CHƯƠNG XXII
MẮC KẸT TRONG HẦM MỎ
Vài ngày sau, giữa lúc đang mải miết đẩy xe goòng dọc theo đường ray, tai tôi bỗng ù đi bởi một tiếng gầm rú khủng khiếp. Âm thanh rùng rợn ấy dội lại từ mọi ngóc ngách, bủa vây lấy tôi. Bản năng sinh tồn trỗi dậy, tôi chỉ muốn buông tay mà cắm đầu chạy trốn. Thế nhưng, nỗi e ngại bị mọi người cười nhạo thói nhát gan đã chôn chân tôi lại. Trong đầu tôi quẩn quanh câu hỏi: "Phải chăng vừa có một vụ nổ?". Đột ngột, hàng trăm con chuột túa ra, sượt qua chân tôi, tháo chạy tán loạn như một đội kỵ binh vỡ trận. Liền ngay sau đó là hàng loạt âm thanh va đập kỳ dị chấn động cả mặt đất lẫn vách hầm, quyện cùng tiếng nước chảy róc rách mỗi lúc một rõ. Thấy điềm chẳng lành, tôi co cẳng chạy thục mạng về phía bác Gaspard.
"Nước đang tràn vào hầm mỏ rồi bác ơi!" tôi hét lên.
"Cháu đừng có nói gở!" bác gạt đi.
"Ôi, bác thử lắng nghe mà xem!"
Dường như thái độ hoảng loạn của tôi đã khiến bác Gaspard chột dạ. Bác buông dở công việc, dỏng tai lên. Thứ âm thanh chết chóc kia giờ đã lớn vù vù, mang theo hơi thở lạnh lẽo bủa vây lấy chúng tôi.
"Chạy đi cháu! Chạy mau cứu lấy mạng sống đi. Hầm mỏ bị ngập thật rồi!" bác thất thanh hét lớn.
"Ông giáo sư ơi! Ông giáo sư ơi!" tôi gào lên gọi ông.
Chúng tôi cuống cuồng lao thẳng xuống hầm lò. Cụ già cũng hớt hải chạy về phía chúng tôi. Dưới chân, dòng nước đục ngầu đang dâng lên cuồn cuộn.
"Cháu đi trước đi," ông vội vã giục khi cả ba vừa chạy tới chân chiếc thang.
Giờ khắc sinh tử này chẳng còn chỗ cho những phép lịch sự nhường nhịn. Bác Gaspard thoăn thoắt trèo lên trước, tôi bám sát theo sau, rồi mới đến lượt giáo sư. Thế nhưng, ngay cả khi chúng tôi chưa kịp chạm chân lên tới đỉnh thang, một dòng nước xiết đã xối xả trút xuống như thác đổ, đánh cái xèo tắt lịm mấy ngọn đèn le lói. Bóng tối đặc quánh tức thì nuốt chửng vạn vật.
"Bám chắc vào!" bác Gaspard hét lớn xé toạc màn đêm.
Chúng tôi nghiến răng, gồng mình bám rịt lấy từng bậc thang. Dẫu vậy, vài người xấu số ở phía dưới đã bị dòng nước quật ngã, hất văng ra ngoài. Dòng thác trút xuống giờ đã biến thành một trận lở tuyết kinh hoàng.
Chúng tôi đã ngoi lên được chiếu nghỉ đầu tiên. Nhưng nước cũng đã dâng tới nơi ngập ngụa. Khắp nơi chỉ còn một mịt mùng tăm tối, bởi ngọn đèn duy nhất đã tắt ngúm tự khi nào.
"Ông e là chúng ta hết đường sống rồi," giáo sư cất giọng thì thào, trầm đục. "Cháu hãy cầu nguyện đi, cậu bé."
Ngay lúc đó, bảy tám người thợ mỏ tay lăm lăm ngọn đèn hớt hải lao về phía chúng tôi, tuyệt vọng tranh nhau tìm đường đến chiếc thang. Dòng nước lúc này đã hóa thành con thủy quái cuồng nộ, gầm gào xé toạc hầm mỏ. Trên đường đi điên cuồng của mình, nó cuốn phăng mọi thứ, bẻ gãy những khúc gỗ lớn rồi quăng quật, xoay tít chúng nhẹ bẫng tựa lông hồng.
"Chúng ta phải đi tìm một ống thông gió ngay thôi, các anh!" giáo sư dõng dạc lên tiếng. "Chỉ có nơi đó mới che chở được cho chúng ta. Đưa cho tôi một cái đèn!"
Ngày thường, mấy ai thèm đoái hoài đến lời cụ già móm mém ấy, có chăng cũng chỉ để buông lời trêu chọc cợt nhả. Nhưng giờ đây, khi tử thần gõ cửa, ngay cả gã thanh niên vạm vỡ nhất cũng đã bủn rủn chân tay. Chính cái giọng nói điềm tĩnh của người mà họ từng giễu cợt bao bận, lúc này lại hóa thành mệnh lệnh thép khiến họ nhất nhất phục tùng. Một người thợ ngoan ngoãn đưa đèn cho ông. Ông chộp lấy ngọn đèn, kéo tay tôi lôi đi xăm xăm dẫn đầu đoàn người. Hơn ai hết, chính ông lão ấy thuộc nằm lòng từng ngóc ngách đục khoét sâu trong lòng đất này. Nước đã dâng ngập ngang eo tôi, buốt lạnh. Giáo sư dẫn chúng tôi men theo hướng ống thông gió gần nhất. Hai gã thợ mỏ dùng dằng không chịu bước vào, khăng khăng cho rằng đi theo lối đó chẳng khác nào tự đâm đầu vào ngõ cụt. Mặc kệ lời khuyên can, họ quay ngoắt lưng đi dọc theo hầm lò. Và đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi nhìn thấy họ trên cõi đời này.
