CHƯƠNG XXI

GẶP LẠI BẠN CŨ

Chuyến hành trình đằng đẵng mất ngót nghét ba tháng trời, nhưng khi bóng dáng vùng ngoại ô Varses hiện ra trước mắt, chúng tôi hiểu rằng thời gian qua thật không hoài phí. Trong chiếc ví da nhỏ bé của tôi lúc này đã nằm gọn một trăm hai mươi tám franc. Chỉ cần hai mươi hai franc nữa thôi, ước mơ mua một con bò sữa tặng má Barberin sẽ trở thành hiện thực.

Mattia cũng mừng rỡ chẳng kém gì tôi, xen lẫn niềm tự hào khôn tả vì đã tự tay đóng góp vào số tiền ấy. Mà phần của cậu lại chẳng hề nhỏ! Tôi dám chắc rằng, nếu không có cậu sát cánh, tôi và Capi chẳng đời nào gom góp nổi con số khổng lồ lên tới một trăm hai mươi tám franc. Chặng đường từ Varses đến Chavanon vẫn còn dài, và việc kiếm thêm hai mươi hai franc còn thiếu chắc chắn sẽ dễ như trở bàn tay.

Đồng hồ điểm ba giờ chiều khi chúng tôi đặt chân đến Varses. Bầu trời vẫn trong vắt, vầng thái dương vẫn chói lọi rực rỡ, nhưng kỳ lạ thay, càng dấn sâu vào thị trấn, không khí xung quanh càng trở nên u ám mịt mù. Một màn khói xám xịt treo lơ lửng, phủ bóng mờ mịt giữa đất trời.

Tôi từng nghe nói bác của anh Alexix là một thợ mỏ ở Varses, nhưng lại chẳng rõ nhà bác nằm gọn trong lòng thị trấn hay khuất nẻo ngoài vùng ngoại ô. Chút manh mối duy nhất tôi có là bác ấy làm việc tại một khu mỏ mang tên "Truyère."

Dò hỏi người dân quanh thị trấn, chúng tôi được chỉ đường tới tả ngạn sông Divonne. Khu mỏ nằm lọt thỏm trong một thung lũng nhỏ, bị cắt ngang bởi một khe núi cạn, và cái tên khu mỏ cũng bắt nguồn từ chính khe núi ấy. Cảnh sắc thung lũng này xem ra cũng ảm đạm, tẻ nhạt chẳng kém gì quang cảnh thị trấn.

Ghé vào văn phòng khu mỏ, chúng tôi được hướng dẫn tận tình lối đến nhà bác Gaspard, bác của anh Alexix. Đó là một con phố quanh co, uốn lượn đổ dốc từ ngọn đồi xuống dòng sông, cách khu mỏ chỉ một quãng đi bộ ngắn.

Đứng trước cửa nhà, chúng tôi bắt gặp một người phụ nữ đang tựa lưng vào khung cửa, mải mê trò chuyện cùng dăm ba người hàng xóm. Thấy chúng tôi, thím cất lời báo rằng bác Gaspard thợ mỏ sẽ không có nhà trước sáu giờ tối.

"Cậu tìm bác ấy có việc gì?" thím cất giọng dò hỏi.

"Dạ, cháu muốn tìm anh Alexix, cháu trai của bác ấy ạ."

"Ồ? Cậu là Remi à?" thím nói. "Thằng Alexix có nhắc đến cậu. Nó vẫn đang mong cậu. Thế thằng bé kia là ai?" Thím hất hàm chỉ về phía Mattia.

"Dạ, cậu ấy là bạn cháu ạ."

