CHƯƠNG II

NGƯỜI CHA NUÔI CỦA TÔI

Má Barberin vừa ôm hôn chồng; tôi cũng toan nhào tới làm theo thì ông ta lạnh lùng giơ cây gậy lên cản lại.

"Thế này là sao?... Bà bảo tôi là..."

"Vâng, đúng vậy, nhưng sự thật không phải thế... bởi vì..."

"À, không phải thế hả?"

Ông ta hầm hầm bước về phía tôi, cây gậy vẫn lăm lăm trên tay; theo bản năng, tôi co rúm người lại. Cháu đã làm gì sai cơ chứ? Chắc chắn là chẳng có lỗi lầm gì! Cháu chỉ định hôn ông thôi mà. Tôi khép nép nhìn ông ta bằng ánh mắt sợ sệt, nhưng ông ta đã quay đi, tiếp tục càu nhàu với má Barberin.

"Thế ra bà đang ăn mừng Lễ Bánh Xèo1 đấy à," ông ta làu bàu. "Tốt thôi, vì tôi đang đói ngấu cán đây. Bà có gì cho bữa tối chưa?"

"Tôi đang làm ít bánh xèo và bánh táo tẩm bột chiên."

"Thấy rồi, nhưng chắc bà không định cho một người đàn ông vừa lội bộ ngần ấy dặm đường ăn ba cái thứ bánh xèo lặt vặt ấy chứ."

"Tôi chẳng còn gì khác cả. Ông xem, chúng tôi nào có ngờ là ông về hôm nay."

"Cái gì? Không còn gì ư! Bữa tối mà lại không có gì sao!" Ông ta liếc đôi mắt sắc lạnh đi khắp gian bếp.

"Có một ít bơ..."

Ông ta ngước lên trần nhà, nơi ngày trước vẫn thường treo thịt xông khói, nhưng cái móc sắt đã bỏ không từ đời thuở nào; giờ chỉ còn lủng lẳng vài xâu hành và tỏi vắt vẻo trên xà.

"Có hành đây rồi," ông ta nói, vươn đầu cây gậy gồ ghề khều một xâu hành rớt xuống; "với bốn năm củ hành này cùng cục bơ, chúng ta sẽ có một nồi súp ra trò. Trút bánh xèo ra đi rồi phi hành vào chảo!"

"Trút bánh xèo ra khỏi chảo rán ư!"

Không dám cãi lại nửa lời, má Barberin lật đật làm theo lệnh chồng. Ông ta gieo mình xuống chiếc ghế cạnh góc lò sưởi. Tôi vẫn trân trân đứng im, chẳng dám nhúc nhích khỏi cái chỗ mà đầu gậy của ông ta vừa đẩy tôi lùi lại. Tôi tựa lưng vào mép bàn, lén đưa mắt quan sát ông ta.

Đó là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, nét mặt hằn học, cục cằn và điệu bộ hết sức thô lỗ. Đầu ông ta hơi vẹo sang vai phải, di chứng từ một vết thương cũ, và cái tật ấy càng khiến vẻ ngoài của ông ta thêm phần đáng sợ.

Má Barberin lại rụt rè đặt chiếc chảo lên bếp lửa.

"Bà định nấu súp với nhúm bơ tí kẹo này thôi hả?" ông ta gắt. Không đợi trả lời, ông ta chộp luôn cái đĩa đựng bơ và trút sạch sành sanh vào chảo. Thế là cạn sạch bơ... và cũng tan tành luôn giấc mộng làm bánh xèo.

Vào bất kỳ ngày nào khác, thảm họa này hẳn sẽ khiến tôi buồn bã tột cùng. Nhưng giờ phút này, tâm trí tôi nào còn chỗ cho bánh xèo hay bánh chiên nữa. Nỗi ám ảnh duy nhất đang bủa vây lấy đầu óc tôi là: người đàn ông có vẻ ngoài độc ác này lại chính là cha mình! Cha tôi! Trong vô thức, tôi cứ lẩm bẩm đi lẩm bẩm lại hai tiếng ấy. Từ trước tới nay, tôi chưa từng mường tượng xem một người cha sẽ ra sao. Một cách đầy mơ hồ, tôi từng phác họa rằng cha chắc hẳn cũng giống như má, chỉ khác là mang chất giọng ồm ồm. Thế nhưng, khi tận mắt nhìn thấy người đàn ông vừa rơi từ trên trời xuống này, tôi chỉ thấy cuộn lên một nỗi lo âu và sợ hãi tột độ. Tôi đã toan ôm hôn ông ta, vậy mà ông ta lại vác gậy đuổi tôi ra. Tại sao chứ? Má tôi nào có bao giờ xua đuổi mỗi khi tôi sà vào lòng; ngược lại, má luôn ôm chặt tôi, vòng tay xiết bao ấm áp.

