CHƯƠNG XIV

CÁI CHẾT CỦA PRETTY-HEART

Mặt trời ló dạng rực rỡ. Những tia nắng chan hòa tưới tắm lên nền tuyết trắng, biến khu rừng vốn ảm đạm, xám xịt của đêm trước thành một khung cảnh chói lòa đến tức mắt. Vài lần, thầy Vitalis luồn tay dưới lớp chăn để sờ nắn Pretty-Heart, nhưng cơ thể chú khỉ nhỏ tội nghiệp vẫn lạnh toát. Khi cúi gập người sát vào nó, tôi có thể nghe rõ tiếng răng nó va vào nhau lập cập. Dòng máu trong huyết quản nó dường như đã đông cứng lại.

"Chúng ta phải đến một ngôi làng thôi, nếu không Pretty-Heart sẽ chết mất," thầy Vitalis lo lắng nói. "Đi ngay thôi con."

Những lớp vải bọc của thầy đã được hơ nóng và chú vật nhỏ được ủ kỹ trong đó. Thầy cẩn thận nhét nó vào dưới lớp áo gi-lê, áp sát vào ngực mình. Chúng tôi vội vã lên đường.

"Đúng là một chỗ trú ẩn tai hại," thầy Vitalis cất giọng run rẩy, đảo mắt nhìn quanh túp lều tồi tàn lần cuối khi bước ra, "chúng ta đã phải trả một cái giá quá đắt cho sự mến khách này."

Thầy sải bước đi trước, còn tôi lầm lũi bám theo sau. Đi được vài thước, chúng tôi ngoái lại gọi Capi. Chú chó đáng thương vẫn chôn chân trước túp lều, mõm chĩa về phía bầy sói đã cướp đi những người bạn đồng hành của nó.

Mười phút sau, cả hai đã ra tới đường cái. Một chiếc xe ngựa kéo đi ngang qua; người phu xe nhiệt tình cho hay chỉ khoảng một giờ nữa chúng tôi sẽ tới làng. Quả là một tin mừng, thế nhưng chặng đường trước mắt lại vô cùng gian nan, vất vả. Tuyết ngập sâu đến ngang lưng tôi. Chốc chốc tôi lại hỏi thăm thầy Vitalis xem Pretty-Heart ra sao. Nhưng lần nào thầy cũng buồn bã đáp rằng nó vẫn còn run lẩy bẩy. Cuối cùng, chúng tôi cũng thấp thoáng thấy những mái nhà phủ đầy tuyết trắng của một ngôi làng khá lớn. Thường ngày, chúng tôi chẳng bao giờ dám bén mảng tới những quán trọ khang trang. Thầy trò tôi luôn tìm đến một xó xỉnh tồi tàn nào đó, nơi chắc chắn không bị xua đuổi và cũng chẳng ai thèm nhòm ngó chút gia tài ít ỏi của mình.

Nhưng lần này, thầy Vitalis quả quyết bước thẳng vào một quán trọ bề thế với tấm biển hiệu lộng lẫy treo ngay trước cửa bếp. Cửa đang mở toang, bày ra chiếc lò sưởi khổng lồ với những chiếc nồi đồng sáng loáng, bốc khói nghi ngút. Ôi, mùi súp sao mà ngào ngạt, quyến rũ đến thế đối với những kẻ lang thang đang cồn cào vì đói!

Thầy tôi, với điệu bộ vô cùng "quý phái", đầu đội mũ thẳng thớm và dáng vẻ bệ vệ, dõng dạc yêu cầu bà chủ quán chuẩn bị một chiếc giường êm ái cùng một chiếc lò sưởi đỏ rực. Ban đầu bà chủ, một người phụ nữ có nhan sắc, chẳng mảy may để mắt tới chúng tôi, nhưng phong thái uy nghi của thầy Vitalis đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của bà. Bà vội vàng sai một cô hầu gái dẫn chúng tôi lên phòng.

"Nhanh lên, chui vào chăn đi con," thầy Vitalis giục vội trong lúc cô hầu gái đang lúi húi nhóm lửa. Tôi ngạc nhiên nhìn thầy. Sao lại đi ngủ lúc này? Tôi thà được ngồi xuống và lót dạ chút gì đó còn hơn là phải nằm một chỗ.

"Nhanh nào, khẩn trương lên," thầy Vitalis lại thúc giục.

Tôi chẳng biết làm gì khác ngoài việc ngoan ngoãn vâng lời.

Trên giường trải sẵn một chiếc chăn lông vịt dày cộm. Thầy Vitalis đắp nó lên tận cằm tôi.

"Cố gắng ủ ấm đi con," thầy ân cần dặn dò; "con càng ấm càng tốt."