Người phụ nữ ấy hóa ra chính là thím của anh Alexix. Tôi những tưởng thím sẽ xởi lởi mời chúng tôi vào nhà nghỉ chân một lát, bởi hai đứa trông đã rã rời và lấm lem bụi đường, nhưng không, thím chỉ dửng dưng lặp lại rằng nếu tôi quay lại lúc sáu giờ thì sẽ gặp được anh Alexix, người lúc này vẫn còn đang dở tay làm việc dưới mỏ. Vốn tính rụt rè, tôi chẳng đủ can đảm mở lời xin xỏ thứ mà người ta không có nhã ý trao tặng. Tôi lý nhí cảm ơn thím rồi lặng lẽ kéo Mattia quay lại thị trấn, ghé vào một tiệm bánh để mua chút gì bỏ bụng. Thú thật, tôi cảm thấy ngượng nghịu vô cùng trước sự tiếp đón lạnh nhạt ấy. Tôi lo Mattia sẽ sinh lòng thắc mắc: Rốt cuộc chuyện này là sao? Cớ gì chúng tôi phải vượt qua bao dặm đường dài dằng dặc, chỉ để đổi lấy sự hờ hững đến chạnh lòng thế này?

Nỗi bất an trào dâng trong tôi, rằng Mattia sẽ mang ác cảm với những người bạn của tôi, và lỡ đâu mai này khi tôi kể về Lise, cậu ấy sẽ chẳng còn mảy may hào hứng lắng nghe như trước nữa. Trong khi đó, tôi lại khát khoải mong mỏi cậu ấy sẽ quý mến Lise biết nhường nào! Thái độ lạnh như băng của người thím đã dập tắt chút động lực mong manh cất bước quay lại căn nhà ấy. Bởi thế, khi đồng hồ điểm gần sáu giờ, tôi, Mattia và Capi đã đứng chôn chân trước lối vào khu mỏ, kiên nhẫn ngóng chờ bóng dáng anh Alexix.

Chúng tôi đã được chỉ trước cửa hầm nơi những người thợ mỏ sẽ đi ra. Tầm sáu giờ hơn, từ trong màn đêm sâu thẳm của hầm lò, vài đốm sáng nhỏ xíu bắt đầu le lói rồi lớn dần lên. Các thợ mỏ, tay xách đèn, lê bước ra đón ánh sáng ban ngày sau khi đã kết thúc ca làm việc. Họ bước đi chầm chậm, nhọc nhằn, tưởng chừng như đầu gối đang rã rời đau nhức. Mãi sau này tôi mới thấu hiểu nỗi nhọc nhằn ấy, khi chính bản thân cũng phải trèo qua những bậc thang dốc đứng và những chiếc thang treo để xuống tận đáy tầng hầm dưới cùng. Mặt mũi ai nấy đen nhẻm như những người thợ cạo ống khói1; quần áo lẫn mũ nón đều bám đầy bụi than đặc quánh. Từng người một lần lượt bước vào trạm của người thắp đèn2, cẩn thận treo chiếc đèn của mình lên một cái đinh.

Mặc dù đã dán mắt theo dõi đám đông, tôi vẫn chẳng thể tìm thấy Alexix cho đến khi anh bất chợt chạy ào tới chỗ tôi. Nếu không có vậy, hẳn tôi đã để anh lướt qua mà chẳng mảy may nhận ra. Thật khó lòng mường tượng được cậu thiếu niên đen đúa từ đầu tới chân đang đứng trước mặt tôi đây, lại chính là người anh từng thi chạy tung tăng với tôi trên những lối đi quanh vườn thuở trước. Ngày đó, anh thường mặc chiếc áo sơ mi sạch sẽ tinh tươm, tay áo xắn cao đến tận khuỷu, cổ áo phanh rộng để lộ làn da trắng trẻo.

"Remi này!" anh kêu lên, rồi vội quay sang người đàn ông trạc bốn mươi đang đi ngay cạnh. Người đàn ông mang một khuôn mặt hiền hậu, chất phác hệt như bác Acquin. Điều ấy cũng chẳng có gì lạ, bởi dẫu sao họ cũng là anh em ruột thịt. Tôi nhận ra ngay đó chính là bác Gaspard.

"Hai bác cháu đã mong cháu lâu lắm rồi đấy," bác mỉm cười lên tiếng.

"Đoạn đường từ Paris đến Varses cũng khá xa xôi thưa bác," tôi mỉm cười đáp lời.

"Và đôi chân của cháu thì lại hơi ngắn nữa chứ," bác cười phá lên trêu chọc.