"Thay vì đứng đực ra như khúc gỗ thế kia," ông ta quát, "mau dọn đĩa lên bàn đi!"

Tôi cuống cuồng làm theo, cập rập đến mức suýt vấp ngã. Súp nấu xong, má Barberin vội vã múc ra đĩa. Lúc bấy giờ, ông ta mới rời khỏi góc sưởi ấm áp, tiến đến bàn và cắm cúi ăn, chỉ thỉnh thoảng mới ngước lên quăng cho tôi một cái lườm sắc lẹm. Bầu không khí ngột ngạt làm tôi thấy nghẹn ứ ở cổ, chẳng thể nào nuốt trôi. Tôi cũng nhìn ông ta, nhưng chỉ dám đưa mắt lén lút nhìn ngang, hễ chạm phải ánh nhìn kia là tôi vội vã quay đầu đi chỗ khác.

"Thường ngày mày không ăn nhiều hơn chừng này à?" ông ta đâm ngang một câu.

"Ồ có chứ, thằng bé ăn khỏe lắm," má tôi đáp thay.

"Thế thì phí thật. Xem ra bây giờ mày chẳng muốn ăn tối nữa rồi."

Má Barberin dường như không muốn hé môi thêm. Má cứ đi ra đi vào, lẳng lặng phục vụ chồng.

"Mày không đói à?"

"Cháu không ạ."

"Thế thì đi ngủ và nhắm mắt lại ngay. Bằng không tao sẽ cho một trận đấy."

Má tôi đưa mắt nhìn tôi như ngầm ra hiệu hãy ngoan ngoãn vâng lời, đừng có cãi bướng. Nhưng lời cảnh báo ấy thật thừa thãi. Đố tôi dám ho he lấy nửa lời.

Giống như bao gia đình nghèo túng khác, căn bếp nhà tôi cũng kiêm luôn phòng ngủ. Gần lò sưởi là nơi bày biện đồ đạc cho bữa ăn-chiếc bàn, mớ nồi niêu xoong chảo và tủ đựng bát đĩa; ở đầu kia là nơi ngả lưng. Một góc là chiếc giường lớn của má Barberin, góc đối diện, nép mình trong một hốc tường nhỏ hẹp, là chiếc giường lèo tèo của tôi được quây bằng một tấm rèm điểm hoa văn màu đỏ.

Tôi lập cập cởi quần áo rồi trèo tót lên giường. Nhưng nhắm mắt ngủ lại là một chuyện hoàn toàn khác. Trong lòng tôi như có lửa đốt, buồn tủi vô hạn. Làm sao người đàn ông này lại có thể là cha tôi được cơ chứ? Và nếu sự thật đúng là vậy, cớ sao ông ta lại nỡ đối xử thậm tệ với tôi đến thế?

Áp chặt mũi vào vách tường lạnh lẽo, tôi ra sức xua đuổi những suy nghĩ ngổn ngang ấy, cố bắt mình phải ngủ như lời ông ta nạt nộ, nhưng sao mà khó quá. Giấc ngủ bặt tăm. Chưa bao giờ tôi thấy đôi mắt mình lại mở trừng trừng thao thức đến nhường này.

Sau một chốc, tôi cũng chẳng rõ là bao lâu, tôi chợt nghe thấy tiếng bước chân ai đó đang tiến về phía chiếc giường của mình. Những bước đi chầm chậm, nặng nề và lê lết, khiến tôi biết ngay đó chẳng phải là má Barberin. Rồi tôi cảm nhận được một luồng hơi thở hầm hập phả thẳng vào má mình.

"Mày ngủ chưa?" Một giọng nói thì thào nhưng đầy vẻ gay gắt cất lên.