Thế nhưng, tôi lại thấy Pretty-Heart mới là người cần được ủ ấm hơn tôi, vì lúc này người tôi đã hết lạnh. Trong khi tôi nằm ngoan ngoãn dưới chiếc chăn lông vịt để tỏa nhiệt, thì thầy Vitalis, trước con mắt ngỡ ngàng của cô hầu gái, liên tục lật qua lật lại chú khỉ nhỏ Pretty-Heart trước ngọn lửa hồng, cứ như thể thầy đang nướng một món thịt vậy.

"Con thấy người ấm lên chưa?" thầy Vitalis hỏi tôi sau vài phút.

"Con sắp ngộp thở rồi đây thưa thầy."

"Tốt rồi."

Thầy thoăn thoắt bước về phía giường. Thầy đặt Pretty-Heart vào trong chăn, bảo tôi ôm chặt nó vào ngực. Con vật bé bỏng đáng thương, vốn luôn phản ứng gay gắt khi bị bắt ép làm điều mình không thích, giờ đây lại ngoan ngoãn cam chịu mọi sự an bài. Nó nằm im lìm trong vòng tay tôi, chẳng buồn cựa quậy. Lạ thay, nó không còn lạnh buốt nữa; thân nhiệt nó đang tăng lên hầm hập.

Thầy tôi vội vàng chạy xuống bếp và quay lại ngay tức thì với một bát rượu vang pha đường nóng hổi trên tay. Thầy cố mớm cho Pretty-Heart vài thìa, nhưng con vật khốn khổ chẳng thể nào cạy miệng ra nổi. Đôi mắt nó mở to, sáng rực, nhìn chúng tôi với vẻ van lơn như muốn cầu xin đừng hành hạ nó thêm nữa. Rồi nó yếu ớt thò một cánh tay ra khỏi mép chăn, chới với vươn về phía chúng tôi.

Tôi ngẩn người không hiểu nó định làm gì. Thấy tôi ném cái nhìn dò hỏi, thầy Vitalis buồn bã giải thích: Trước khi tôi gia nhập gánh xiếc, Pretty-Heart từng mắc bệnh viêm phổi và người ta đã phải trích máu từ cánh tay1 để chữa trị cho nó. Nhận thức được mình đang ốm, nó muốn chúng tôi trích máu để nó lại được nhảy nhót, nô đùa như xưa.

Chú khỉ nhỏ tội nghiệp! Thầy Vitalis vô cùng xúc động, và hành động này càng khiến thầy thêm phần lo âu. Rõ ràng là Pretty-Heart đang ốm, và nó phải ốm rất nặng mới hờ hững với thứ rượu vang pha đường mà ngày thường nó mê mẩn.

"Uống nốt chỗ rượu này đi Remi, rồi cứ nằm im trên giường nhé," thầy Vitalis dặn. "Thầy phải đi tìm bác sĩ ngay đây."

Phải thú nhận rằng tôi cũng rất hảo món rượu vang pha đường, và hơn nữa bụng tôi đang réo ầm ĩ. Tôi không cần thầy phải ép tới câu thứ hai để uống cạn bát. Vừa uống xong, tôi lại rúc người vào sâu dưới lớp chăn lông vịt, nơi hơi nóng hầm hập tỏa ra, cộng hưởng với tác dụng của rượu, suýt nữa đã làm tôi nghẹt thở.

Thầy Vitalis đi chẳng bao lâu đã quay lại ngay. Thầy dẫn theo một vị quý ông đeo kính gọng vàng - đó là bác sĩ. Nghĩ rằng một vị y bác sĩ danh giá có thể sẽ chẳng cất công lặn lội tới đây chỉ vì một con khỉ, thầy Vitalis đã cố tình không nói rõ danh tính bệnh nhân của mình là ai. Vừa trông thấy tôi nằm trên giường, mặt mũi đỏ gay như quả cà chua chín, vị bác sĩ vội vàng đặt tay lên trán tôi rồi phán ngay tắp lự: "Xung huyết2 rồi."

Ông khẽ lắc đầu, vẻ mặt đầy nghiêm trọng như báo hiệu một điềm chẳng lành.

Phần vì sốt ruột muốn giải thích cho ông hiểu, phần vì sợ ông sẽ đè mình ra trích máu, tôi vội vã kêu lên: "Ô kìa, cháu có ốm đâu ạ!"

"Không ốm à! Trời đất ơi, đứa trẻ này đang nói sảng rồi đây."

Tôi khẽ lật nhẹ mép chăn lên một chút, trỏ tay cho ông thấy Pretty-Heart lúc này đang vòng đôi cánh tay bé xíu ôm chặt lấy cổ tôi.

"Nó mới là người ốm ạ," tôi đáp lời.

"Một con khỉ!" Vị bác sĩ thốt lên kinh ngạc, rồi quay ngoắt sang thầy Vitalis với ánh mắt giận dữ. "Ông bắt tôi phải lặn lội giữa tiết trời khắc nghiệt thế này chỉ để khám bệnh cho một con khỉ sao!..."

