CHƯƠNG VI
BUỔI BIỂU DIỄN ĐẦU TIÊN CỦA TÔI
Chúng tôi lên đường từ lúc tinh mơ hôm sau. Bầu trời xanh thẳm vời vợi, một luồng gió nhẹ mơn man thổi qua trong đêm đã hong khô những vũng lầy đọng nước. Bầy chim chuyền cành hót líu lo, và lũ chó cứ lăng xăng chạy quanh đôi chân chúng tôi. Thỉnh thoảng, Capi lại chồm lên bằng hai chân sau, sủa hai ba tiếng giòn giã ngay sát mặt tôi. Mình hiểu cậu ấy muốn nói gì. Cậu ấy là bạn của mình. Một người bạn thông minh, thấu tỏ mọi chuyện và biết cách tỏ bày cho người khác hiểu. Chỉ riêng cái đuôi ve vẩy của Capi thôi cũng đã toát lên một vẻ hóm hỉnh và tài hùng biện hơn hẳn lời lẽ hay ánh mắt của biết bao người.
Mặc dù chưa một lần rời khỏi ngôi làng nhỏ bé và lòng đầy háo hức muốn ngắm nhìn phố thị, nhưng điều thiết tha nhất đời tôi lúc ấy lại là một cửa hiệu giày. Cái cửa hiệu hằng ao ước, nơi tôi sẽ tìm thấy đôi giày đinh1 mà cụ Vitalis đã hứa, nó nằm ở chốn nào đây? Tôi cứ dáo dác nhìn quanh khi hai ông cháu rảo bước dọc theo những con phố cổ kính của thị trấn Ussel. Đột nhiên, ông rẽ ngoặt vào một cửa tiệm khuất sau khu chợ. Vắt vẻo bên ngoài mặt tiền là mấy khẩu súng cũ kỹ, một chiếc áo khoác điểm viền chỉ vàng sờn, vài cây đèn và mấy chùm chìa khóa hoen gỉ. Bước qua ba bậc thang đi xuống, chúng tôi lọt thỏm vào một căn phòng rộng thênh thang, nơi có lẽ ánh mặt trời chưa từng rọi tới kể từ ngày người ta cất mái nhà này lên. Làm sao một thứ đẹp đẽ, oai vệ như đôi giày đinh lại có thể được bày bán ở chốn tồi tàn nhường ấy? Thế nhưng cụ Vitalis lại tỏ đường đi lối bước, và chẳng mấy chốc tôi đã lâng lâng trong niềm sung sướng tột độ khi xỏ chân vào đôi giày đinh trứ danh, thứ nặng gấp mười lần đôi guốc gỗ lóc cóc của mình. Và sự hào phóng của ông chưa dừng lại ở đó. Ông sắm thêm cho tôi một chiếc áo khoác nhung xanh bảnh bao, một chiếc quần dài và một chiếc mũ phớt.
Nhung lụa dành cho tôi, một đứa trẻ bần hàn chưa từng khoác lên mình thứ gì khác ngoài vải thô! Cụ hẳn là người đàn ông nhân từ và rộng lượng nhất thế gian này. Thú thật, dẫu lớp nhung kia đã nhàu nhĩ đôi phần, ống quần len đã sờn rách, và thật khó lòng đoán nổi màu sắc ban sơ của chiếc mũ phớt vì nó đã từng sũng nước mưa trút xuống ròng rã; thế nhưng, lóa mắt trước sự lộng lẫy xa xỉ ấy, tôi làm sao màng tới những khiếm khuyết được che lấp dưới vẻ ngoài hào nhoáng kia.
Lúc hai ông cháu trở về quán trọ, cụ Vitalis bỗng rút ra một cây kéo và cắt phăng hai ống quần của tôi đến ngang đầu gối, trước khi cho phép tôi mặc nó vào. Tôi trố mắt nhìn ông, lòng ngập tràn vừa ngỡ ngàng vừa tiếc nuối.
"Ông làm thế là vì không muốn cháu trông giống hệt bao người khác," ông trầm giọng giải thích. "Khi ở Pháp, ông sẽ cho cháu ăn vận như một cậu bé người Ý; nhưng nếu ở Ý, cháu lại sẽ ăn vận như một cậu bé người Pháp."
Tôi lại càng thêm kinh ngạc.
"Chúng ta là những nghệ sĩ, đúng không nào? Đã vậy thì ta không được phép phục sức giống như người thường. Nếu chúng ta đi lại mà khoác lên mình bộ dạng của những tá điền lam lũ, cháu nghĩ liệu có ai thèm để mắt tới chúng ta không? Liệu chúng ta có thu hút được đám đông bu lại mỗi khi dừng bước chăng? Không hề! Vẻ bề ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đời này."
Thế là, buổi sáng tôi còn là một cậu bé người Pháp, vậy mà đến chiều buông, tôi đã hóa thân thành một cậu bé người Ý chính hiệu. Quần của tôi được cắt ngắn đến ngang gối. Cụ Vitalis khéo léo đan chéo những dải dây đỏ ôm dọc theo đôi tất của tôi, quấn thêm một dải ruy băng đỏ quanh chiếc mũ phớt, rồi đính lên đó một chùm hoa bằng len rực rỡ.