Tôi cẩn thận thu mình lại và không đáp lời, bởi câu dọa nạt đáng sợ ban chiều: "Tao sẽ nổi cáu đấy" vẫn còn văng vẳng bên tai.

"Thằng bé ngủ rồi," má Barberin nói vọng lại. "Hễ cứ đặt mình xuống giường là nó lăn ra ngủ say sưa ngay. Ông cứ nói đi, không sợ nó nghe thấy đâu."

Lẽ ra, tôi phải lên tiếng cho ông ta biết là tôi vẫn thức, nhưng tôi thực sự không dám. Tôi đã được lệnh phải đi ngủ ngay, mà giờ này tôi lại thao thức, thành thử ra tôi đang mang tội.

"Thế vụ kiện của ông sao rồi?" má Barberin khẽ hỏi.

"Thua rồi. Lão quan tòa bảo tôi phải tự chịu trách nhiệm vì đã dại dột đứng dưới giàn giáo." Đoạn, ông ta giáng một cú đấm uỳnh xuống bàn, bắt đầu chửi rủa và lầm bầm những lời lẽ hằn học.

"Kiện thua rồi," ông ta tiếp tục sau một đợt tức giận. "Tiền bạc đội nón ra đi sạch sành sanh, cảnh bần hàn nghèo đói đang chực chờ nuốt chửng nhà này. Và dường như chừng đó tai ương hãy còn chưa đủ, nên khi lết xác về đến đây, tôi lại thấy thêm một thằng nhóc con. Tại sao bà không làm theo những gì tôi đã căn dặn?"

"Bởi vì tôi không thể."

"Bà không thể ném nó vào Trại trẻ mồ côi được sao?"

"Một người phụ nữ làm sao có thể vứt bỏ một sinh linh bé bỏng như thế, nhất là khi đã từng cho nó bú mớm và ngày ngày chứng kiến nó lớn lên trong vòng tay yêu thương."

"Nó có phải là con của bà đâu."

"Thì... tôi cũng đã định làm theo lời ông, nhưng đúng lúc đó thằng bé lại đổ bệnh."

"Ốm á?"

"Vâng. Thế là tôi đành giữ nó lại. Mang nó đến cái chốn lạnh lẽo đó, nó có thể bỏ mạng mất."

"Nhưng khi nó khỏe lại thì sao?"

"Khốn nỗi, nó đâu có khỏe lại ngay. Sau đợt ốm đó, những cơn bệnh khác lại kéo đến. Thằng bé ho khan, từng tiếng ho như xé đứt từng khúc ruột tôi. Thằng Nicolas bé bỏng của chúng ta cũng đã ra đi trong cơn ho như thế. Tôi có dự cảm rằng, nếu tôi nhẫn tâm gửi nó đến Trại trẻ mồ côi, nó cũng sẽ chết y như con mình."

"Nhưng sau đó thì sao?... còn sau đó?"

"Thì... thời gian cứ thế trôi đi. Tôi tự nhủ, đằng nào cũng đã chần chừ ngần ấy lâu rồi, nấn ná thêm đôi chút nữa cũng có sao."

"Bây giờ nó mấy tuổi rồi?"

"Tám tuổi."

"Vậy thì, đã đến lúc nó phải đến cái nơi mà lẽ ra nó phải thuộc về từ lâu. Và bây giờ, chắc hẳn nó sẽ chẳng lấy gì làm thích thú với chỗ đó đâu."

"Ôi, Jerome, ông không thể... ông sẽ không làm thế chứ!"

"Tôi không làm ư? Và ai sẽ cản nổi tôi đây? Bà nghĩ chúng ta có thể bao bọc, nuôi báo cô nó cả đời được chắc?"

Một khoảng lặng nghẹt thở bao trùm căn nhà. Tôi tưởng chừng như không thở nổi. Một khối nghẹn vô hình chẹn đắng nơi cổ họng, bóp nghẹt lấy trái tim nhỏ bé của tôi. Sau một lúc, tiếng má Barberin lại cất lên:

"Paris đã làm ông thay đổi quá nhiều rồi! Trước khi đi, ông đâu có nói với tôi những lời lẽ cạn tình như thế."