Thầy tôi vốn là một người vô cùng thông minh và từng trải, chẳng dễ gì bị sự giận dữ ấy làm cho bối rối. Với một thái độ hết sức lịch thiệp và phong thái bệ vệ, thầy từ tốn ngăn vị bác sĩ đang định quay bước. Rồi thầy ôn tồn giải thích rõ ngọn ngành câu chuyện, kể lại việc chúng tôi đã bị mắc kẹt giữa trận bão tuyết kinh hoàng ra sao, và vì quá khiếp sợ bầy sói đói nên Pretty-Heart đã phải nhảy phốc lên một cành sồi cao, nơi nó gần như bị đông cứng vì giá lạnh. Bệnh nhân này có thể chỉ là một con khỉ nhỏ nhoi, nhưng nó quả thực là một thiên tài! Và hơn hết, nó là một người bạn, một người đồng hành tuyệt vời nhất của chúng tôi! Làm sao chúng tôi nỡ lòng giao phó một sinh vật kỳ diệu và tài năng dường ấy cho một gã bác sĩ thú y tầm thường chăm sóc cơ chứ? Ai mà chẳng biết tay bác sĩ thú y trong làng là một kẻ ngốc nghếch, trong khi tất thảy đều rõ các vị bác sĩ như ông đây là những bậc vĩ nhân của khoa học, dẫu cho có ở những ngôi làng nhỏ bé nhất đi chăng nữa. Hễ có ai gõ cửa một ngôi nhà có treo biển bác sĩ, người đó ắt hẳn sẽ tìm thấy một bậc uyên bác và giàu lòng vị tha. Dẫu khỉ chỉ là loài vật, nhưng theo lời các nhà tự nhiên học lỗi lạc, chúng có cấu tạo cơ thể rất giống con người, thế nên thường thì phương pháp chữa trị một căn bệnh cho khỉ cũng chẳng khác gì cho người. Và chẳng phải sẽ vô cùng thú vị sao, nếu xét từ góc độ y khoa, khi được tự mình nghiên cứu xem những căn bệnh này tiến triển khác nhau ra sao trên cơ thể chúng. Nghe những lời bùi tai ấy, vị bác sĩ đang đứng nơi bậu cửa bèn quay gót trở lại.

Pretty-Heart, dường như cũng đoán được người đàn ông đeo kính gọng vàng kia chính là thầy thuốc, liền ngoan ngoãn chìa cánh tay nhỏ xíu của mình ra.

"Ông nhìn kìa," thầy Vitalis khẽ reo lên, "nó đang muốn ông trích máu cho nó đấy."

Chính hành động ấy đã hoàn toàn thuyết phục vị bác sĩ.

"Chà, thú vị thật; quả là một ca bệnh vô cùng thú vị," ông lẩm bẩm.

Nhưng hỡi ôi! Sau khi tận tình thăm khám, vị bác sĩ buồn bã thông báo với chúng tôi rằng chú khỉ nhỏ bé tội nghiệp ấy đã mắc chứng viêm phổi. Ông cầm lấy cánh tay nó, thận trọng dùng một mũi trích nhỏ đâm vào tĩnh mạch mà nó không hề thốt lên lấy nửa tiếng rên rỉ. Pretty-Heart thừa thông minh để hiểu rằng việc làm đau đớn ấy sẽ giúp nó mau chóng khỏi bệnh.

Sau lần trích máu ấy, nó cần được tận tình chăm sóc. Tất nhiên, tôi không còn nằm lỳ trên giường nữa. Tôi đã hóa thân thành một cậu y tá mẫn cán, nhất nhất làm theo mọi lời dặn dò của thầy Vitalis.

Chú khỉ nhỏ Pretty-Heart tội nghiệp của tôi! Nó có vẻ rất thích được tôi chăm bẵm. Nó nhìn tôi trìu mến rồi nhoẻn một nụ cười buồn bã. Ánh mắt nó lúc ấy trông thấu hiểu hệt như một con người. Sinh vật vốn dĩ luôn láu lỉnh, cáu kỉnh và lúc nào cũng chực chờ bày trò chọc phá mọi người, giờ đây lại trở nên hiền lành, ngoan ngoãn và vâng lời đến lạ thường.

Những ngày sau đó, nó cố gắng bằng mọi cách để thể hiện tình cảm gắn bó với chúng tôi, thậm chí là cả với Capi, chú chó thường xuyên trở thành nạn nhân đáng thương trong những trò đùa tinh quái của nó. Giống như mọi diễn tiến thông thường của bệnh viêm phổi, nó nhanh chóng bắt đầu ho rũ rượi; những cơn ho dai dẳng như vắt kiệt chút sinh lực nhỏ nhoi còn sót lại, khiến cơ thể bé xíu của nó run lên bần bật trong từng cơn co giật đau đớn. Tôi đã dốc cạn tất cả số tiền mình có, vỏn vẹn năm xu lẻ, để mua kẹo que cho nó, nhưng trớ trêu thay, thứ kẹo ngọt ngào ấy chẳng những không giúp nó khá hơn mà còn khiến căn bệnh thêm phần trầm trọng. Với bản năng nhạy bén trời sinh, nó nhanh chóng nhận ra một quy luật: cứ mỗi lần nó ho, tôi lại thưởng cho nó một mẩu kẹo. Lợi dụng điều đó, nó bắt đầu ho liên hồi chỉ để được nếm thứ thuốc ngọt ngào mà nó vô cùng yêu thích, để rồi chính thứ thuốc ấy, thay vì chữa lành, lại đang ngày một bào mòn sức lực của nó.