Tôi chẳng rõ người đời sẽ nghĩ gì về mình, nhưng quả thật, tôi phải tự thừa nhận rằng trông mình mới tuyệt vời làm sao; và Capi dường như cũng chung suy nghĩ ấy, bởi cậu chú chó cứ mải mê ngắm nhìn tôi hồi lâu, rồi đưa một chân ra với vẻ mặt vô cùng ưng ý. Mình thật hân hoan khi nhận được sự tán thưởng của Capi, điều đó lại càng vỗ về tôi hơn, bởi lẽ, trong lúc tôi loay hoay thay đồ, con khỉ Pretty-Heart cứ ngồi chồm hổm đối diện, và bằng điệu bộ cường điệu quá mức, nó nhại lại từng cử chỉ của tôi; để rồi khi tôi mặc xong xuôi, nó chống hai tay lên hông, ngửa cổ ra sau mà cười nhạo đầy vẻ bỡn cợt.
Chuyện loài khỉ có biết cười hay chăng vẫn luôn là một vấn đề khoa học gây tranh cãi. Nhưng tôi đã kề cận Pretty-Heart một thời gian đủ dài để đoan chắc rằng nó biết cười, và thường cười theo một cách thức khiến tôi thấy vô cùng bẽ mặt. Lẽ dĩ nhiên, nó không cười như con người, nhưng hễ có điều gì gợi sự khoái chí, nó sẽ ngoác khóe miệng ra sau, nheo tít đôi mắt lại và nhai nhai quai hàm liên hồi, trong lúc đôi mắt đen láy như muốn phóng ra những tia lửa tinh ranh.
"Bây giờ thì diện mạo của cháu đã đâu vào đấy cả rồi," cụ Vitalis gật gù khi tôi vừa vuốt lại chiếc mũ trên đầu, "và chúng ta sẽ bắt tay ngay vào việc thôi. Ngày mai là phiên chợ, chúng ta phải biểu diễn. Cháu sẽ góp mặt trong một vở hài kịch cùng với hai chú chó và khỉ Pretty-Heart."
"Nhưng cháu đâu biết diễn kịch hài là thế nào ạ," tôi kêu lên, lòng đầy sợ hãi.
"Thì bởi thế nên ông mới phải dạy cháu. Có học thì mới biết được chứ. Đám thú nhỏ này cũng từng phải tập tành vất vả lắm mới thuộc được vai diễn của mình. Đó từng là một quãng thời gian nhọc nhằn với chúng, nhưng giờ cháu nhìn xem chúng thông minh và lanh lợi đến nhường nào. Vở kịch mà chúng ta sắp trình diễn mang tên 'Đầy tớ của Ngài Pretty-Heart, hay Kẻ ngốc chưa chắc đã là người bạn tưởng'. Câu chuyện diễn tiến thế này: Người hầu của Ngài Pretty-Heart là Capi, sắp sửa xin cáo quan về hưu vì tuổi tác đã cao. Trước khi rời đi, Capi đã cẩn thận hứa với chủ nhân rằng cậu ta sẽ tìm về một người hầu khác để thế chỗ mình. Thế nhưng, người kế nhiệm lại chẳng phải là một chú chó, mà là một cậu bé, một cậu nhóc đặc sệt nhà quê mang tên Remi."
"Ồ..."
"Cháu là một cậu nhóc vừa chân ướt chân ráo từ dưới quê lên phố để làm công cho Ngài Pretty-Heart."
"Nhưng khỉ thì làm gì có người hầu ạ."
"Trong kịch thì có. Chà, cháu vừa khăn gói rời khỏi ngôi làng nhỏ bé của mình, và ông chủ mới thì lại cứ đinh ninh rằng cháu là một đứa ngốc nghếch."
"Cháu chẳng thích thế một chút nào đâu!"
"Có hề hấn gì đâu cơ chứ, miễn là điều đó làm cho khán giả phải bật cười? Chà, cháu đến ra mắt vị quý tộc này để nhận việc, và ngài ấy sai cháu đi dọn bàn tiệc. Đây chính là chiếc bàn mà chúng ta sẽ dùng trong vở kịch; cháu hãy thử dọn bàn đi xem nào."
Tôi liếc nhìn chiếc bàn: trên đó có đủ đĩa, ly, một con dao, một chiếc nĩa, cùng một tấm khăn trải bàn trắng tinh tươm. Làm sao tôi có thể sắp xếp đống đồ lỉnh kỉnh này cho đúng chuẩn được cơ chứ? Giữa lúc tôi còn đang mải vò đầu bứt tai, nhoài người về phía trước, hai tay dang ra lóng ngóng và miệng thì há hốc vì chẳng biết phải bắt đầu từ đâu, ông chủ của tôi bỗng vỗ tay reo lên và cười vang nắc nẻ.
"Hoan hô!" cụ kêu lên đầy phấn khích, "hoan hô! Hoàn hảo lắm. Cái thằng nhóc ngày trước ông thuê thường cố làm ra vẻ mặt ranh mãnh như muốn trêu tức người ta rằng, 'Nhìn xem tôi có thể giả ngu đạt đến mức nào này'; còn cháu thì lại bộc lộ vô cùng tự nhiên; thật là tuyệt vời."
"Nhưng thật sự là cháu không biết mình phải làm gì mà."