Capi sướng rơn khi gặp lại Alexix, nó bày tỏ niềm hân hoan bằng cách ra sức giật giật gấu quần của anh. Trong lúc đó, tôi tranh thủ giới thiệu với bác Gaspard rằng Mattia là người bạn đồng hành và cũng là cộng sự của tôi, và rằng cậu ấy thổi kèn cornet hay hơn bất cứ ai trên đời.

"Và có cả ngài Capi đây nữa," bác Gaspard nói. "Ngày mai cháu sẽ được nghỉ ngơi, vậy nên cháu có thể biểu diễn cho bác xem, vì mai là Chủ nhật mà. Alexix từng kể rằng chú chó này còn thông minh hơn cả một ông giáo và một anh diễn viên hài gộp lại đấy."

Trái ngược hẳn với cảm giác ngột ngạt khi ở cạnh thím, tôi thấy vô cùng dễ chịu và ấm áp khi ở bên bác Gaspard.

"Giờ thì hai đứa cứ tự nhiên trò chuyện với nhau đi," bác cất giọng vui vẻ, "bác cá là hai cháu có hàng tá chuyện để kể cho nhau nghe đấy. Bác sẽ ra nói chuyện với cậu thanh niên thổi kèn cornet tuyệt hay này."

Alexix háo hức muốn biết về chuyến hành trình dài của tôi, còn tôi lại tò mò về công việc hằng ngày của anh. Chúng tôi mải mê ríu rít hỏi han nhau đến mức chẳng ai kịp chờ người kia trả lời.

Khi chúng tôi về đến nhà, bác Gaspard giữ chúng tôi lại dùng bữa tối. Chưa bao giờ một lời mời lại mang đến cho tôi niềm vui sướng nghẹn ngào đến vậy. Bởi lẽ, suốt dọc đường đi tôi cứ nơm nớp lo sợ rằng chúng tôi sẽ phải ngậm ngùi chia tay nhau ngay trước cửa, vì sự tiếp đón lạnh nhạt ban nãy của thím thực sự chẳng để lại cho chúng tôi chút hy vọng mong manh nào.

"Remi và bạn của cháu nó đến rồi đây," bác Gaspard cất lời khi bước vào nhà.

Chúng tôi quây quần bên bàn ăn. Bữa tối diễn ra chớp nhoáng, bởi thím vốn mang tính hay lê la chuyện vãn, nên tối hôm đó chỉ dọn lên độc mỗi món thịt nguội. Người thợ mỏ cần mẫn thản nhiên dùng bữa mà không buông một lời cằn nhằn. Bác là một người xuề xòa, luôn đặt sự yên tĩnh lên hàng đầu. Bác chẳng bao giờ phàn nàn điều gì; ngay cả khi cần lên tiếng, bác cũng chỉ thong thả cất giọng trầm ấm, nhẹ nhàng. Bữa ăn bởi thế mà kết thúc vội vã.

Bác Gaspard ân cần bảo rằng đêm nay tôi có thể ngủ chung với anh Alexix, rồi quay sang dặn dò Mattia cứ theo chân bác ra lò bánh, bác sẽ lo liệu cho cậu ấy một chỗ ngả lưng tươm tất ở đó.

Tối hôm ấy và phần lớn thời gian trong đêm, anh Alexix và tôi mải mê trò chuyện quên cả buồn ngủ.

Mọi điều anh Alexix kể đều dấy lên trong lòng tôi một niềm háo hức kỳ lạ. Tôi luôn ao ước được một lần đặt chân xuống đáy mỏ sâu thẳm. Thế nhưng, khi tôi ngỏ ý với bác Gaspard vào ngày hôm sau, bác từ tốn giải thích rằng bác không thể nào dẫn tôi xuống đó được, bởi khu mỏ than có luật lệ nghiêm ngặt, chỉ những người thợ làm việc tại đây mới được phép ra vào.