Khi tôi vô tình phát hiện ra mánh khóe tinh ranh ấy, tất nhiên tôi nhất quyết không cho nó ăn thêm miếng kẹo nào nữa, nhưng nó chẳng hề nản chí. Thoạt tiên, nó nài nỉ bằng một ánh mắt van lơn đầy tội nghiệp; rồi khi thấy tôi vẫn làm ngơ, nó bèn nhỏm dậy ngồi hẳn trên ghế, dùng hai tay ôm khư khư lấy cái bụng, cong người lại và ho một trận hết sức bình sinh. Từng đường gân xanh trên vầng trán bé nhỏ của nó nổi hằn lên rõ rệt, nước mắt giàn giụa tuôn rơi, và màn kịch giả vờ nghẹt thở của nó, rốt cuộc lại vô tình biến thành một cơn ho sặc sụa dữ dội đến mức chính nó cũng chẳng thể nào kiểm soát nổi.

Tôi đành nán lại quán trọ để trông nom Pretty-Heart, nhường phần chạy vạy bên ngoài cho thầy tôi. Một buổi sáng, vừa bước chân về đến phòng, thầy trầm ngâm báo tin bà chủ trọ đã bắt đầu giục món nợ cũ. Từ ngày theo thầy, đây là lần đầu tiên tôi nghe thầy mở miệng bàn chuyện tiền nong. Càng chua xót hơn, tôi vô tình biết được thầy đã phải cắn răng bán đi chiếc đồng hồ của mình để đổi lấy chiếc áo khoác da cừu ủ ấm cho tôi. Giờ đây, dốc sạch túi, thầy rầu rĩ bảo chỉ còn vọn vẹn đúng năm mươi xu. Lối thoát duy nhất lúc này, theo lời thầy, là phải dốc sức tổ chức ngay một buổi diễn trong ngày hôm đó. Một buổi biểu diễn vắng bóng Zerbino, Dulcie và cả Pretty-Heart ư; ôi, sao mà tôi thấy chông gai và bất khả thi đến thế!

"Chúng ta phải bằng mọi giá xoay xở cho ra bốn mươi franc ngay lập tức, con ạ," thầy quả quyết. "Pretty-Heart rất cần được chăm sóc tử tế. Nào là tiền nhóm lò sưởi cho căn phòng bớt lạnh, tiền mua thuốc thang, rồi còn phải thanh toán nợ nần cho bà chủ quán nữa. Chỉ khi trả dứt điểm món nợ này, bà ấy mới đồng ý cho chúng ta nương nhờ thêm ít hôm."

Bốn mươi franc ở cái ngôi làng heo hút này ư! Giữa tiết trời buốt giá thấu xương, với đôi bàn tay trắng cùng chút vốn liếng còm cõi, nghe sao mà xa vời vợi!

Trong lúc tôi túc trực bên giường bệnh của Pretty-Heart, thầy Vitalis đã đôn đáo chạy vạy và mượn tạm được một khu sảnh trong khu chợ chung, bởi lẽ biểu diễn ngoài trời giữa tiết trời này là điều không tưởng. Thầy cặm cụi viết từng tờ thông báo rồi thân chinh dán khắp hang cùng ngõ hẻm của ngôi làng. Chỉ với dăm ba tấm ván gỗ đơn sơ, thầy khéo léo chắp vá nên một bệ sân khấu nhỏ, và quả quyết trút nốt năm mươi xu cuối cùng để sắm vài cây nến, cẩn thận bẻ đôi từng cây để có thêm ánh sáng lấp lánh cho đêm diễn.

Đứng tựa bên bậu cửa sổ, tôi xót xa nhìn bóng thầy lầm lũi đi lại, bước chân mệt nhòa lê lết trên nền tuyết trắng xóa. Bụng bảo dạ, chẳng biết thầy định dàn dựng chương trình ra sao đây. Nhưng nỗi băn khoăn ấy nhanh chóng được giải tỏa, khi người mõ làng, đầu đội chiếc mũ đỏ tươi rực rỡ, uy dũng rảo bước tới và dừng chân ngay trước quán trọ. Một hồi trống vang lên dồn dập, rồi ông ta dõng dạc xướng tên buổi biểu diễn của chúng tôi.