Rồi một tiếng ồn đinh tai nhức óc nổ tung. Nước xối ào ào, những cột gỗ chống hầm gãy gập vụn nát, tiếng không khí bị nén lại kêu lép bép, hòa cùng tiếng gầm rú man dại làm chúng tôi lạnh toát sống lưng.
"Đúng là cơn đại hồng thủy rồi!" một người gào thét.
"Ngày tận thế!"
"Lạy Chúa lòng lành, xin rủ lòng thương xót lấy chúng con!"
Mặc cho những tiếng khóc than tuyệt vọng xé lòng vây quanh, giáo sư vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạ thường. Giọng ông cất lên rành rọt, đủ sức kéo mọi sự chú ý:
"Can đảm lên nào, các anh! Đường sống dẫu mỏng manh nhưng chúng ta không thể chôn chân đứng nhìn cái chết được. Đã đến lúc phải hành động. Chúng ta không thể co cụm mãi ở đây. Mọi người hãy hợp sức đào một cái hốc trên vách đá phiến kia để có chỗ nghỉ chân."
Những lời nói đanh thép của ông như liều thuốc an thần, làm dịu đi bầu không khí ngột ngạt. Bằng những đôi bàn tay trần tứa máu và chiếc móc đèn, họ xúm lại ra sức đào bới, khoét rỗng vách đất. Công việc khó nhọc vô chừng, bởi con dốc nơi ống thông gió chúng tôi đang trú ẩn dựng đứng và trơn tuột như đổ mỡ. Chỉ cần trượt chân sai một nhịp, vực thẳm tử thần dưới kia sẽ nuốt trọn cả mạng người. Cuối cùng, sau bao nỗ lực không ngừng nghỉ, một cái hốc tạm bợ cũng thành hình. Chúng tôi tạm dừng tay, tựa lưng vách đá mà điểm mặt nhau. Cả thảy còn lại bảy người: giáo sư, bác Gaspard, ba người thợ mỏ là Pages, Comperou và Bergounhoux, cùng một anh chàng đẩy xe goòng tên Carrory, và tôi.
Tiếng gầm rú ngoài hầm mỏ vẫn chưa hề có dấu hiệu hạ nhiệt; thứ âm thanh chết chóc ấy kinh hoàng đến mức ngôn từ nào cũng trở nên bất lực. Dường như thời khắc cuối cùng của chúng tôi đã điểm. Sợ hãi đến tột độ, chúng tôi chỉ biết đưa mắt nhìn nhau, những ánh nhìn chất chứa muôn vàn thắc mắc không lời giải.
"Là ác thần của hầm mỏ2 nổi giận giáng họa xuống chúng ta đấy!" một gã thợ mỏ rú lên.
"Cháu đoán chừng... chắc có một cái hốc đá bị vỡ, làm con sông phía trên tràn xuống," tôi đánh bạo góp lời.
Giáo sư lặng thinh. Ông cụ chỉ khẽ nhún vai, điềm nhiên như thể đang thong thả tranh luận về một sự đời nào đó giữa thanh thiên bạch nhật, dưới tán cây dâu tằm rợp mát, miệng còn đang nhai nhóp nhép một củ hành.
"Gạt hết mấy chuyện thần thánh ma quỷ nhảm nhí ấy sang một bên đi," cuối cùng ông cũng lên tiếng phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng. "Hầm mỏ bị ngập, đó là điều chắc chắn. Nhưng cớ sự do đâu, lũ chuột chũi loanh quanh dưới lòng đất như chúng ta làm sao tỏ tường được..."
"Nghe này, thưa ông, nếu ông đã mù tịt không biết thì tốt nhất là câm cái miệng lại đi," đám thợ mỏ lại bắt đầu sừng sộ quát nạt.
Giờ đây, khi chân cẳng đã khô ráo, nước chẳng còn mấp mé hăm dọa mạng sống, chẳng ai màng bận tâm nghe ông lão lải nhải thêm nửa lời. Cái uy quyền vừa được thiết lập nhờ sự điềm tĩnh và thông thái trong giờ phút sinh tử thoắt chốc bay biến sạch sành sanh.
"Chúng ta sẽ không chết chìm đâu," ông vẫn nhỏ nhẹ cất lời; "hãy nhìn ngọn lửa le lói trong chiếc đèn của các anh xem, bây giờ nó đã ngắn đi chừng nào."
"Thôi đừng có làm thầy bói nữa! Rốt cuộc ông muốn ám chỉ cái gì? Nói toạc móng heo ra xem nào."
"Tôi chẳng có tài bói toán, nhưng chúng ta sẽ không phải bỏ mạng dưới dòng nước đục ngầu kia đâu. Chúng ta đang bị nhốt trong một 'cái bong bóng' không khí khổng lồ, và chính cái khối lượng không khí bị nén chặt lại này sẽ chặn đứng không cho nước dâng lên thêm nữa. Cái ống thông gió này chẳng có lối thoát ra ngoài, giờ nó vận hành che chở chúng ta hệt như nguyên lý chiếc chuông lặn dưới đáy biển3 của phường thợ lặn vậy. Không khí đã bị nén ứ đọng lại trong ống, nó sẽ tạo thành bức tường vô hình đẩy lùi dòng nước."
"Cái thứ luồng không khí hôi hám, đặc quánh chết tiệt ấy mới là thứ đáng sợ... Mà lúc này nước cũng chẳng dâng lên thêm được tấc nào; hầm mỏ dưới kia chắc đã ăm ắp nước..."
