là cô Dulcie. Cô ả mang dòng máu Anh quốc, và cái tên Dulcie được đặt cũng bởi tính cách ngọt ngào, hiền hòa của ả. Cùng với những nghệ sĩ tài ba này, tôi rong ruổi khắp các ngả đường đất nước để mưu sinh. Có bận rủng rỉnh bạc tiền, lại có khi đói meo... âu cũng là duyên số! Nào, Capi!..."

Chú chó xù lại ngoan ngoãn vắt chéo hai chân.

"Capi, lại đây, và cậu hãy cư xử cho thật chững chạc nhé. Những vị khách ở đây đều là người có giáo dục đàng hoàng, thế nên cậu phải thưa chuyện với họ một cách vô cùng lịch thiệp. Cậu làm ơn cho cậu bé đang trố đôi mắt to tròn nhìn cậu kia biết bây giờ là mấy giờ rồi."

Capi bỏ hai chân chéo ra, lững thững bước đến cạnh chủ. Nó khéo léo gạt tấm da cừu sang một bên, sờ soạng chốc lát trong túi chiếc áo gi lê của ông, rồi rút ra một chiếc đồng hồ quả quýt lớn bằng bạc. Chú chó đăm chiêu nhìn chiếc đồng hồ một lúc, đoạn sủa vang hai tiếng dõng dạc. Tiếp sau hai tiếng sủa dứt khoát và sắc gọn ấy, nó lại sủa thêm ba tiếng nhỏ xíu, âm thanh nhẹ và êm hơn hẳn.

Lúc đó vừa vặn là ba giờ kém mười lăm.

"Giỏi lắm," cụ Vitalis ngợi khen; "cảm ơn cậu, ngài Capi. Và bây giờ, cậu hãy yêu cầu cô Dulcie vui lòng biểu diễn màn nhảy dây cho chúng ta thưởng thức nhé."

Capi lại thò chân vào túi áo gi lê của chủ, lôi ra một sợi dây thừng. Nó ra ám hiệu ngắn gọn cho Zerbino. Chú chó đen này lập tức bước vào vị trí đối diện với Capi. Rồi Capi ném cho Zerbino một đầu dây, và cả hai bắt đầu nhịp nhàng quay dây với dáng vẻ vô cùng nghiêm túc. Ngay tắp lự, Dulcie nhẹ nhàng nhảy tõm vào giữa vòng dây. Với đôi mắt xinh đẹp, dịu hiền luôn dán chặt vào chủ, cô nàng bắt đầu uyển chuyển tung tăng theo nhịp điệu.

"Ông thấy chúng có thông minh không," cụ Vitalis nói; "sự thông minh của lũ chó này sẽ còn tỏa sáng hơn nữa nếu tôi có vật đối sánh. Lấy ví dụ nhé, nếu tôi có một thằng ngốc để diễn cùng chúng. Đó chính là lý do tôi muốn mua đứa nhỏ này của ông. Nó sẽ sắm vai một thằng ngốc, cốt để làm nền tôn lên sự khôn ngoan xuất chúng của bọn chó một cách rõ nét nhất."

"Ồ, nó sẽ làm thằng ngốc sao..." Barberin xen ngang.

"Chỉ những kẻ thực sự thông minh mới có thể hóa thân thành một kẻ ngốc," cụ Vitalis đáp lời. "Thằng bé sẽ dư sức nhập vai chỉ sau vài bài huấn luyện. Chúng ta sẽ thử nghiệm nó ngay bây giờ. Nếu nó đủ trí thông minh, nó sẽ sớm hiểu ra rằng, đi theo tôi, nó sẽ được chu du khắp chốn, ngắm nhìn đó đây, thậm chí là đặt chân đến những vùng đất xa lạ. Còn nếu cứ ru rú ở lại chốn này, cả đời nó cũng chỉ luẩn quẩn từ sáng đến tối với bầy gia súc trên cánh đồng quen thuộc. Còn nhược bằng nó chẳng có lấy một chút trí khôn, nó sẽ chỉ biết khóc lóc ỉ ôi, giậm chân ăn vạ. Đến lúc ấy, tôi tuyệt nhiên sẽ chẳng dắt nó theo, và rồi số phận nó sẽ đưa đẩy vào Trại trẻ mồ côi, nơi nó phải quần quật làm lụng mà cái bụng vẫn đói meo."

Tôi cũng thừa thông minh để nhận ra điều đó... bầy chó này quả thật vô cùng thú vị, và hẳn sẽ rất vui sướng nếu được bầu bạn cùng chúng mãi mãi. Thế nhưng Má, má Barberin của tôi!... Cháu làm sao có thể rời xa má cơ chứ!... Rồi lỡ tôi cự tuyệt đi theo, hẳn ông ta cũng chẳng để tôi lại sống yên ổn với má Barberin.... Tôi có thể sẽ bị tống vào Trại trẻ mồ côi thật. Cõi lòng tôi đau đớn tột cùng. Đang lúc đôi mắt tôi nhòa đi vì lệ, cụ Vitalis khẽ vỗ về lên má tôi.

"À, một cậu bé hiểu chuyện, bởi cháu không hề làm ầm ĩ lên. Cháu đang ngầm suy tính thiệt hơn trong cái đầu nhỏ bé kia phải không, và ngày mai..."