"Nếu cháu muốn trở thành một thợ mỏ," bác hiền từ bảo, "thì cũng đơn giản thôi. Công việc ấy tính ra cũng chẳng tệ hơn những nghề khác là bao. Ít nhất thì nó vẫn vững vàng hơn vạn lần cái kiếp hát rong lay lắt trên hè phố. Cháu hoàn toàn có thể ở lại đây với anh Alexix. Chúng ta cũng sẽ kiếm cho Mattia một việc làm đàng hoàng, chứ không phải đi loanh quanh thổi chiếc kèn cornet nữa đâu, ồ không."

Thực tâm, tôi không hề có ý định nán lại Varses lâu dài; vẫn còn một tâm nguyện dang dở mà tôi đã tự hứa với lòng phải kiên quyết hoàn thành. Lẽ ra tôi đã dời gót khỏi thị trấn nhỏ này trong sự tiếc nuối vì chưa thỏa mãn được trí tò mò của mình, nếu như không có những biến cố kinh hoàng bất ngờ ập đến. Chính những sự kiện tàn khốc ấy đã phơi bày trước mắt tôi toàn bộ những hiểm nguy rình rập, tước đoạt sinh mạng mà những người thợ mỏ ngày đêm phải can trường đối mặt.

Vào đúng cái ngày tôi chuẩn bị rời khỏi Varses, một tảng than lớn bất ngờ rơi xuống tay Alexix, xém chút nữa đã nghiền nát ngón tay anh. Trong nhiều ngày tới, anh buộc phải băng bó và để tay nghỉ ngơi hoàn toàn. Chuyện này khiến bác Gaspard vô cùng rầu rĩ. Giờ đây, bác chẳng còn ai phụ đẩy chiếc xe goòng3 nữa. Bác lo sợ mình cũng sẽ phải nghỉ làm ở nhà, mà hoàn cảnh gia đình thì đâu có dư dả gì để chịu cảnh ngồi không.

"Tại sao cháu lại không thể làm thay anh ấy ạ?" tôi cất lời hỏi, khi thấy bác vừa trở về nhà sau một hồi chạy đôn chạy đáo tìm người giúp việc trong vô vọng.

"Bác chỉ e chiếc xe goòng đó quá sức với cháu thôi, con trai ạ," bác đáp lời, "nhưng nếu cháu sẵn lòng thử sức, cháu sẽ giúp bác được nhiều lắm đấy. Giờ mà kiếm một cậu bé chỉ làm việc lặt vặt trong vài ngày quả là chuyện mò kim đáy bể."

"Và trong lúc cậu chui xuống hầm mỏ, tớ sẽ cùng Capi đi kiếm nốt số tiền mua con bò sữa!" Mattia hào hứng reo lên.

Ba tháng trời cùng nhau rong ruổi nay đây mai đó dưới bầu trời rộng mở đã làm Mattia thay đổi hoàn toàn. Cậu không còn là thằng bé ốm yếu, xanh xao mà tôi từng thấy đang tựa lưng vào tường nhà thờ nữa; cậu lại càng không phải là hình hài tiều tụy mà tôi đã bắt gặp lần đầu tiên trên căn gác mái nhà Garofoli, vừa cúi gầm mặt trông chừng nồi súp, vừa thỉnh thoảng ôm lấy cái đầu đau nhức đáng thương. Bây giờ, những cơn đau đầu của Mattia đã lùi xa vào quá khứ. Cậu không bao giờ ủ rũ, cũng chẳng còn mang vẻ gầy gò hay sầu thảm ngày nào. Ánh nắng rực rỡ và bầu không khí trong lành đã ban tặng cho cậu một sức sống tràn trề và tinh thần vô cùng phấn chấn. Trên những chặng đường dài đi bộ cùng nhau, cậu luôn giữ nụ cười trên môi và duy trì một tâm trạng rạng rỡ. Cậu luôn nhìn thấy mặt tốt đẹp của mọi việc, dễ dàng tìm thấy niềm vui trong bất cứ chuyện gì và hạnh phúc bởi những điều giản dị nhất. Không có cậu ấy đi cùng, hẳn tôi sẽ cô đơn biết chừng nào!