"Thằng Marius nhà tôi đâu rồi?" tiếng Pages gào lên đau đớn xé ruột khi sực nhớ tới đứa con trai độc nhất vẫn đang hì hục làm việc dưới tầng ba.
"Ôi, Marius! Marius con ơi!" ông ta khóc rống lên điên dại.
Không có lấy một lời đáp trả, dẫu chỉ là một âm thanh vọng lại mỏng manh. Tiếng gào thét của ông ta chẳng tài nào xuyên thủng nổi bức tường của "cái bong bóng" vô hình đang giam lỏng chúng tôi.
Marius liệu có kịp thoát thân? Chẳng nhẽ một trăm năm mươi con người kia đã phải chịu cảnh vùi thây dưới dòng nước lạnh lẽo? Chuyện đó kinh khủng, kinh khủng quá đi mất! Ít nhất một trăm năm mươi người thợ mỏ đã xuống giếng sâu ngày hôm nay, có bao nhiêu người đã may mắn tìm được lối thoát qua những giếng thông gió, hay chí ít cũng tìm được một chỗ nương náu giống như chúng tôi?
Giờ đây, sự im lặng tuyệt đối đã trùm lấp khắp hầm mỏ. Dưới chân chúng tôi, dòng nước đen kịt nằm im lìm, không một gợn sóng, chẳng một tiếng róc rách xôn xao. Hầm mỏ đã ngập đầy. Sự tĩnh lặng đè nặng, một vẻ đặc quánh và chết chóc không thể xuyên thủng, thứ làm người ta choáng váng và ngạt thở hơn cả tiếng ầm ầm kinh hoàng khi dòng nước cuồn cuộn ập vào lúc nãy. Chúng tôi hiện đang kẹt trong một nấm mồ, bị chôn sống ở độ sâu hơn một trăm bộ4 dưới lòng đất. Dường như ai nấy đều cảm nhận được trọn vẹn sự tàn khốc của cảnh ngộ này. Ngay cả giáo sư cũng bộc lộ vẻ suy sụp. Đột nhiên, tôi cảm thấy vài giọt nước ấm nóng rơi rớt trên tay mình. Đó là anh Carrory... Anh ấy đang khóc, những dòng lệ tuôn rơi trong câm lặng. Rồi một giọng gào thét cất lên xé toạc màn đêm:
"Marius! Con trai của ta, Marius!"
Không khí trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở; lồng ngực tôi như bị ai bóp nghẹt, còn hai tai thì ù đi vì những tiếng vo ve. Nỗi sợ hãi dâng trào trong tôi, sợ dòng nước quái ác, sợ bóng tối đặc quánh, và sợ hãi trước cái chết đang cận kề. Sự im lặng đè nặng lên tâm trí tôi, những bức tường đá lởm chởm, không bằng phẳng của nơi trú ẩn cứ như thể chực chờ sụp xuống, vùi lấp và nghiền nát tôi dưới sức nặng ngàn cân của chúng. Liệu tôi sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ còn được nhìn thấy bé Lise nữa sao, rồi cả anh Arthur, bà Milligan, và Mattia thân yêu của tôi nữa? Liệu họ có thể tìm cách nào làm cho Lise hiểu rằng tôi đã không còn trên cõi đời này, rằng tôi mãi mãi chẳng thể mang cho cô bé tin tức về những người anh chị em của mình được nữa! Và cả má Barberin, ôi má Barberin tội nghiệp của tôi!...
"Theo ý tôi, chẳng có ai đang cố gắng giải cứu chúng ta đâu," bác Gaspard nói, cuối cùng đã phá vỡ sự im lặng chết chóc. "Chúng ta không hề nghe thấy một mảy may âm thanh nào cả."
"Sao các anh lại có thể nghĩ về những người anh em đồng chí của mình như vậy?" giáo sư sốt sắng kêu lên. "Các anh thừa biết rằng trong mọi tai nạn hầm mỏ, những người thợ không bao giờ bỏ rơi lẫn nhau, và dẫu là hai mươi người, hay một trăm người, thì thà chết còn hơn là bỏ mặc một người anh em mà không dang tay cứu giúp. Các anh đều thừa biết điều đó mà."
"Đúng là như vậy," bác Gaspard thì thầm chua xót.
"Đừng hiểu nhầm, họ đang dốc hết sức để tiếp cận đến chỗ chúng ta. Họ có hai cách,... một là đào một đường hầm đâm thẳng xuống chỗ chúng ta dưới này, hai là bơm hút nước ra ngoài."
Những người thợ mỏ bắt đầu râm ran bàn tán, nhưng đều là những lời bâng quơ, đồn đoán xem sẽ phải mất bao lâu để hoàn thành nhiệm vụ này. Tất cả đều chua chát nhận ra rằng chúng tôi sẽ phải cầm cự trong nấm mồ tăm tối này ít nhất tám ngày ròng. Tám ngày! Tôi từng nghe phong phanh chuyện những người thợ mỏ bị mắc kẹt suốt hai mươi bốn ngày đêm, nhưng đó là chuyện kể, còn đây lại là thực tại khắc nghiệt. Khi tôi lờ mờ thấm thía được ý nghĩa thực sự của khoảng thời gian ấy, tôi chẳng còn bụng dạ nào để bận tâm đến những lời bàn tán xung quanh mình nữa. Đầu óc tôi trở nên choáng váng, quay cuồng.
Lại thêm một khoảng thời gian im lặng bao trùm. Tất cả đều chìm đắm trong mớ suy nghĩ ngổn ngang của riêng mình. Chúng tôi cứ thẫn thờ như thế trong bao lâu thì tôi chẳng thể đong đếm được, nhưng đột nhiên có một tiếng kêu thất thanh:
"Máy bơm đang chạy rồi!"