"Có lẽ vậy. Nhưng nếu Paris đã thay đổi tôi, thì nó cũng suýt cướp đi cái mạng này rồi đấy. Bây giờ tôi trở thành một kẻ tàn phế, không còn khả năng lao động. Chúng ta chẳng còn lấy một xu dính túi. Bò cũng đã bán để cắn răng trả nợ. Ngay cả tấm thân này chúng ta còn không lo nổi, cớ sao lại phải còng lưng đi nuôi một thằng ranh con chẳng chút máu mủ ruột rà gì?"

"Thằng bé là con của tôi."

"Nó chẳng phải con bà, cũng chẳng phải con tôi. Hơn nữa, nó đâu phải thứ bùn đất xuất thân từ chốn thôn quê. Nó không phải con nhà nghèo. Nó rành rành là một cục vàng ẻo lả, tay chân yếu ớt mỏng manh."

"Thằng bé là đứa trẻ khôi ngô nhất làng đấy!"

"Tôi không bảo là nó xấu. Nhưng cứng cáp thì không hề! Bà nghĩ bà có thể nhào nặn một thằng nhãi với bờ vai yếu ớt như thế thành một gã tá điền vạm vỡ được sao? Nó là đứa trẻ của chốn thị thành, và nơi đồng áng này không có chỗ cho thứ công tử bột."

"Tôi đã bảo ông rồi, nó là một đứa trẻ ngoan ngoãn, lanh lợi và thông minh như một chú mèo con. Nó lại có một trái tim nhân hậu, và mai này nó sẽ biết làm lụng để đền đáp chúng ta..."

"Trong lúc chờ đợi ngày đó, thì chúng ta phải cày cục làm việc để đổ cơm vào miệng nó. Mà tôi thì, bà thấy đấy, bây giờ có làm nên trò trống gì nữa đâu."

"Nếu lỡ cha mẹ nó tìm đến nhận con, ông sẽ ăn nói ra sao?"

"Cha mẹ nó! Nó mà có cha mẹ sao? Nếu thực sự có, họ đã lật tung mặt đất này để tìm nó từ kiếp nào rồi. Thật nực cười khi tôi lại ôm cái ảo mộng điên rồ rằng sẽ có ngày cha mẹ nó tìm đến và đền đáp công lao nuôi dưỡng cho chúng ta. Tôi thật quá ngu xuẩn. Chỉ vì nó được bọc trong những món tã lót viền ren đắt tiền, điều đó đâu có đồng nghĩa với việc cha mẹ nó sẽ đoái hoài mà đi tìm nó. Với lại, biết đâu họ đã mồ yên mả đẹp cả rồi."

"Nhưng nhỡ đâu họ chưa chết. Và một ngày nào đó họ có thể đột ngột xuất hiện..."

"Đàn bà các người sao mà cố chấp thế không biết!"

"Nhưng lỡ họ đến thật thì sao?"

"Thì chúng ta cứ nói toẹt ra là đã tống nó vào Trại. Nhưng nãy giờ đôi co như thế là quá đủ rồi. Ngày mai tôi sẽ tự tay đưa nó đi. Bây giờ tôi qua nhà François đây. Một tiếng nữa tôi sẽ về."

Cánh cửa mở ra rồi đóng lại. Ông ta đã đi khỏi. Lúc này tôi vội vã nhỏm dậy trên giường, cất tiếng gọi má Barberin.

"Má! Má ơi!"

Má tất tả chạy đến bên giường tôi.

"Má sẽ để người ta đưa con vào Trại trẻ mồ côi sao?"

"Không đâu, Remi bé bỏng của má, không đời nào."

Má ôm ghì lấy tôi vào lòng, đặt lên trán tôi một nụ hôn chan chứa yêu thương. Nằm gọn trong vòng tay má, tôi thấy cõi lòng dịu lại, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má cũng dần khô.

"Hóa ra nãy giờ con vẫn chưa ngủ ư?" má khẽ khàng hỏi.

"Nhưng đó đâu phải lỗi của con."

"Má có mắng mỏ gì con đâu. Vậy là con nghe thấy hết những lời ông ấy nói rồi phải không?"

"Vâng, má không phải là má ruột của con, nhưng... ông ấy cũng chẳng phải cha con."