"Chính vì thế nên cháu mới diễn đạt đến thế! Sau khi đã thuần thục mọi động tác, cháu sẽ phải tập giả vờ y như cái dáng vẻ lúng túng hiện tại của mình. Nếu cháu có thể giữ lại được nét mặt đó và đứng ngây ra y hệt như lúc này, cháu chắc chắn sẽ thành công rực rỡ. Để vào vai này một cách hoàn hảo, cháu chẳng cần làm gì khác ngoài việc hành động và biểu cảm y như vẻ mặt của cháu ngay lúc này đây."
"Đầy tớ của Ngài Pretty-Heart" không phải là một vở kịch hoành tráng. Toàn bộ màn trình diễn kéo dài chưa tới hai mươi phút. Ấy vậy mà cụ Vitalis vẫn kiên nhẫn bắt lũ chó và tôi phải tập đi tập lại không biết bao nhiêu lần.
Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy ông chủ của chúng tôi lại có thể nhẫn nại đến thế. Ở làng, tôi từng chứng kiến những con vật tội nghiệp bị mắng chửi thô bạo và đánh đập tàn nhẫn mỗi khi chúng lóng ngóng không làm được việc. Vậy mà ở đây, dù buổi tập có kéo dài lê thê đến mấy, không một lần nào cụ nổi nóng, cũng chẳng hề buông nửa lời cáu gắt.
"Giờ thì làm lại lần nữa đi," cụ chỉ hơi nghiêm giọng lại khi có một sai sót nhỏ xen vào. "Thế là tệ đấy, Capi. Ta sẽ phải rầy la mi đấy, Pretty-Heart, nếu mi cứ tiếp tục lơ đễnh như vậy."
Chỉ một lời chấn chỉnh nhẹ nhàng vậy thôi, nhưng cũng đủ để mọi thứ đâu lại vào đấy.
"Cháu hãy lấy những chú chó làm gương," cụ ân cần dặn dò trong lúc uốn nắn tôi; "hãy thử so sánh chúng với Pretty-Heart mà xem. Pretty-Heart có thể lanh lợi và thông minh đấy, nhưng mi ấy lại chẳng hề có tính kiên nhẫn. Mi ấy học một hiểu mười rất nhanh chóng, nhưng rồi cũng ném tuột ra sau đầu ngay lập tức; chưa kể mi ấy chẳng mấy khi chịu ngoan ngoãn làm đúng theo những gì được bảo. Trái lại, mi ấy luôn thích làm ngược lại cơ. Đó là bản tính trời sinh của mi ấy, và đó cũng là lý do tại sao ta không bao giờ nổi giận với mi ấy; loài khỉ không có được cái ý thức trách nhiệm giống như loài chó; chúng không sao hiểu nổi ý nghĩa thiêng liêng của từ 'bổn phận', và vì thế mà chúng đành chịu xếp sau loài chó một bậc. Cháu có hiểu điều ông nói không?"
"Cháu nghĩ là có ạ."
"Cháu là một đứa trẻ thông minh và biết chú tâm. Hãy luôn biết vâng lời, và dốc hết sức mình cho những việc cháu phải làm. Hãy khắc ghi bài học đó trên suốt chặng đường đời của cháu sau này."
Cuộc trò chuyện cởi mở ấy đã tiếp thêm cho tôi dũng khí để hỏi ông một điều cứ khiến tôi thắc mắc mãi trong suốt buổi tập. Đó là làm sao ông lại có thể kiên nhẫn một cách phi thường đến vậy, chẳng những với bầy chó và chú khỉ, mà còn với cả một đứa trẻ như tôi?
Ông mỉm cười hiền từ, nhẹ nhàng đáp:
"Có lẽ cháu chỉ mới quen sống quanh quẩn bên những người nông dân. Họ thường có thói quen đối xử thô bạo với vật nuôi, và đinh ninh rằng chỉ có vung gậy gộc đe nẹt mới khiến chúng vâng lời. Đó quả là một sai lầm to lớn. Bạo lực chẳng bao giờ mang lại kết quả tốt đẹp, trong khi sự dịu dàng lại có thể làm nên tất cả. Chính vì ông chưa từng cư xử khắc nghiệt với những con vật của mình, nên chúng mới khôn ngoan được như hiện tại. Nếu ông dùng đòn roi, chúng sẽ chỉ trở thành những sinh vật rụt rè, run rẩy; và nỗi sợ hãi ấy sẽ bóp nghẹt mọi sự thông minh. Thêm vào đó, nếu ông cứ để những cơn nóng giận lấn át lý trí, ông đâu còn là ông của ngày hôm nay; ông sẽ chẳng thể nào giữ được sự nhẫn nại để thu phục lòng tin của chúng. Điều đó cho thấy, khi ta rèn giũa một ai khác, cũng chính là lúc ta đang tự hoàn thiện bản thân mình. Cháu thấy đấy, ông dạy dỗ bầy vật nhỏ, nhưng đồng thời, ông cũng nhận lại từ chúng biết bao bài học quý giá. Ông khơi dậy trí thông minh của chúng, còn chúng thì nhào nặn nên tính cách của ông."
Tôi bất giác bật cười. Những lời lẽ ấy nghe với tôi sao mà lạ lùng quá đỗi.