Câu nói ấy được thốt lên đồng thanh, bởi những âm thanh vừa dội vào tai dường như đã chạm vào chúng tôi bằng một luồng điện xẹt, khiến tất cả bật phắt dậy. Chúng tôi sẽ được cứu!
Anh Carrory chộp lấy tay tôi, siết thật chặt.
"Em đúng là một cậu bé ngoan," anh ấy nói.
"Không, anh mới thế," tôi đáp lời.
Nhưng anh ấy cứ một mực khăng khăng rằng tôi là một cậu bé ngoan. Thái độ của anh ấy lúc này giống hệt như một kẻ đang say rượu. Mà đúng là thế thật; anh ấy đang say sưa, ngất ngây với niềm hy vọng được sống. Nhưng trước khi có thể lại được ngước nhìn ánh mặt trời rực rỡ và lắng nghe tiếng chim hót líu lo trên cành, chúng tôi đã phải trải qua những ngày dài đằng đẵng, tàn khốc của sự thống khổ, chìm trong nỗi dằn vặt khôn nguôi khi tự hỏi liệu bản thân có bao giờ còn được nhìn thấy ánh sáng ban ngày nữa hay không.
Tất cả chúng tôi đều khát cháy cổ. Pages muốn trèo xuống và vớt một ít nước, nhưng giáo sư khuyên anh ta nên ở yên tại chỗ. Ông lo ngại rằng đống đổ nát mà chúng tôi đã chất lên sẽ sạt lở dưới sức nặng của anh ta, kéo theo việc anh ta rơi tõm xuống nước.
"Remi nhẹ cân hơn, hãy đưa cho cháu nó một chiếc ủng, rồi nó có thể trượt xuống múc nước cho tất cả chúng ta," ông đề nghị.
Chiếc ủng của anh Carrory được chuyền tay cho tôi, và tôi chuẩn bị trượt người xuống bờ dốc.
"Đợi một chút," giáo sư nói; "để ông giúp cháu một tay."
"Ồ, không sao đâu, giáo sư ạ," tôi tự tin đáp; "nếu có ngã xuống nước thì cháu vẫn bơi được."
"Cứ làm theo lời ông bảo," ông nài nỉ; "nắm lấy tay ông."
Trong nỗ lực muốn vươn ra giúp tôi, ông đã tính toán sai nhịp bước chân của mình, hoặc cũng có thể là khối than đã vỡ vụn dưới sức nặng của ông, khiến ông trượt dài trên mặt phẳng nghiêng rồi ngã nhào, chúi đầu xuống dòng nước đen ngòm. Chiếc đèn mà ông cầm trên tay để soi sáng cho tôi cũng lăn theo ông và chìm nghỉm. Ngay lập tức, chúng tôi bị nhấn chìm vào bóng tối mịt mùng, vì đó là ngọn đèn duy nhất chúng tôi đốt lên, - một tiếng thét đồng thanh vang lên từ tất cả mọi người. May mắn thay, tôi đã ở sẵn tư thế chạm xuống nước. Bằng cách trượt dài trên lưng, tôi thả mình lao xuống dòng nước để đuổi theo cụ già.
Trong những ngày tháng lang bạt rày đây mai đó cùng cụ Vitalis, tôi đã học được cách bơi lội và lặn ngụp. Việc ở dưới nước với tôi cũng thoải mái y như đi trên cạn, nhưng làm thế nào để định hướng trong cái hố đen thăm thẳm này? Tôi đã không mảy may nghĩ đến điều đó khi phó mặc cho cơ thể trượt xuống; tôi chỉ le lói duy nhất một ý nghĩ rằng ông lão sẽ bị chết đuối. Tôi nên tìm ở đâu đây? Nên bơi về hướng nào? Trong lúc đang hoang mang tự hỏi, tôi chợt cảm thấy một bàn tay rắn chắc túm chặt lấy vai mình. Tôi bị lôi tuột xuống dưới mặt nước. Đạp chân thật mạnh, tôi ngoi lên lại. Bàn tay ấy vẫn đang bấu chặt vào vai tôi không buông.
"Bám chặt vào nhé, giáo sư," tôi kêu lên; "hãy giữ đầu ông nhô cao lên và chúng ta sẽ được cứu!"
Được cứu ư! Chẳng ai trong hai chúng tôi được cứu cả. Vì tôi hoàn toàn mất phương hướng, chẳng biết phải bơi về ngả nào.
"Lên tiếng đi, mọi người!" tôi gào lên trong bóng tối.
"Remi, cháu đang ở đâu thế?"
Đó là giọng của bác Gaspard; nó vọng lại từ phía bên trái.
"Thắp đèn lên!"
Ngay lập tức, một tia sáng lóe lên. Tôi chỉ cần vươn tay ra là chạm được vào bờ. Bằng một tay, tôi bấu chặt vào tảng than nhô ra và gồng mình kéo cụ già lên. Đúng lúc lắm, vì ông đã uống phải rất nhiều nước và đang rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Tôi cố sức giữ cho đầu ông nhô cao khỏi mặt nước và ông nhanh chóng hồi tỉnh lại. Những người bạn đồng hành của chúng tôi lao tới nắm lấy ông, kéo tuột ông lên bờ trong khi tôi đẩy ông từ phía sau. Đến lượt mình, tôi cũng hì hục leo lên.