Thầy Vitalis quả thực đã rót vào tai mọi người những lời đường mật nhất! Tờ cáo thị hứa hẹn về sự hiện diện của một danh tài kiệt xuất vang bóng thế giới-chẳng ai khác ngoài Capi-sánh vai cùng một giọng ca trẻ tuổi, một mầm non tài năng xuất chúng; và người đó chẳng ai khác, chính là tôi. Tuy nhiên, điểm hấp dẫn nhất của lời rao này lại nằm ở chỗ không hề ấn định giá vé cố định cho buổi diễn. Chúng tôi trông cậy trọn vẹn thù lao vào lòng hào hiệp của khán giả, ai nấy đều không cần phải trả tiền trước cho đến khi đã xem, đã nghe và vỗ tay tán thưởng rào rào.

Điều đó với tôi nghe sao mà táo bạo vô cùng. Sẽ có ai rộng lòng vỗ tay tán thưởng chúng tôi chứ? Capi thì ắt hẳn xứng đáng nhận được vô vàn lời tung hô, nhưng tôi ư... tự đáy lòng mình, tôi chưa bao giờ dám nhận là một tài năng xuất chúng.

Bất chấp thân hình đang bị cơn bạo bệnh hành hạ tơi bời, ngay khi loáng thoáng nghe thấy nhịp trống vang dội, Pretty-Heart cũng gượng sức ngoi mình ngồi dậy. Giữa mớ âm thanh huyên náo và tiếng sủa râm ran của Capi, dường như nó tinh ý đoán ra đây chính là lời báo hiệu cho một đêm diễn của chúng tôi.

Tôi vội vàng ghì chặt nó nằm xuống giường; nhưng nó cứ vùng vằng, ra hiệu ép tôi phải khoác cho nó bộ quân phục tướng quân oai vệ-chiếc áo khoác và chiếc quần dài nhuộm sắc đỏ rực thêu viền vàng lấp lánh, điểm xuyết thêm chiếc mũ cắm chùm lông chim kiêu hãnh. Chắp đôi bàn tay nhỏ xíu, nó quỳ gối nài nỉ tôi hết lời. Thấy chiêu bài van lơn chẳng chút xê dịch, nó liền đổi giọng giận dỗi, rồi cuối cùng tức tưởi òa khóc nức nở. Rõ ràng là chúng tôi sẽ phải chật vật lắm mới dập tắt được ý định lên sân khấu đêm nay của nó. Có lẽ tốt nhất là giấu nhẹm đi thời điểm chúng tôi cất bước khởi hành.

Lát sau, thầy Vitalis quay về, dặn dò tôi lo chuẩn bị cây đàn hạc cùng mọi đạo cụ thiết yếu cho buổi biểu diễn. Biết rõ ngọn ngành mọi chuyện, Pretty-Heart lập tức quay sang người chủ của mình, tiếp tục bài ca nài nỉ ỉ ôi. Nó chẳng biết lột tả nỗi khát khao của mình ra sao ngoài việc rên rỉ, nhăn nhó nét mặt và vặn mình xoay sở. Những giọt lệ nóng hổi lăn dài trên đôi má nhỏ nhắn, nó rúc đầu hôn lên tay thầy Vitalis bằng những nụ hôn chân thật nhất. "Mi khăng khăng đòi biểu diễn đấy à?" thầy Vitalis mủi lòng hỏi, lúc trước thầy chưa được nghe kể chuyện gì đã xảy ra.

"Vâng, ôi, vâng!" Từng thớ thịt, từng nhịp thở của Pretty-Heart như muốn thét gào lên điều đó. Nó gắng gượng bật nhảy lên, cốt chỉ để chứng minh mình đã hết ốm. Nhưng chúng tôi thừa biết rằng nếu đưa nó ra ngoài sương gió, nó sẽ chết.

Giờ khắc lên đường cũng đã điểm. Trước khi rời bước, tôi tranh thủ nhóm một đống lửa thật to rồi cẩn thận quấn chặt Pretty-Heart trong những tấm chăn dày sụ. Trào dâng nỗi tủi hờn, nó lại thút thít khóc, vòng tay bé xíu ôm siết lấy tôi chặt hết mức có thể, rồi chúng tôi mới cất bước khởi hành.

Giữa lúc lê những bước chân nhọc nhằn qua lớp tuyết phủ, thầy kể cho tôi nghe những gì thầy mong đợi ở tôi. Chắc chắn chúng tôi không thể đem ra trình diễn những tiết mục quen thuộc khi vắng bóng dàn diễn viên trụ cột, song Capi và tôi có thể thi thố để thể hiện tất cả những gì tinh hoa nhất. Chúng tôi phải quyên cho bằng được bốn mươi franc! Bốn mươi franc! Quả là một con số khủng khiếp! Một điều bất khả thi!

Mọi khâu chuẩn bị dưới bàn tay thầy Vitalis đều đã đâu vào đấy. Việc duy nhất còn sót lại bây giờ là thắp sáng những ngọn nến, dẫu vậy, đây lại là một sự xa xỉ mà chúng tôi đành dè sẻn, nhất quyết chờ đến khi khán phòng đã nêm chặt người, bởi lẽ chúng tôi không muốn hệ thống chiếu sáng của mình tàn lụi trước cả khi buổi biểu diễn kết thúc.