Tính cách của hai đứa chúng tôi hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng có lẽ chính điều đó lại giúp chúng tôi gắn bó đến vậy. Cậu ấy sở hữu một bản tính ngọt ngào, rạng rỡ, pha chút vô tư và luôn có cách giải quyết những rắc rối một cách đầy thú vị. Chúng tôi lẽ ra đã có thể cãi vã không biết bao nhiêu lần khi tôi dạy cậu ấy học chữ và chơi nhạc, bởi tôi vốn chẳng có lấy một chút kiên nhẫn nào của một người thầy. Tôi thường xuyên cáu gắt và đối xử bất công với cậu ấy, thế nhưng chưa một lần nào cậu ấy tỏ ra giận hờn.

Chúng tôi đã bàn bạc và thống nhất rằng, trong thời gian tôi làm việc dưới mỏ than, Mattia và Capi sẽ dạo quanh các vùng ngoại ô để biểu diễn những tiết mục "âm nhạc và kịch", cốt để kiếm thêm chút đỉnh cho gia tài nhỏ bé của chúng tôi. Capi, sau khi được tôi giải thích về sự sắp xếp này, dường như đã hiểu ý và vẫy đuôi sủa lên một tiếng như ngầm tán thành.

Sáng hôm sau, lẽo đẽo bám sát gót bác Gaspard, tôi bắt đầu chuyến hành trình đi xuống khu mỏ tối tăm, sâu thẳm. Bác cẩn thận dặn dò tôi phải hết sức chú ý, nhưng thiết nghĩ chẳng cần đến lời cảnh báo ấy tôi cũng đã đủ rùng mình. Làm sao có thể không mang chút sợ hãi và lo âu khi tự mình rũ bỏ ánh sáng ban ngày rực rỡ để bước vào sâu thẳm trong lòng đất. Khi đã đi được một đoạn khá xa trong đường hầm, tôi bất giác quay đầu ngoái lại nhìn. Chút ánh sáng ban ngày le lói ở tận cuối đường ống dài tăm tối giờ đây chỉ còn trông như một quả cầu trắng xóa-giống hệt một vầng trăng cô độc treo lơ lửng trên bầu trời đêm đen đặc, vắng bóng những vì sao. Chẳng mấy chốc, một cái hố khổng lồ đen ngòm đã há ngoác miệng ra ngay trước mặt chúng tôi. Tít dưới sâu thẳm, tôi có thể lờ mờ nhìn thấy những vệt sáng đung đưa từ những chiếc đèn của những người thợ mỏ khác đang chậm rãi bước xuống thang. Chúng tôi đi thẳng đến khu vực khai thác mà bác Gaspard làm việc ở tầng hai. Tất cả những người làm công việc đẩy xe goòng ở đây đều là những cậu bé trạc tuổi, ngoại trừ một người đàn ông duy nhất mà mọi người vẫn gọi là Giáo sư. Đó là một ông lão, nghe đâu hồi còn trẻ từng làm thợ mộc trong mỏ, nhưng do một tai nạn không may khiến những ngón tay bị dập nát nên ông buộc phải bỏ nghề. Và rồi đây, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ được nếm trải cảm giác làm thợ mỏ thực sự là như thế nào.



  1. Nghề phổ biến ở châu Âu xưa, chuyên làm sạch bồ hóng trong ống khói lò sưởi. Do phải chui vào đường ống chật hẹp, thợ cạo ống khói (thường là trẻ em) luôn bị ám bụi đen kín mít từ đầu đến chân. ↩

  2. Trong hầm mỏ thế kỷ 19, khí gas tích tụ rất dễ gây nổ lớn. Mỏ có bộ phận chuyên trách kiểm tra, thắp sáng và khóa kỹ đèn an toàn (như đèn Davy) trước khi giao cho thợ mỏ, nhằm ngăn họ tự ý mở đèn hay dùng diêm lửa dưới hầm. ↩

  3. Xe thùng nhỏ có bánh xe chạy trên đường ray hẹp, chuyên dùng để vận chuyển than đá, quặng sắt hoặc đất đá từ sâu trong lòng hầm mỏ ra ngoài. ↩