Sau tai nạn thót tim này, thứ mà trong một khoảnh khắc đã khiến chúng tôi ít nhiều xao nhãng khỏi hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi lại một lần nữa rơi thẳng vào hố sâu của sự trầm cảm và tuyệt vọng, kéo theo đó là những ý nghĩ ám ảnh về cái chết đang rình rập đến gần. Tôi bỗng trở nên vô cùng buồn ngủ; nhưng chốn này quả thật không hề thuận lợi cho một giấc ngủ; tôi có thể lăn tuột xuống nước bất cứ lúc nào. Khi ấy, giáo sư, thấu hiểu được mối nguy hiểm đang chực chờ tôi, đã nhẹ nhàng đặt đầu tôi tựa lên ngực ông và vòng tay ôm trọn lấy cơ thể tôi. Ông ôm tôi không quá chặt, nhưng đủ vững chãi để giữ cho tôi khỏi trượt ngã, và tôi cứ thế nằm thiếp đi như một đứa trẻ nương náu trên đầu gối mẹ mình. Mỗi khi tôi cựa quậy, dở thức dở ngủ, ông chỉ khẽ thay đổi tư thế của cánh tay đã mỏi nhừ, rồi lại tiếp tục ngồi bất động như một bức tượng.
"Ngủ đi, cậu bé con," ông thì thầm, cúi người xuống sát mặt tôi; "đừng sợ. Có ông giữ cháu đây rồi, Remi."
Và tôi chìm vào giấc ngủ mà không mảy may vương vấn chút sợ hãi nào, vì tôi thừa biết ông sẽ không bao giờ buông tay tôi ra.
Chúng tôi hoàn toàn mất đi ý niệm về thời gian. Chẳng ai rõ chúng tôi đã kẹt lại nơi đây được hai ngày hay sáu ngày rồi. Những ý kiến tranh cãi nổ ra. Chúng tôi không còn bàn tán gì về sự giải thoát của mình nữa. Cái bóng của Thần Chết đã ngự trị vững chãi trong trái tim mỗi người.
"Ông muốn nói sao cũng được, giáo sư ạ," Bergounhoux tuyệt vọng kêu lên; "ông đã tính toán xem họ sẽ mất bao lâu để bơm hết nước ra, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ kịp để cứu chúng ta đâu. Chúng ta sẽ chết vì đói hoặc chết ngạt thôi..."
"Hãy kiên nhẫn nào," giáo sư điềm tĩnh đáp. "Tôi biết chúng ta có thể cầm cự được bao lâu mà không có thức ăn và tôi đã tính toán kỹ lưỡng rồi. Họ sẽ làm kịp lúc thôi."
Ngay lúc đó, gã Comperou to xác bật khóc nức nở.
"Đức Chúa nhân từ đang trừng phạt tôi," hắn ta kêu gào, "và tôi ăn năn! Tôi thật lòng ăn năn! Nếu tôi có thể sống sót thoát ra khỏi chốn này, tôi thề sẽ chuộc lại những lỗi lầm đê tiện tôi đã gây ra, và nếu tôi không thoát được, xin các anh hãy chuộc lỗi thay tôi. Các anh biết Rouquette, người bị kết án năm năm tù giam vì tội ăn cắp chiếc đồng hồ của bà Vidal chứ?... Tôi chính là tên trộm đó! Tôi đã lấy nó! Giờ nó đang được giấu dưới gầm giường của tôi đấy.... Ôi trời ơi...."
"Ném quách hắn xuống nước đi," cả Pages và Bergounhoux cùng rống lên giận dữ.
"Vậy các anh muốn ra trình diện trước mặt Chúa với một tội ác máu lạnh oằn nặng trên lương tâm mình sao?" giáo sư cất cao giọng la lớn; "hãy để cho hắn được sám hối!"
"Tôi ăn năn! Tôi ăn năn," Comperou khóc lóc thảm thiết, còn rên rỉ hơn cả một đứa trẻ con, mặc cho thân hình to vâm váp của hắn.
"Xuống nước! Ném nó xuống nước!" Pages và Bergounhoux tiếp tục hét lên, chực chờ lao tới chỗ kẻ có tội, kẻ lúc này đang rúm ró thu mình lẩn trốn sau lưng giáo sư.
"Nếu các anh muốn ném hắn xuống nước, các anh sẽ phải ném luôn cả tôi cùng với hắn đấy!"
"Không! Không!"
Cuối cùng, họ nói sẽ không đẩy hắn xuống dòng nước đen ngòm kia, nhưng phải đi kèm với một điều kiện; hắn ta phải bị vứt xó ở một góc và tuyệt đối không một ai được phép mở miệng nói chuyện với hắn hay thèm đếm xỉa đến hắn nữa.
"Đúng vậy, đó là hình phạt mà hắn đáng phải gánh chịu," giáo sư nói. "Như vậy mới là công bằng."
Sau những lời nói đanh thép của giáo sư, thứ nghe hệt như một bản án kết tội dành cho Comperou, tất cả chúng tôi vội thu mình lại với nhau và nhích ra xa khỏi hắn ta càng xa càng tốt, cố ý tạo ra một khoảng trống lạnh lẽo giữa chúng tôi và gã đàn ông khốn khổ đó. Khoảng vài giờ đồng hồ trôi qua, tôi cho là thế, hắn ta chỉ ngồi rũ rượi ở đó, chịu đựng nỗi đau đớn tột cùng, đôi môi thỉnh thoảng lại mấp máy run rẩy, bật ra từng tiếng:
"Tôi ăn năn! Tôi thật lòng ăn năn!"
Và rồi Pages cùng Bergounhoux lại quát lên:
"Đã quá muộn rồi! Muộn quá rồi! Mày hối hận chỉ vì bây giờ mày đang sợ hãi cái chết; mày lẽ ra phải hối hận từ sáu tháng trước, một năm trước rồi kìa."