"Ôi, thưa ông," tôi khóc nấc lên, "xin ông cho cháu ở lại với má Barberin, làm ơn cho cháu được ở lại."

Tôi chẳng thể thốt thêm được lời nào nữa, bởi tiếng sủa đinh tai nhức óc của Capi đã cắt ngang dòng cảm xúc. Cùng lúc đó, chú chó chồm mạnh về phía chiếc bàn nơi Pretty-Heart đang chễm chệ. Gã khỉ ranh ma, chớp lấy thời cơ mọi người đang dồn hết sự chú ý vào tôi, đã nhanh tay nẫng gọn chiếc ly đầy ắp rượu của chủ và chực nốc cạn. Nhưng Capi, vốn mang bản tính của một chú chó giữ nhà mẫn cán, đã tinh mắt phát hiện ra trò gian xảo của gã khỉ, và hệt như một người đày tớ trung thành, nó đã lao ra ngăn chặn hành vi ấy.

"Ngài Pretty-Heart," cụ Vitalis gằn giọng nghiêm khắc, "mi quả là một kẻ tham ăn và là một tên ăn cắp; bước ngay ra góc kia và úp mặt vào tường cho ta. Còn mi, Zerbino, hãy đứng đó canh chừng: hễ nó nhúc nhích là mi cứ cho nó một bạt tai thật kêu. Về phần cậu, ngài Capi, cậu thật là một chú chó cừ khôi. Đưa chân đây nào. Ta muốn bắt tay cậu."

Gã khỉ ngoan ngoãn lủi ra góc tường, miệng không ngừng phát ra những tiếng rên rỉ nghèn nghẹt, ấm ức. Trong khi đó, chú chó đầy kiêu hãnh và sướng rơn, hãnh diện chìa chân ra cho người chủ.

"Bây giờ," cụ Vitalis điềm nhiên tiếp lời, "hãy quay lại chuyện làm ăn nào. Vậy, tôi sẽ trả ông ba mươi franc cho nó."

I'LL GIVE YOU THIRTY FRANCS FOR HIM "TÔI SẼ TRẢ ÔNG BA MƯƠI FRANC CHO NÓ."

"Không, phải bốn mươi." Barberin cò kè.

Một cuộc kỳ kèo ngã giá bắt đầu nổ ra, nhưng cụ Vitalis đã nhanh chóng ngắt lời bằng một cái khoát tay:

"Chuyện này chẳng liên quan gì đến đứa trẻ cả, hãy để nó ra ngoài chơi đi."

Cùng lúc đó, cụ kín đáo ra hiệu cho Barberin.

"Đúng rồi đấy, đi ra ngoài sân sau nhanh! Nhưng liệu hồn, đừng có nhúc nhích hay chạy lung tung, nếu không thì mày biết tay tao." Barberin gắt gỏng.

Tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc răm rắp vâng lời. Lủi thủi bước ra khoảng sân sau, tôi làm gì còn tâm trí đâu mà đùa nghịch. Tôi thẫn thờ ngồi thụp xuống một tảng đá lớn, phấp phỏng chờ đợi. Ở bên trong kia, họ đang định đoạt số phận của tôi. Rồi đời tôi sẽ ra sao đây? Cuộc ngã giá kéo dài lê thê. Tôi cứ ngồi co ro như thế, cho đến tận một giờ sau Barberin mới bước ra. Ông ta đi ra có một mình. Phải chăng ông ta ra đón tôi để giao nộp cho người đàn ông lạ mặt kia?

"Đi," ông ta cộc lốc hất hàm, "về nhà."

Về nhà! Từ "về nhà" nghe sao mà thiêng liêng đến thế. Vậy là tôi sẽ không phải rời xa má Barberin yêu dấu sao?

Tôi thầm muốn cất tiếng hỏi cho ra nhẽ, nhưng lại sợ hãi nuốt ngược những lời thắc mắc vào trong, bởi trông mặt ông ta lúc này hầm hầm đầy bực tức. Suốt chặng đường mịt mù dằng dặc về nhà, cả hai cứ lầm lũi cất bước trong một sự im lặng nặng nề. Thế nhưng, ngay trước khi bước chân qua ngưỡng cửa, Barberin, người nãy giờ luôn đi cắm cúi phía trước, đột ngột dừng phắt lại.

"Mày biết đấy," ông ta gầm gừ, bàn tay thô ráp lạnh ngắt véo mạnh lấy tai tôi, "nếu mày dám hé răng lấy nửa lời về những chuyện mày tình cờ nghe được ngày hôm nay, thì mày sẽ tự chuốc lấy hậu quả thảm khốc đấy. Đã rõ chưa hả?"




  1. Từ dùng để chỉ tầng lớp người nghèo khổ nhất, ở dưới đáy xã hội xưa, thường phải làm lụng vất vả bần hàn. 

  2. Đơn vị tiền tệ chính thức của Pháp từ cuối thế kỷ 18 cho đến khi chuyển sang sử dụng đồng Euro vào năm 2002. 

  3. Thành ngữ chỉ việc phải tốn công sức, của cải để nuôi một người ăn bám, không làm được việc gì ích lợi để đền đáp lại. 

  4. Thành ngữ chỉ sự phù hợp, vừa vặn một cách hoàn hảo, bắt nguồn từ việc thợ thủ công xưa phải đo kích thước chân ('ni') để làm ra đôi giày vừa khít.