"Cháu thấy lạ lắm phải không?" ông thong thả nói tiếp. "Thật kỳ lạ khi một chú chó lại có thể dạy cho con người một bài học, nhưng đó lại là sự thật rành rành. Bất kỳ người chủ nào khi đảm nhận việc huấn luyện một chú chó, đều sẽ buộc phải nhìn nhận lại chính mình. Bởi lẽ, chó thường mang bóng dáng của người nuôi nó. Chỉ cần cho ông xem con chó của cháu, ông sẽ nói ngay được cháu là người như thế nào. Một kẻ bất lương sẽ nuôi một con chó hung hăng. Chó của tên ăn trộm ắt hẳn cũng mang thói cắp vặt. Những kẻ cục mịch thì thường nuôi một con chó ngốc nghếch, khờ khạo. Còn một người nhân hậu, chín chắn chắc chắn sẽ có một chú chó ngoan ngoãn và hiểu chuyện."
Tôi bồn chồn khôn tả khi nghĩ đến việc phải xuất hiện trước đám đông vào ngày hôm sau. Lũ chó và chú khỉ kia rõ ràng có lợi thế hơn hẳn tôi, bởi chúng đã dạn dĩ biểu diễn trước hàng trăm người không biết bao nhiêu lần. Cụ Vitalis sẽ phản ứng thế nào nếu tôi làm hỏng vai diễn? Và cả khán giả nữa, họ sẽ nói gì? Nỗi lo âu bám riết lấy tôi đến tận lúc thiếp đi. Trong giấc mộng chập chờn, tôi bàng hoàng thấy một đám đông đang ôm bụng cười ngặt nghẽo, chế nhạo tôi như một kẻ ngốc nghếch.
Sự căng thẳng càng dâng cao vào sáng hôm sau, khi chúng tôi rồng rắn nối đuôi nhau diễu hành tiến về khu chợ, nơi sân khấu được dựng lên. Cụ Vitalis oai vệ dẫn đầu. Đầu ngẩng cao, ngực ưỡn về phía trước, tay chân ông nhịp nhàng vung vẩy theo giai điệu du dương tuôn ra từ tiếng sáo trúc vui tươi. Ngay phía sau ông là Capi, oai phong cõng chú khỉ Pretty-Heart trên lưng. Cậu khỉ khoác lên mình bộ đồng phục của một vị tướng quân Anh quốc với áo khoác và quần dài màu đỏ rực điểm xuyết những đường viền chỉ vàng lấp lánh, đầu đội chiếc mũ bảo hiểm kiêu hãnh cắm một chiếc lông vũ. Tiếp đó là Zerbino và Dulcie, lẽo đẽo theo sau ở một khoảng cách đầy tôn trọng. Tôi lặng lẽ đi chốt lại đoàn diễu hành. Đội hình của chúng tôi kéo dài một đoạn khá xa bởi mỗi thành viên đều giữ một khoảng cách nhất định. Những nốt nhạc lanh lảnh, réo rắt bay vút lên, đánh thức cả khu phố, khiến mọi người tò mò ùa ra khỏi nhà. Hàng chục đứa trẻ reo hò chạy theo gót chân chúng tôi. Khi đoàn đến quảng trường, một đám đông náo nhiệt đã quây quần chờ sẵn. Sân khấu được nhanh chóng thiết lập. Chỉ bằng một sợi dây thừng căng ngang bốn gốc cây, chúng tôi đã có ngay một khoảng sân khấu tươm tất ở giữa.
Chương trình mở màn bằng hàng loạt trò biểu diễn ngoạn mục của bầy chó. Thế nhưng, tôi chẳng còn tâm trí đâu mà quan sát chúng làm gì. Trái tim tôi đập thình thịch, ruột gan cồn cào lo lắng, đầu óc chỉ quẩn quanh nhẩm đi nhẩm lại vai diễn của mình. Đọng lại trong ký ức của tôi lúc đó chỉ là hình ảnh cụ Vitalis từ tốn đặt cây sáo sang một bên, nâng cây vĩ cầm lên và lướt những ngón tay điêu luyện trên phím đàn, tạo ra những giai điệu nhịp nhàng dẫn dắt từng động tác của bầy chó; lúc thì rộn rã vũ điệu tươi vui, khi lại du dương, êm ái.
Màn trình diễn vừa khép lại, Capi đã khéo léo ngậm lấy chiếc cốc kim loại giữa hai hàm răng và bắt đầu sải những bước chân uyển chuyển đi vòng quanh "quý vị khán giả đáng kính". Hễ vị khách nào tỏ vẻ chần chừ không chịu thả đồng xu vào cốc, cậu chàng liền lanh trí đặt hai chân trước lên túi áo của người đó, sủa vang ba tiếng giòn giã rồi dùng chân vỗ vỗ một cách điệu nghệ vào miệng túi. Chứng kiến cảnh tượng ngộ nghĩnh ấy, cả đám đông bật cười nghiêng ngả, reo hò rần rần vì thích thú.
"Chà chà, đúng là một con chó khôn ranh! Nó đánh hơi được ai rủng rỉnh tiền bạc, ai không đấy!"
"Nào, mau lôi tiền ra đi chứ!"
"Chắc chắn ông ấy sẽ cho chút gì đó thôi!"
"Thôi đi, ông ấy chẳng cho đâu!"
"Thế mà người chú còn để lại cho ông ấy cả một gia tài đấy! Lão già keo kiệt!"