Hắn ta thở hổn hển một cách nhọc nhằn và đau đớn, nhưng vẫn lặp đi lặp lại như một cái máy:
"Tôi ăn năn! Tôi ăn năn!"
Hắn ta đang lên cơn sốt hầm hập; toàn thân run rẩy như cầy sấy và hai hàm răng cứ đánh bò cạp vào nhau lập cập.
"Tôi khát quá," hắn ta thều thào; "làm ơn đưa cho tôi chiếc ủng."
Không còn lấy một giọt nước nào trong chiếc ủng. Tôi đứng dậy định trượt xuống vớt một ít, nhưng Pages, người vừa tinh ý nhìn thấy hành động của tôi, lập tức gọi giật tôi lại, và cùng lúc đó bác Gaspard cũng vươn tay kéo tôi lùi về.
"Chúng ta đã thề là sẽ không thèm bận tâm đến hắn ta cơ mà," bác nghiêm giọng nhắc nhở.
Trong vài phút, Comperou liên tục rền rĩ rằng hắn ta đang khát khô cả cổ; thấy chúng tôi nhất quyết không cho hắn uống, hắn lảo đảo tự đứng dậy để đi lấy nước.
"Thằng ngu đó sẽ kéo cả đống rác này sập xuống mất!" Pages hét lên hoảng hốt.
"Ít nhất hãy để cho anh ta được tự do," giáo sư lên tiếng.
Hắn ta đã nhìn thấy tôi trượt xuống dưới bằng cách nằm ngửa người. Hắn ta cũng lóng ngóng làm theo như vậy, nhưng tôi nhẹ cân, trong khi thân hình hắn lại quá đỗi nặng nề. Vừa mới ngả lưng nằm ngửa ra, lớp than đá đã tức tì sụt lún dưới sức nặng của hắn và, với đôi chân chới với duỗi thẳng tắp cùng hai cánh tay quờ quạng vung vẩy vào khoảng không, hắn ta trượt tuột xuống chiếc hố đen ngòm. Nước văng bắn tung tóe lên tận chỗ chúng tôi. Tôi vội chồm người về phía trước sẵn sàng lao xuống theo, nhưng cả bác Gaspard và giáo sư mỗi người đã nhanh tay tóm chặt lấy một cánh tay tôi.
Chết lặng đi, và toàn thân run lẩy bẩy vì kinh hãi, tôi rúm người lùi lại.
Thời gian trôi qua. Giáo sư là người duy nhất còn đủ sức để nói chuyện một cách đầy dũng cảm. Nhưng sự suy sụp cùng cực của chúng tôi cuối cùng cũng làm tinh thần gang thép của ông nhụt chí. Cơn đói cồn cào đã trở nên tồi tệ và quằn quại đến mức chúng tôi nhai ngấu nghiến cả lớp gỗ mục nát vương vãi xung quanh mình. Anh Carrory, với bộ dạng trông cứ như một con thú hoang, là người đói cồn cào nhất trong số tất cả; anh ấy đã dùng dao cắt nát chiếc ủng còn lại của mình và liên tục nhai trèo trẹo những miếng da dai nhách đó. Nhìn thấy cơn đói khát đã dồn ép chúng tôi đến đường cùng nhường nào, tôi thú thực rằng mình bắt đầu dâng lên những nỗi sợ hãi tột độ. Cụ Vitalis đã từng kể cho tôi nghe những câu chuyện rùng rợn về những người đi biển bị đắm tàu. Trong một câu chuyện, một toán thủy thủ đoàn bị đắm tàu trôi dạt trên một hoang đảo nơi không có bất cứ thứ gì để lót dạ, đã làm thịt cả cậu bé giúp việc trên tàu để ăn. Nhìn những người bạn đồng hành của mình lâm vào tình trạng ngắc ngoải vì chết đói như vậy, tôi rùng mình tự hỏi không biết số phận bi thảm đó có đang chực chờ rơi xuống đầu mình hay không. Tôi biết tỏng rằng giáo sư và bác Gaspard sẽ không bao giờ ăn thịt tôi, nhưng đối với Pages, Bergounhoux và Carrory, đặc biệt là Carrory với hàm răng trắng nhởn đang gặm nhấm miệt mài vào lớp da của chiếc ủng, thì tôi chẳng còn mảy may tự tin cho lắm.
Có một lần, khi đang ngủ gà ngủ gật, tôi giật mình thon thót khi nghe giáo sư nói bằng giọng gần như chỉ thì thầm thoảng qua, cứ như thể ông đang mộng du vậy. Ông đang lầm bầm nói về những đám mây, về cơn gió và ánh mặt trời rực rỡ. Sau đó, Pages và Bergounhoux cũng bắt đầu lải nhải lảm nhảm với ông những lời lẽ ngớ ngẩn, xuẩn ngốc. Chẳng ai buồn đợi người kia lên tiếng trả lời. Bác Gaspard dường như cũng chẳng hề mảy may để tâm đến việc bọn họ đã trở nên điên loạn đến nhường nào. Chẳng lẽ tất cả đều đã hóa điên hết cả rồi sao? Biết phải làm gì đây?
Đột nhiên, tôi lóe lên suy nghĩ mình sẽ thắp một ngọn đèn. Để tiết kiệm chút nguyên liệu cỏn con, chúng tôi đã thống nhất chỉ thắp sáng khi có việc thực sự cần thiết. Ngay khi họ nhìn thấy ánh sáng le lói, dường như tất cả đã choàng tỉnh lại. Tôi lò dò đi lấy một chút nước cho họ. Dòng nước đang rút xuống!