Câu cuối cùng, tôi thốt lên bằng một giọng điệu khác hẳn. Bởi lẽ, dẫu có tủi thân tột cùng khi biết người phụ nữ hằng yêu thương mình không phải là mẹ đẻ, thì ở một góc khuất nào đó trong tâm hồn, tôi lại thấy lóe lên niềm vui sướng, thậm chí là nỗi tự hào mơ hồ khi biết gã đàn ông kia chẳng chung máu mủ với mình. Những cảm xúc đan xen, giằng xé ấy đã bộc lộ hết qua chất giọng của tôi. Nhưng dường như má Barberin chẳng mấy bận tâm đến điều đó.

"Đáng lý ra má nên sớm nói cho con biết sự thật, nhưng con giống hệt đứa con do chính má dứt ruột đẻ ra, giống đến mức má chẳng nỡ mở lời nói rằng má không phải mẹ ruột của con. Lúc nãy con cũng nghe Jerome nói rồi đấy, con trai ạ. Ông ấy đã tìm thấy con vào một sớm tinh sương tháng Hai trên Đại lộ Breuteuil ở Paris2. Khi đang trên đường đi làm, ông ấy chợt nghe tiếng trẻ thơ khóc, rồi phát hiện ra con đang nằm trơ trọi trên một bậc thềm. Ông ấy vừa dáo dác nhìn quanh định tìm người giúp đỡ, thì thấy bóng một người đàn ông từ sau gốc cây bước ra rồi vụt bỏ chạy. Con cứ khóc ngằn ngặt, khóc thảm thiết đến mức Jerome chẳng đành lòng đặt con lại chỗ cũ. Đang lúc ông ấy bối rối chưa biết tính sao, thì có vài người đi tới, rồi tất cả cùng thống nhất bế con đến đồn cảnh sát. Lên đến nơi con vẫn không chịu nín. Tội nghiệp đứa bé bỏng, chắc hẳn lúc đó con lạnh cóng cả người. Sau đó, dù đã được ủ ấm bên đồn cảnh sát, con vẫn cứ khóc ré lên, thế là người ta đoán con đang khát sữa. Ôi chao ôi! Hóa ra con đói thật! Đợi con bú no nê, họ mới cởi đồ con ra rồi bế sát lại gần lò sưởi. Một cậu bé hồng hào, kháu khỉnh, trên người lại diện toàn lụa là gấm vóc. Viên trung úy cẩn thận ghi chép lại miêu tả về bộ áo quần cùng nơi tìm thấy con, rồi bảo rằng ông ấy buộc phải gửi con đến Trại trẻ mồ côi nếu không có người đàn ông nào đứng ra nhận nuôi. Ông ấy còn quả quyết rằng một đứa bé xinh xắn, khỏe mạnh nhường này thì chẳng khó nuôi chút nào, lại thêm cha mẹ đứa trẻ ắt hẳn sẽ cất công tìm kiếm và hậu tạ xứng đáng cho bất cứ ai cưu mang con, thế là Jerome liền nói ông ấy sẽ nhận nuôi. Ngẫu nhiên thay, dạo ấy má cũng vừa sinh một em bé trạc tuổi con. Nhờ thế, má dư dả sữa để nuôi cùng lúc hai sinh linh bé bỏng. Sự thể là vậy đó, con yêu ạ, má đã trở thành mẹ của con như thế đấy."

"Ôi, má ơi, má của con ơi!"

"Thôi nào con yêu, nín đi! Rồi ba tháng sau, má vĩnh viễn mất đi đứa con ruột thịt của mình, kể từ dạo ấy má lại càng dồn hết tình yêu thương cho con. Chỉ buồn một nỗi là Jerome mãi chẳng nguôi ngoai chuyện ấy, và sau ba năm ròng rã bặt vô âm tín, chẳng thấy cha mẹ con đến đón, ông ấy đã ép má phải đưa con vào Trại. Con cũng đã nghe rõ lý do vì sao má không làm theo lời ông ấy rồi phải không?"

"Ôi, đừng bắt con phải đến Trại trẻ mồ côi," tôi khóc nấc lên, bám chặt lấy áo má, "má Barberin ơi, con xin má, con van má, đừng gửi con đến Trại."

"Không đâu, con yêu, không đời nào, con sẽ không phải đi đâu cả. Má sẽ lo liệu mọi chuyện. Thật tâm Jerome không phải là người độc ác đâu, rồi con sẽ thấy. Ông ấy đã phải gánh chịu quá nhiều muộn phiền và đang trăn trở về tương lai. Tất cả chúng ta sẽ cùng nhau làm việc, và con cũng thế."