Và rồi, trước áp lực của những tràng cười đùa, cuối cùng một đồng xu cũng được moi ra từ sâu thẳm chiếc túi áo và ném chao chát vào chiếc cốc. Trong suốt khoảnh khắc nhộn nhịp ấy, cụ Vitalis không hé nửa lời. Đôi mắt ông trìu mến dõi theo từng cử chỉ của Capi, đôi tay vẫn vui vẻ, say sưa kéo vĩ cầm. Chẳng mấy chốc, Capi đã kiêu hãnh lon ton chạy về bên người chủ với chiếc cốc nặng trĩu những đồng xu lấp lánh.
Bây giờ đến phần diễn kịch.
"Kính thưa quý vị," cụ Vitalis dõng dạc cất lời, một tay cầm vĩ, tay kia vung vẩy cây đàn vĩ cầm đầy điệu nghệ, "chúng tôi xin hân hạnh trình diễn một vở hài kịch vô cùng thú vị mang tên 'Người Hầu Của Ngài Pretty-Heart, hay Kẻ Ngốc Không Phải Lúc Nào Cũng Là Người Bạn Nghĩ'. Một nghệ sĩ ở đẳng cấp của tôi sẽ không bao giờ hạ mình đi ca tụng trước về vở diễn hay dàn diễn viên của mình. Tất cả những gì tôi muốn nhắn nhủ, là mong quý vị hãy chiêm ngưỡng, hãy lắng nghe và chuẩn bị sẵn sàng những tràng pháo tay giòn giã."
Vở hài kịch thú vị mà cụ Vitalis nhắc đến, thực chất chỉ là một màn kịch câm. Đương nhiên phải là kịch câm rồi, bởi lẽ hai trong số các diễn viên chính là cậu khỉ Pretty-Heart và chú chó Capi làm gì biết nói, còn người thứ ba là tôi, lúc bấy giờ cũng cạy răng chẳng nặn nổi nửa lời. Dẫu vậy, để khán giả có thể bắt nhịp trọn vẹn, cụ Vitalis khéo léo đóng vai trò người dẫn chuyện, giải thích rành rọt từng tình tiết khi vở diễn mở ra. Chẳng hạn, sau khi tấu lên một bản nhạc oai hùng, ông dõng dạc tuyên bố sự xuất hiện của Tướng quân Pretty-Heart, vị anh hùng từng giành được hàm tước cao quý qua bao trận mạc khốc liệt ở Ấn Độ. Trước nay, Tướng quân Pretty-Heart chỉ có mỗi anh hầu Capi, nhưng giờ đây, ngài khao khát có một hầu phòng là con người thực thụ, bởi thân phận và sự giàu sang nay đã cho phép ngài tận hưởng thú vui xa xỉ ấy. Đã từ độ rất xưa, muôn thú phải cắn răng làm nô bộc cho con người, thì nay, thời thế đã đổi thay!
Trong lúc chờ người hầu mới bước ra, ngài Tướng quân cứ chắp tay dạo bước qua lại, miệng ngậm điếu xì gà đầy vẻ đạo mạo. Phải chi quý vị thấy cái cách cậu ta nghênh ngang phả khói thuốc vào tận mặt những người xem! Đợi mãi sinh bực, cậu ta bắt đầu trợn trừng hai mắt, làm bộ như một kẻ đang lên cơn lôi đình. Cậu ta cắn chặt môi, giậm chân uỳnh uỵch xuống nền đất. Vừa đến cú giậm chân thứ ba, tôi liền lạch bạch bước ra sân khấu dưới sự dẫn đường của cậu bạn Capi. Ngộ nhỡ tôi có trót quên bài, Capi sẽ lập tức nhắc tuồng ngay. Đến đúng khoảnh khắc đã định, cậu ấy vươn chân ra chạm vào tôi, điệu bộ như đang long trọng tiến cử tôi với Tướng quân. Ngài Tướng quân vừa lia mắt thấy tôi đã ôm đầu vung cả hai tay lên trời, vẻ mặt đầy tuyệt vọng. Cái gì thế này! Lẽ nào đây là gã hầu mà người ta nhọc công tìm về cho ngài sao? Rồi cậu ta sấn sổ bước tới, xấc xược dán mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, cứ thế đi vòng quanh tôi mà nhún vai bĩu môi thườn thượt. Vẻ mặt của cậu ta diễn đạt đến độ cả đám đông khán giả đều bò lăn ra cười. Mọi người thừa hiểu rằng con khỉ đang coi tôi như một kẻ ngốc nghếch hết thuốc chữa. Chính người xem cũng thấy vậy. Toàn bộ vở diễn vốn dĩ được dàn dựng để làm bật lên cái sự ngây ngô đặc sệt của tôi, đồng thời tạo cơ hội trổ tài cho con khỉ phô diễn sự tinh khôn và lém lỉnh. Chán chê sau một hồi săm soi kỹ lưỡng, dường như vì động lòng thương hại, Tướng quân mới đặc ân quyết định giữ tôi lại. Cậu ta chỉ tay về phía chiếc bàn đã dọn sẵn bữa trưa, rồi hất hàm ra hiệu cho tôi ngồi xuống.
"Tướng quân thầm nghĩ, biết đâu sau khi nhét đầy bụng chút thức ăn, gã hầu này sẽ bớt phần ngốc nghếch đi chăng," cụ Vitalis hóm hỉnh giải thích.