Lát sau, họ lại bắt đầu nói năng lảm nhảm kỳ lạ. Suy nghĩ của chính tôi cũng trở nên mông lung và hoang dại, và trong suốt nhiều giờ đồng hồ, hay có thể là nhiều ngày dài đằng đẵng, chúng tôi nằm lay lắt đó, lẩm bẩm với nhau những điều điên rồ, vô nghĩa. Một lúc sau, chúng tôi trở nên tĩnh tâm, yên lặng hơn và Bergounhoux thều thào nói rằng trước khi nhắm mắt xuôi tay, chúng tôi nên viết xuống những tâm nguyện cuối cùng của đời mình. Chúng tôi thắp một ngọn đèn, Bergounhoux đã chấp bút viết thay cho tất cả chúng tôi, và mỗi người chúng tôi đều tự tay ký tên vào tờ giấy mỏng manh ấy. Tôi để lại con chó Capi và cây đàn hạc yêu quý của mình cho Mattia, và tôi bày tỏ tâm nguyện tha thiết mong Alexix hãy đến chỗ Lise, ôm hôn cô bé giùm tôi, và trao tặng cho cô bé bông hồng khô hiện vẫn đang được nâng niu cất giữ trong túi áo gi lê của tôi. Bé Lise yêu quý...
Chờ đợi thêm một lúc, tôi men theo con dốc trượt xuống dưới và nhận ra mực nước đã rút đi đáng kể. Lòng khấp khởi mừng rỡ, tôi tất tả quay lại chỗ mọi người, hồ hởi báo tin rằng giờ tôi có thể bơi tới chỗ những chiếc thang. Tôi sẽ nói cho đội cứu hộ biết chính xác chúng tôi đang mắc kẹt ở đoạn nào trong hầm mỏ. Giáo sư kịch liệt phản đối ý định liều lĩnh ấy, nhưng tôi vẫn quả quyết xin đi.
"Cứ đi đi, Remi! Nếu thành công, bác sẽ tặng cháu chiếc đồng hồ của bác làm phần thưởng," bác Gaspard lên tiếng khích lệ.
Vị giáo sư trầm ngâm giây lát, rồi ông tiến lại gần, khẽ nắm lấy tay tôi.
"Cháu thấy sao thì cứ làm vậy đi, cậu bé ạ," ông mỉm cười nói. "Cháu quả là một đứa trẻ có trái tim vô cùng can đảm. Ông nghĩ cháu đang dấn thân vào một việc bất khả thi, nhưng biết đâu đấy, trên đời này thiếu gì những điều tưởng chừng vô vọng lại có thể hóa thành kỳ tích. Lại đây hôn ông và bác Gaspard đi, cậu bé dũng cảm!"
Tôi ôm hôn vị giáo sư và bác Gaspard thật chặt, rồi cởi bỏ quần áo vướng víu trên người, dứt khoát trườn mình xuống dòng nước lạnh buốt.
"Mọi người nhớ phải liên tục la lớn lên nhé!" tôi ngoái lại dặn dò trước khi ngụp hẳn xuống nước. "Chính tiếng gọi của mọi người sẽ là ngọn hải đăng dẫn đường cho cháu đấy."
Vừa quạt nước, tôi vừa tự hỏi liệu không gian mấp mé sát trần hầm có đủ rộng để tôi bơi lội tự do hay không. Đó quả là một thử thách khó nhằn. Phải mất vài nhịp vùng vẫy ban đầu, tôi mới nhận ra mình hoàn toàn có thể lách qua nếu chịu khó bơi thật khẽ khàng. Tôi biết cách đó không xa có một ngã ba giao cắt giữa các nhánh hầm, và chỉ cần một phút lơ đễnh rẽ nhầm hướng, tôi sẽ vĩnh viễn lạc lối trong bóng đêm sâu thẳm này. Cả vòm hầm lẫn những vách đá nhấp nhô đều chẳng thể giúp tôi định vị; thứ duy nhất đáng tin cậy lúc này nằm dưới lớp bùn lầy lội kia: những thanh tà vẹt đường ray. Chỉ cần bám sát theo chúng, tôi cầm chắc sẽ tìm thấy lối ra chỗ thang máy. Cứ bơi được một đoạn, tôi lại quờ chân chìm xuống đáy bùn, cẩn thận dò dẫm chạm vào lớp sắt lạnh lẽo của đường ray rồi mới nhẹ nhàng nổi lên bơi tiếp. Có tiếng gọi của những người bạn đồng hành văng vẳng phía sau, cộng thêm đường ray vững chãi dưới chân, tôi cứ thế tiến lên mà không lo lạc bước. Khi tiếng gọi vọng lại ngày một mờ nhạt dần, cũng là lúc âm thanh ầm ĩ của dàn máy bơm nước mỗi lúc một rõ rệt hơn. Tôi đang tiến rất gần đến đích. Tạ ơn Chúa, tôi sắp được nhìn thấy ánh sáng mặt trời rồi!
Men theo đúng trục giữa của nhánh hầm lò, lẽ ra tôi chỉ việc ngoặt sang phải là sẽ chạm ngay vào đường ray. Bơi thêm một đoạn ngắn, tôi hít một hơi rồi lặn ngụp xuống dò dẫm. Trống không! Phía dưới chẳng có gì cả! Tôi cuống cuồng ngụp lặn, rà soát từ bên này sang bên kia vách hầm, nhưng tuyệt nhiên không vớt vát được một thanh sắt nào.
Thôi chết, tôi đi nhầm đường mất rồi!