Trong lúc chúng tôi sửa soạn trên sân khấu, tiếng trống của bác rao mõ vẫn vang vọng khắp các ngả đường trong làng như một lời mời gọi cuối cùng. Sau khi hóa trang cho bản thân và Capi xong xuôi, tôi rón rén bước ra, nép mình sau một cây cột để len lén quan sát dòng người đổ về.

Tiếng trống dồn dập dội lại mỗi lúc một gần. Tiếng xì xào của đám đông vọng lại từ phía quảng trường chợ. Nối gót sau tiếng trống là một bầy trẻ con rồng rắn kéo đến, bước đều răm rắp. Chẳng hề ngơi tay, bác rao mõ tiến thẳng đến lối vào rạp hát của chúng tôi, dõng dạc đứng giữa hai ngọn đèn rực sáng. Công chúng giờ đây chỉ việc bước vào tìm một chỗ ngồi là buổi biểu diễn có thể bắt đầu.

Than ôi! Sao họ lề mề đến vậy? Tiếng trống trước cửa vẫn kiên nhẫn vang lên những nhịp cắc tùng tùng rộn rã. Có lẽ mọi cậu bé trong ngôi làng này đều đã có mặt đông đủ cả rồi. Nhưng đám trẻ ranh này làm gì đào đâu ra bốn mươi franc cho chúng tôi cơ chứ? Phải có vài vị khách khứa bệ vệ, hào phóng và rủng rỉnh tiền bạc mới mong cứu vãn được tình hình.

Rốt cuộc, thầy Vitalis đành quyết định mở màn, dẫu cho chỗ ngồi trong rạp vẫn còn trống huơ trống hoác. Chúng tôi chẳng thể chần chừ thêm được nữa, nhất là khi nỗi lo về những ngọn nến đang cháy dở cứ canh cánh trong lòng.

Tôi lãnh ấn tiên phong, bước ra sân khấu hát vài bài và tự đệm đàn hạc. Phải thú thực rằng, những tràng pháo tay đáp lại thưa thớt đến thảm thương. Tôi chưa bao giờ ảo tưởng về tài năng mua vui của mình, nhưng sự thờ ơ lạnh nhạt của khán giả trước mọi nỗ lực của tôi thực sự khiến tôi vô cùng chán nản. Nếu tôi không thể làm họ hài lòng, chắc chắn họ sẽ chẳng moi hầu bao cho chúng tôi đồng nào. Tôi cất tiếng hát đâu phải vì chút hư danh; tôi hát vì Pretty-Heart tội nghiệp đang thoi thóp ở nhà. Ôi, giá như tôi có thể khuấy động được bầu không khí ảm đạm này, giá như tôi có thể khiến họ say sưa chìm đắm!... Nhưng rành rành ra đó, họ chẳng mảy may coi tôi là một tài năng xuất chúng gì cho cam.

Capi lại thành công vang dội. Nó được khán giả nhiệt liệt yêu cầu diễn lại mấy bận liền. Nhờ có Capi, buổi biểu diễn khép lại trong một tràng pháo tay giòn giã. Không chỉ vỗ tay, đám đông còn giậm chân rầm rầm tỏ ý tán thưởng.

Khoảnh khắc quyết định đã điểm. Trong khi Capi ngậm chiếc cốc chạy loanh quanh các hàng ghế để quyên tiền, tôi bước ra sân khấu nhảy một điệu vũ Tây Ban Nha mộc mạc, với tiếng nhạc đệm nhịp nhàng của thầy Vitalis. Liệu Capi có xin đủ bốn mươi franc không? Câu hỏi ấy cứ quẩn quanh khiến tim tôi đập thình thịch, dẫu miệng vẫn đang cố nở một nụ cười tươi tắn nhất với công chúng.

Tôi đã mệt đứt hơi, nhưng đôi chân vẫn cứ phải tiếp tục guồng bước, bởi tôi không được phép dừng lại cho đến khi Capi hoàn tất nhiệm vụ. Chú chó chẳng có vẻ gì là vội vã. Cứ thấy ai không chịu ném tiền vào cốc, nó lại chồm hai chân trước lên túi áo người đó như để nhắc nhở. Cuối cùng, thấy Capi chuẩn bị quay về, tôi đinh ninh mình có thể ngừng nhảy, nhưng thầy Vitalis lại đưa mắt ra hiệu cho tôi tiếp tục.