Tôi rụt rè ngồi xuống chiếc bàn nhỏ; trên đĩa đã đặt sẵn một chiếc khăn ăn2. Ô hay, tôi phải làm gì với cái thứ này bây giờ?
Capi nhanh nhảu ra hiệu xúi tôi dùng nó. Sau một hồi ngây mặt ra nhìn trân trân chiếc khăn, tôi bèn cầm lấy và... hỉ mũi. Tướng quân liền ôm bụng cười ngặt nghẽo, còn Capi thì ngã lăn kềnh ra đất, bốn chân chổng ngược lên trời như thể quá đỗi bàng hoàng trước sự ngu độn của tôi.
Biết mình đã hố, tôi lại dán mắt vào chiếc khăn ăn, vắt óc tự hỏi xem nên xử trí nó ra sao. Chợt một diệu kế lóe lên trong đầu. Tôi cuộn tròn chiếc khăn lại rồi ung dung thắt thành một cái cà vạt3. Tướng quân lại tiếp tục phá lên cười. Capi lại một lần nữa lăn đùng ra đất, bốn chân chổng chơ.
Đến lúc này, vì không thể kìm nén cơn tức giận được nữa, Tướng quân thô bạo lôi tuột tôi khỏi ghế, chễm chệ ngồi vào chỗ của tôi, rồi đánh chén sạch sành sanh bữa ăn vốn được dọn ra cho tôi.
Chà! Cậu ta mới rành rẽ cách dùng khăn ăn làm sao! Cậu ta điệu đà dắt mí khăn vào bên trong lớp đồng phục, rồi trải phần còn lại che kín đầu gối với dáng vẻ vô cùng duyên dáng. Hãy xem cái điệu cậu ta bẻ bánh mì và ực cạn ly nước, thật tao nhã và điệu đà biết nhường nào!
Vở kịch được đẩy lên cao trào khi bữa trưa kết thúc, cậu ta đưa tay đòi một chiếc tăm rồi thoăn thoắt xỉa răng. Ngay khoảnh khắc ấy, tiếng vỗ tay rào rào bùng nổ từ khắp bốn phía, và buổi biểu diễn khép lại trong một chiến thắng rực rỡ vang dội.
Quả là một gã hầu ngốc nghếch và một cậu khỉ tuyệt vời!
Trên đường thong dong quay bước về quán trọ, cụ Vitalis đã không ngớt lời khen ngợi tôi. Việc tôi diễn vai một tên ngốc đạt đến mức được đích thân ông chủ khen ngợi, đã khiến tôi vô cùng hãnh diện và trân trọng những lời tán dương ấy.
-
Trong thế kỷ 19, giày đinh (hobnailed boots) là loại giày da có đế được đóng thêm nhiều đinh kim loại lớn để chống trượt và tăng độ bền. Đây là vật dụng thiết yếu của những người lao động hay nghệ sĩ rong phải đi bộ đường dài, hoàn toàn khác với khái niệm giày đinh dành cho cầu thủ bóng đá ngày nay. ↩
-
Khăn ăn (napkin) tại châu Âu thời bấy giờ thường là những tấm vải lanh hoặc cotton vuông khổ lớn, dày dặn, dùng để trải lên đùi hoặc giắt vào cổ áo. Kích thước to bản này khiến cậu bé nông thôn Remi lầm tưởng đó là khăn tay thông thường để hỉ mũi. ↩
-
Vào thế kỷ 19, cà vạt (cravat) không phải là dải lụa dài và mảnh như ngày nay, mà thường là một mảnh vải vuông lớn được gấp chéo và quấn quanh cổ nhiều vòng trước khi thắt nút. Đó là lý do Remi có thể dùng một chiếc khăn ăn to bản để thắt thành hình dáng của phụ kiện này. ↩
CHAPTER VI
MY DÉBUT
We started early the next morning. The sky was blue and a light wind had come up in the night and dried all the mud. The birds were singing blithely in the trees and the dogs scampered around us. Now and again Capi stood up on his hind paws and barked into my face, two or three times. I knew what he meant. He was my friend. He was intelligent, and he understood every thing, and he knew how to make you understand. In his tail only was more wit and eloquence than in the tongue or in the eyes of many people.
Although I had never left my village and was most curious to see a town, what I most wanted to see in that town was a boot shop. Where was the welcome shop where I should find the shoes with nails that Vitalis had promised me? I glanced about in every direction as we passed down the old streets of Ussel. Suddenly my master turned into a shop behind the market. Hanging outside the front were some old guns, a coat trimmed with gold braid, several lamps, and some rusty keys. We went down three steps and found ourselves in a large room where the sun could never have entered since the roof had been put on the house. How could such beautiful things as nailed shoes be sold in such a terrible place? Yet Vitalis knew, and soon I had the pleasure of being shod in nailed shoes which were ten times as heavy as my clogs. My master's generosity did not stop there. He bought me a blue velvet coat, a pair of trousers, and a felt hat.
Velvet for me who had never worn anything but cotton! This was surely the best man in the world, and the most generous. It is true that the velvet was creased, and that the woolen trousers were well worn, and it was difficult to guess what had been the original color of the felt hat, it had been so soaked with rain; but dazzled by so much finery I was unconscious of the imperfections which were hidden under their aspect.