"Vâng, vâng, con sẽ làm bất cứ việc gì má muốn, miễn sao đừng đưa con đến Trại."

"Con sẽ chẳng phải đi đâu cả, với điều kiện là con phải hứa ngoan ngoãn đi ngủ ngay bây giờ. Lát nữa ông ấy về, tuyệt đối không được để ông ấy thấy con còn thức đấy nhé."

Má âu yếm hôn tôi rồi xoay người tôi úp mặt vào vách tường. Tôi cũng muốn thiếp đi, nhưng cú sốc vừa rồi quá đỗi bàng hoàng khiến tôi chẳng thể nào lặng lẽ chìm vào giấc ngủ. Má Barberin tốt bụng, thân yêu lại không phải là mẹ ruột của tôi! Vậy thì một người mẹ ruột thực sự sẽ mang dáng vẻ thế nào đây? Phải chăng người mẹ ấy còn tuyệt vời, còn ngọt ngào hơn gấp bội? Thật không thể tin nổi! Rồi tôi lại nghĩ một người cha ruột có lẽ sẽ chẳng bao giờ nhẫn tâm vung gậy dọa đánh tôi... Ông ta muốn đưa tôi vào Trại trẻ mồ côi, liệu má có ngăn cản được ông ta không?

Trong làng tôi sống cũng có hai đứa trẻ xuất thân từ cô nhi viện. Người ta mỉa mai gọi chúng là "trẻ cứu tế3". Cổ chúng đeo lủng lẳng một tấm thẻ kim loại khắc những con số lạnh lẽo. Bộ dạng chúng lúc nào cũng rách rưới và nhem nhuốc! Lũ trẻ con trong làng thường xuyên buông lời chọc ghẹo, thậm chí ném đá vào chúng. Chúng bị xua đuổi, bị săn lùng chẳng khác nào người ta hùa nhau đuổi đánh một con chó lạc chỉ cốt để mua vui, và cũng bởi một con chó hoang thì làm gì có ai che chở, bênh vực. Ôi, tôi không muốn phải chịu cảnh tủi nhục như những đứa trẻ ấy. Tôi không muốn mang trên cổ một con số vô tri. Tôi không muốn bị người đời bỉ bôi, réo gọi mỉa mai: "Ê, thằng nhóc cứu tế! Ê, đồ con hoang!" Mới mường tượng đến cảnh đó thôi, một luồng khí lạnh đã chạy dọc sống lưng khiến hai hàm răng tôi va vào nhau cầm cập. Tôi trằn trọc mãi chẳng thể chợp mắt. Trong khi đó, ông Barberin thì sắp về tới nơi rồi!

Nhưng may thay, mãi đến đêm khuya ông ta mới lảo đảo bước vào nhà, và giấc ngủ nhọc nhằn đã kịp tìm đến vỗ về tôi trước khi ông ta xuất hiện.




  1. Lễ Bánh Xèo (tiếng Pháp: La Chandeleur) là một ngày lễ truyền thống tại Pháp diễn ra vào mùng 2 tháng Hai hàng năm. Vào ngày này, người dân có phong tục làm bánh crêpe (bánh xèo Pháp) vì chiếc bánh hình tròn, màu vàng rộm tượng trưng cho mặt trời, báo hiệu mùa đông giá rét sắp qua và mùa xuân đang đến. Đây thường là một dịp ăn mừng sung túc. 

  2. Đại lộ Breteuil (Avenue de Breteuil) là một con đường rộng lớn, rợp bóng cây nằm ở khu vực đắt đỏ và danh giá bậc nhất trung tâm thủ đô Paris, Pháp. Vào thế kỷ 19, khu vực này là nơi tọa lạc của nhiều dinh thự sang trọng thuộc giới quý tộc và tầng lớp thượng lưu. 

  3. Trẻ cứu tế (tiếng Pháp: enfant assisté) là thuật ngữ hành chính vào thế kỷ 19 ở Pháp dùng để chỉ những đứa trẻ mồ côi hoặc bị bỏ rơi được chính quyền và các viện mồ côi nhận nuôi dưỡng. Những đứa trẻ này thường bị buộc phải đeo một tấm thẻ kim loại khắc mã số trên cổ để quản lý và thường bị xã hội đương thời hắt hủi, kỳ thị.