Tôi đành nhảy tiếp, và khi tiến đến gần Capi vài bước, tôi liếc thấy chiếc cốc còn chưa đầy, ôi chao, còn lâu mới đầy. Thầy Vitalis cũng nhận ra điều đó. Cúi gập người chào khán giả, thầy cất cao giọng:

"Thưa các quý ông và quý bà, dẫu không dám tự đề cao, nhưng tôi nghĩ chúng tôi đã cống hiến hết mình cho tiết mục này. Tuy nhiên, vì những ngọn nến của chúng tôi vẫn còn đang cháy, nên nếu quý vị không chê, tôi xin phép được tự mình góp vui vài bài hát. Chú chó Capi của chúng tôi sẽ đi một vòng quyên góp nữa, và những ai ban nãy chưa kịp mở lòng, biết đâu lần này sẽ rộng rãi hầu bao hơn. Xin quý vị chuẩn bị sẵn tiền lẻ nhé."

Tuy là học trò của thầy Vitalis, nhưng quả thực tôi chưa bao giờ được nghe thầy hát, hay ít nhất là chưa bao giờ được nghe thầy cất giọng như trong đêm hôm ấy. Thầy chọn thể hiện hai bài hát, một giai điệu trích từ vở "Joseph3" và một bài trong "Richard Trái Tim Sư Tử4".

Dù chỉ là một cậu bé ranh, chẳng chút am tường về kỹ thuật thanh nhạc, thế nhưng giọng hát của thầy Vitalis đã lay động tâm can tôi một cách kỳ lạ. Tôi lùi lại, nép mình vào một góc sân khấu, khóe mắt hoen sương khi lắng đọng từng nốt nhạc tuyệt vời thốt ra từ lồng ngực thầy.

Xuyên qua làn nước mắt mờ ảo, tôi chợt thấy một quý bà trẻ tuổi, ngồi ngay hàng ghế đầu tiên, đang vỗ tay nồng nhiệt. Tôi đã sớm để ý thấy bà ấy hoàn toàn khác biệt với những người nông dân thô kệch trong rạp. Đó là một quý bà vô cùng trẻ trung và xinh đẹp, và nhìn lướt qua chiếc áo khoác lông thú sang trọng bà đang khoác trên mình, tôi thầm đoán bà hẳn là người phụ nữ giàu có nhất vùng này. Bà ấy đi cùng một cậu bé con, chính là đứa trẻ ban nãy đã vỗ tay tán thưởng Capi nhiệt tình nhất. Hai người họ giống nhau như đúc, hẳn là hai mẹ con.

Sau khi thầy kết thúc bài hát đầu tiên, Capi ngoan ngoãn đi một vòng nữa. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy vị phu nhân nọ chẳng hề thả bất cứ thứ gì vào cốc của nó.

Khi giai điệu từ vở opera thứ hai vừa dứt, bà khẽ vẫy tay gọi tôi lại gần.

"Tôi muốn nói chuyện với vị quý ông kia," bà cất lời.

Tôi trố mắt ngạc nhiên, thâm tâm tôi thầm nghĩ giá như bà ấy thả vài đồng tiền vào cốc thì còn thiết thực hơn. Capi lững thững quay về. Nó thu được quá ít ỏi trong vòng quyên góp thứ hai này.

"Thưa bà, bà muốn gì?" thầy Vitalis lạnh nhạt lên tiếng hỏi.

"Tôi muốn nói chuyện với ông."

"Tôi không có gì để nói."

"Bà ấy chưa cho Capi đồng nào, có lẽ bà ấy muốn cho bây giờ đấy ạ," tôi ghé tai thầy thì thầm.

"Vậy thì Capi phải đến chỗ bà ấy, chứ không phải tôi."

Thế nhưng, sau một thoáng chần chừ, thầy cũng quyết định bước xuống, dẫn theo con chó. Tôi lẽo đẽo theo sau. Lúc này, một người hầu đã vội vã xuất hiện, mang theo một chiếc đèn lồng và một tấm thảm. Anh ta đứng kính cẩn bên cạnh phu nhân và đứa trẻ. Thầy Vitalis cúi chào bà bằng một thái độ hờ hững.

"Xin thứ lỗi vì đã đường đột làm phiền ông," bà từ tốn nói, "nhưng tôi muốn được gửi lời chúc mừng ông."

Thầy Vitalis chỉ cúi đầu đáp lễ, không buông lấy nửa lời.

"Tôi là một nhạc sĩ," quý bà tiếp lời; "tôi nói với ông điều này để ông biết tôi đánh giá cao tài năng xuất chúng của ông đến nhường nào."

Tài năng xuất chúng ư! Thầy tôi ư! Một ông già dắt chó làm trò! Tôi kinh ngạc đến sững sờ.

"Một ông già như tôi làm gì có tài năng cơ chứ," thầy dửng dưng đáp trả.

"Xin đừng nghĩ rằng tôi tò mò, nhưng...." quý bà ngập ngừng bắt đầu.