When we got back to the inn, to my sorrow and astonishment, Vitalis took a pair of scissors and cut the two legs of my trousers to the height of the knees, before he would let me get into them. I looked at him with round eyes.
"That's because I don't want you to look like everybody else," he explained. "When in France I'll dress you like an Italian; when in Italy, like a French boy."
I was still more amazed.
"We are artistes, are we not? Well, we must not dress like the ordinary folk. If we went about dressed like the country people, do you think anybody would look at us? Should we get a crowd around us when we stop? No! Appearances count for a great deal in life."
I was a French boy in the morning, and by night I had become an Italian. My trousers reached my knees. Vitalis interlaced red cords all down my stockings and twisted some red ribbon all over my felt hat, and then decorated it with a bunch of woolen flowers.
I don't know what others thought of me, but to be frank I must admit that I thought I looked superb; and Capi was of the same opinion, for he stared at me for a long time, then held out his paw with a satisfied air. I was glad to have Capi's approval, which was all the more agreeable, because, during the time I had been dressing, Pretty-Heart had seated himself opposite to me, and with exaggerated airs had imitated every movement I had made, and when I was finished put his hands on his hips, threw back his head, and laughed mockingly.
It is a scientific question as to whether monkeys laugh or not. I lived on familiar terms with Pretty-Heart for a long time, and I know that he certainly did laugh and often in a way that was most humiliating to me. Of course, he did not laugh like a man, but when something amused him, he would draw back the corners of his mouth, screw up his eyes, and work his jaws rapidly, while his black eyes seemed to dart flames.
"Now you're ready," said Vitalis, as I placed my hat on my head, "and we'll get to work, because to-morrow is market day and we must give a performance. You must play in a comedy with the two dogs and Pretty-Heart."
"But I don't know how to play a comedy," I cried, scared.
"That is why I am going to teach you. You can't know unless you learn. These animals have studied hard to learn their part. It has been hard work for them; but now see how clever they are. The piece we are going to play is called, 'Mr. Pretty-Heart's Servant, or The Fool is not Always the One You Would Think.' Now this is it: Mr. Pretty-Heart's servant, whose name is Capi, is about to leave him because he is getting old. And Capi has promised his master that before he leaves he will get him another servant. Now this successor is not to be a dog, it is to be a boy, a country boy named Remi."
"Oh...."
"You have just come from the country to take a position with Mr. Pretty-Heart."
"Monkeys don't have servants."
"In plays they have. Well, you've come straight from your village and your new master thinks that you're a fool."
"Oh, I don't like that!"
"What does that matter if it makes the people laugh? Well, you have come to this gentleman to be his servant and you are told to set the table. Here is one like we shall use in the play; go and set it."
On this table there were plates, a glass, a knife, a fork, and a white tablecloth. How could I arrange all those things? As I pondered over this question, leaning forward with hands stretched out and mouth open, not knowing where to begin, my master clapped his hands and laughed heartily.
"Bravo!" he cried, "bravo! that's perfect. The boy I had before put on a sly expression as much as to say, 'See what a fool I can make of myself'; you are natural; that is splendid."
"But I don't know what I have to do."
"That's why you are so good! After you do know, you will have to pretend just what you are feeling now. If you can get that same expression and stand just like you are standing now, you'll be a great success. To play this part to perfection you have only to act and look as you do at this moment."
"Mr. Pretty-Heart's Servant" was not a great play. The performance lasted not more than twenty minutes. Vitalis made us do it over and over again, the dogs and I.
I was surprised to see our master so patient. I had seen the animals in my village treated with oaths and blows when they could not learn. Although the lesson lasted a long time, not once did he get angry, not once did he swear.
"Now do that over again," he said severely, when a mistake had been made. "That is bad, Capi. I'll scold you, Pretty-Heart, if you don't pay attention."
And that was all, but yet it was enough.
"Take the dogs for an example," he said, while teaching me; "compare them with Pretty-Heart. Pretty-Heart has, perhaps, vivacity and intelligence, but he has no patience. He learns easily what he is taught, but he forgets it at once; besides he never does what he is told willingly. He likes to do just the contrary. That is his nature, and that is why I do not get angry with him; monkeys have not the same conscience that a dog has; they don't understand the meaning of the word 'duty,' and that is why they are inferior to the dog. Do you understand that?"
"I think so."
"You are intelligent and attentive. Be obedient, do your best in what you have to do. Remember that all through life."
Talking to him so, I summoned up courage to ask him about what had so astonished me during the rehearsal: how could he be so wonderfully patient with the dogs, the monkey, and myself?
He smiled.
"One can see that you have lived only with peasants who are rough with animals, and think that they can only be made to obey by having a stick held over their heads. A great mistake. One gains very little by being cruel, but one can obtain a lot, if not all, by gentleness. It is because I am never unkind to my animals that they are what they are. If I had beaten them they would be frightened creatures; fear paralyzes the intelligence. Besides, if I gave way to temper I should not be what I am; I could not have acquired this patience which has won their confidence. That shows that who instructs others, instructs himself. As I have given lessons to my animals, so I have received lessons from them. I have developed their intelligence; they have formed my character."
I laughed. This seemed strange to me.
"You find that odd," he continued; "odd that a dog could give a lesson to a man, yet it is true. The master is obliged to watch over himself when he undertakes to teach a dog. The dog takes after the master. Show me your dog and I'll tell you what you are. The criminal has a dog who is a rogue. The burglar's dog is a thief; the country yokel has a stupid, unintelligent dog. A kind, thoughtful man has a good dog."
I was very nervous at the thought of appearing before the public the next day. The dogs and the monkey had the advantage over me, they had played before, hundreds of times. What would Vitalis say if I did not play my part well? What would the audience say? I was so worried that, when at last I dropped off to sleep, I could see in my dreams a crowd of people holding their sides with laughter because I was such a fool.
I was even more nervous the next day, when we marched off in a procession to the market place, where we were to give our performance. Vitalis led the way. Holding his head high and with chest thrown out, he kept time with his arms and feet while gayly playing his fife. Behind him came Capi, carrying Pretty-Heart on his back, wearing the uniform of an English general, a red coat and trousers trimmed with gold braid and helmet topped with a plume. Zerbino and Dulcie came next, at a respectful distance. I brought up the rear. Our procession took up some length as we had to walk a certain space apart. The piercing notes of the fife brought the people running from their houses. Scores of children ran behind us, and by the time we had reached the square, there was a great crowd. Our theater was quickly arranged. A rope was fastened to four trees and in the middle of this square we took our places.
The first numbers on the program consisted of various tricks performed by the dogs. I had not the slightest notion what they did. I was so nervous and taken up in repeating my own part. All that I remember was that Vitalis put aside his fife and took his violin and played accompaniments to the dogs' maneuvers; sometimes it was dance music, sometimes sentimental airs.
The tricks over, Capi took a metal cup between his teeth and began to go the round of the "distinguished audience." When a spectator failed to drop a coin in, he put his two fore paws upon the reluctant giver's pocket, barked three times, then tapped the pocket with his paw. At this every one laughed and shouted with delight.
"If that ain't a cunning spaniel! He knows who's got money and who hasn't!"
"Say, out with it!"
"He'll give something!"
"Not he!"
"And his uncle left him a legacy! The stingy cuss!"
And, finally, a penny was dug out of a deep pocket and thrown into the cup. During this time, Vitalis, without saying a word, but with his eyes following Capi, gayly played his violin. Soon Capi returned to his master, proudly carrying the full cup.
Now for the comedy.
"Ladies and gentlemen," said Vitalis, gesticulating with his bow in one hand and his violin in the other, "we are going to give a delightful comedy, called 'Mr. Pretty-Heart's Servant, or the Fool is not Always the One You Would Think.' A man of my standing does not lower himself by praising his plays and actors in advance. All I have to say is look, listen, and be ready to applaud."
What Vitalis called a delightful comedy was really a pantomime; naturally it had to be for the very good reason that two of its principals, Pretty-Heart and Capi, could not speak, and the third, myself, was incapable of uttering two words. However, so that the audience would clearly understand the play, Vitalis explained the various situations, as the piece progressed. For instance, striking up a warlike air, he announced the entrance of General Pretty-Heart, who had won his high rank in various battles in India. Up to that day General Pretty-Heart had only had Capi for a servant, but he now wished to have a human being as his means allowed him this luxury. For a long time animals had been the slaves of men, but it was time that such was changed!
While waiting for the servant to arrive, the General walked up and down, smoking his cigar. You should see the way he blew the smoke into the onlookers' faces! Becoming impatient, he began to roll his eyes like a man who is about to have a fit of temper. He bit his lips, and stamped on the ground. At the third stamp I had to make my appearance on the scene, led by Capi. If I had forgotten my part the dog would have reminded me. At a given moment he held out his paw to me and introduced me to the General. The latter, upon noticing me, held up his two hands in despair. What! Was that the servant they had procured for him. Then he came and looked pertly up into my face, and walked around me, shrugging his shoulders. His expression was so comical that every one burst out laughing. They quite understood that the monkey thought I was a fool. The spectators thought that also. The piece was made to show how dense was my stupidity, while every opportunity was afforded the monkey to show his sagacity and intelligence. After having examined me thoroughly, the General, out of pity, decided to keep me. He pointed to a table that was already set for luncheon, and signed to me to take my seat.
"The General thinks that after his servant has had something to eat he won't be such an idiot," explained Vitalis.
I sat down at the little table; a table napkin was placed on my plate. What was I to do with the napkin?
Capi made a sign for me to use it. After looking at it thoughtfully for a moment, I blew my nose. Then the General held his sides with laughter, and Capi fell over with his four paws up in the air, upset at my stupidity.
Seeing that I had made a mistake, I stared again at the table napkin, wondering what I was to do with it. Then I had an idea. I rolled it up and made a necktie for myself. More laughter from the General. Another fall from Capi, his paws in the air.
Then, finally overcome with exasperation, the General dragged me from the chair, seated himself at my place, and ate up the meal that had been prepared for me.
Ah! he knew how to use a table napkin! How gracefully he tucked it into his uniform, and spread it out upon his knees. And with what an elegant air he broke his bread and emptied his glass!
The climax was reached when, luncheon over, he asked for a toothpick, which he quickly passed between his teeth. At this, applause broke out on all sides, and the performance ended triumphantly.
What a fool of a servant and what a wonderful monkey!
On our way back to the inn Vitalis complimented me, and I was already such a good comedian that I appreciated this praise from my master.