"Tôi rất sẵn lòng thỏa mãn sự tò mò của bà, thưa bà," thầy ngắt lời; "bà hẳn ngạc nhiên khi thấy một kẻ dắt chó lại có thể ê a đôi chút. Nhưng không phải lúc nào tôi cũng sa sút như bây giờ. Khi còn trẻ, tôi là... người hầu của một ca sĩ vĩ đại, và giống như một con vẹt, tôi đã học mót giọng hát của ông ấy. Tôi bắt đầu lặp lại những bài hát mà ông ấy thường xuyên luyện tập trước mặt tôi. Tất cả chỉ có vậy thôi."

Quý bà im lặng, không buồn đáp lời. Bà nhìn chằm chằm vào thầy Vitalis bằng ánh mắt dò xét. Thầy có vẻ bối rối.

"Tạm biệt ngài," cuối cùng bà cũng cất lời, cố ý nhấn mạnh từ "ngài". "Tạm biệt, và một lần nữa cho phép tôi cảm ơn ngài vì niềm vui tuyệt vời mà ngài đã mang lại cho tôi tối nay." Nói đoạn, bà hơi nghiêng người về phía Capi, thả một đồng tiền vàng sáng lấp lánh vào chiếc cốc của nó.

Tôi cứ đinh ninh thầy Vitalis sẽ tiễn bà ra tận cửa, nhưng thầy vẫn đứng như tượng gỗ, và khi bà đã khuất bóng, tôi nghe thoảng qua tiếng thầy đang lầm bầm chửi thề bằng tiếng Ý.

"Bà ấy cho Capi một đồng louis vàng5 đấy thầy ạ," tôi reo lên.

Tôi tưởng thầy sẽ giáng cho tôi một bạt tai, nhưng cánh tay vừa giơ lên của thầy bỗng buông thõng xuống.

"Một đồng louis," thầy lẩm bẩm, như thể vừa sực tỉnh sau một cơn mê dài. "À, đúng rồi, Pretty-Heart tội nghiệp. Thầy quên bẵng mất nó. Chúng ta phải quay lại với sinh linh bé nhỏ ấy ngay lập tức."

Tôi chạy vội lên cầu thang quán trọ và bước vào phòng trước tiên. Lò sưởi vẫn chưa tàn hẳn nhưng những ngọn lửa đã lụi đi từ lúc nào. Tôi cuống cuồng thắp lên một ngọn nến. Không gian im ắng đến lạ, chẳng có chút động tĩnh nào từ Pretty-Heart. Dưới lớp chăn mỏng, tôi thấy nó nằm duỗi thẳng người, vẫn khoác trên mình bộ quân phục tướng quân oai vệ. Trông nó bình yên như đang say giấc nồng. Tôi khẽ khàng cúi xuống, dịu dàng nắm lấy tay để lay nó dậy. Cảm giác buốt giá truyền đến, bàn tay nó đã lạnh toát. Đúng lúc đó, thầy Vitalis bước vào phòng. Tôi hoảng hốt quay sang nhìn thầy:

"Thầy ơi, người Pretty-Heart lạnh toát rồi," tôi lắp bắp.

Thầy chậm rãi bước đến bên tôi, xót xa cúi người xuống sát mép giường.

"Nó chết rồi," thầy nghẹn ngào thốt lên. "Chuyện gì đến rồi cũng phải đến. Ôi Remi, con trai của thầy, thầy đã sai lầm khi ích kỷ mang con đi khỏi bà Milligan. Thầy đang phải chịu sự trừng phạt. Đầu tiên là Zerbino, Dulcie, rồi bây giờ lại đến Pretty-Heart... và mọi chuyện tồi tệ vẫn chưa dừng lại ở đây đâu!"



  1. Trích máu (bloodletting) là một phương pháp y học phổ biến ở châu Âu trước thế kỷ 20, dựa trên niềm tin rằng việc rút bớt máu sẽ giúp cơ thể thải độc và hạ sốt. Ngày nay khoa học chứng minh phương pháp này thường gây hại nhiều hơn lợi vì làm suy nhược cơ thể. 

  2. Xung huyết (congestion) là tình trạng máu dồn quá nhiều ở một bộ phận cơ thể. Ở đây, vị bác sĩ thời xưa chẩn đoán vội vàng chỉ dựa trên biểu hiện mặt đỏ bừng vì hơi nóng và rượu vang của cậu bé. 

  3. Vở nhạc kịch (opera) kinh điển của Pháp ra mắt năm 1807, do nhà soạn nhạc Étienne Méhul sáng tác. 

  4. Một vở opera comique nổi tiếng của Pháp ra mắt năm 1784 do André Grétry sáng tác. Việc thầy Vitalis chọn hát những tác phẩm hàn lâm và kỹ thuật cao này phần nào hé lộ thân phận và đẳng cấp nghệ thuật thực sự trong quá khứ của ông. 

  5. Đồng xu bằng vàng (Louis d'or) của Pháp thời xưa, có giá trị tương đương 20 franc. Số tiền này bằng đúng một nửa khoản tiền 40 franc khổng lồ mà hai thầy trò đang tuyệt vọng tìm kiếm.