Tiếng gọi của mọi người giờ đây chỉ còn thoi thóp vờn bên tai tôi, mỏng manh như tiếng thở dài của gió. Gom chút sức lực cuối cùng, tôi hít một hơi thật sâu, gồng mình lặn xuống đáy thêm lần nữa nhưng kết quả vẫn là con số không tròn trĩnh. Đường ray đã biến mất tăm!
Có lẽ tôi đã lạc sang một tầng hầm khác; hẳn là trong lúc vùng vẫy vô thức, tôi đã tự xoay vòng đổi hướng lúc nào không hay. Nhưng tại sao mọi người không tiếp tục gọi tên tôi nữa? Hay là họ vẫn đang gào thét, chỉ có điều tôi đã ở quá xa nên chẳng thể nghe thấy gì? Nỗi hoang mang tột độ bắt đầu xâm chiếm lấy tâm trí tôi. Lơ lửng giữa dòng nước đen ngòm và lạnh lẽo tựa băng giá, tôi hoàn toàn mất phương hướng, chẳng biết phải rẽ lối nào để tìm đường quay lại.
Đang lúc tuyệt vọng, đột nhiên, một tiếng gọi mơ hồ văng vẳng vọng lại, và nhờ thế tôi xác định được hướng cần quay về. Sau khi hối hả bơi ngược lại chừng chục sải tay, tôi thử rẽ phải, rồi lại ngoặt trái, nhưng tay vẫn chỉ chạm vào những vách đá dựng đứng. Rốt cuộc đường ray ở đâu? Lúc này tôi đã dám chắc mình đang ở đúng tầng hầm ban nãy, và sự thật phũ phàng chợt lóe lên trong đầu tôi: đường ray đã bị dòng nước lũ chảy xiết cuốn trôi từ lâu! Người dẫn đường duy nhất của tôi đã biến mất. Trong tình cảnh ngặt nghèo này, kế hoạch táo bạo kia đành vỡ lở, tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc cắn răng quay trở lại nơi bắt đầu.
Tôi dốc hết sức bình sinh, mải miết bơi nương theo những âm thanh quen thuộc để trở lại nơi trú ẩn. Càng lúc tôi càng nghe rõ mồn một tiếng của mọi người vọng ra dõng dạc và tràn đầy sức sống, cứ như thể họ vừa được tiếp thêm một nguồn sức mạnh thần kỳ nào đó. Chẳng mấy chốc, tôi đã chạm tay vào tới cửa miệng ống thông gió! Tôi cất cao giọng gọi tên họ.
"Quay lại đây nhanh lên, cậu bé!" tiếng giáo sư rền vang, giục giã.
"Cháu lạc mất đường rồi ông ơi!" tôi rầu rĩ đáp.
"Không sao cả, đường hầm giải cứu sắp đào xong rồi!" ông trấn an. "Đội cứu hộ đã nghe thấy tiếng kêu của chúng ta, và chúng ta cũng nghe rõ mồn một tiếng của họ. Chỉ một lát nữa thôi là đôi bên có thể trò chuyện được rồi."
Tôi lóp ngóp trèo thoăn thoắt lên chỗ mỏm đá khô ráo và vểnh tai lắng nghe. Quả thực, chúng tôi có thể nghe mồn một từng nhát cuốc bập mạnh vào vách đá, xen lẫn tiếng gọi vọng vào của những con người đang hối hả chạy đua với tử thần để giành lại sự sống cho chúng tôi. Âm thanh ấy tuy có phần yếu ớt nhưng lại vô cùng rành rọt. Khi niềm vui sướng tột độ ban đầu vừa kịp lắng xuống, tôi mới rùng mình nhận ra cơ thể mình đang đông cứng lại như một tảng băng. Vì chẳng còn mảnh quần áo khô nào để nhường lại, mọi người đành lấy lớp bụi than đắp kín người tôi lên tận cổ. Bác Gaspard cùng vị giáo sư già cũng xích lại, rúc sát vào hai bên hông tôi để san sẻ chút hơi ấm mỏng manh.
Giờ đây, chúng tôi ai nấy đều biết rõ đội cứu hộ sẽ sớm tiếp cận được nơi này thông qua cả đường hầm khoan ngang lẫn đường nước rút. Thế nhưng, khoảnh khắc chờ đợi trong chặng cuối của chốn ngục tù tăm tối này lại chính là những giờ phút đày đọa mòn mỏi và tàn nhẫn nhất. Những nhát cuốc đập đá vẫn đều đặn dội lại, tiếng máy bơm gầm rú hút nước chẳng hề ngơi nghỉ lấy một giây. Có một sự thật kỳ lạ thay, càng đến sát cái giây phút được chạm tay vào tự do, sinh lực của chúng tôi lại càng cạn kiệt dần. Nằm rúc sâu trong đống bụi than đen kịt, toàn thân tôi run lên bần bật, nhưng thật trớ trêu là tôi chẳng còn cảm nhận được cái lạnh nữa. Xung quanh tĩnh lặng như tờ, bởi lẽ tất thảy chúng tôi đều đã sức cùng lực kiệt, chẳng còn đủ hơi sức để cất lên nửa lời.
Đột nhiên, từ phía dòng nước ngập trong hầm lò vang lên những tiếng động lạ. Ngoảnh đầu lại, tôi bỗng thấy một luồng ánh sáng lớn đang rẽ màn đêm tiến thẳng về phía chúng tôi. Dẫn đầu đội cứu hộ là người kỹ sư. Anh là người đầu tiên trèo lên chỗ chúng tôi đang trú ẩn, rồi bế thốc tôi gọn gàng vào lòng trước cả khi tôi kịp cất lời.
Đúng lúc ấy, trái tim tôi như muốn kiệt sức. Dù vậy, tôi vẫn lờ mờ nhận thức được mình đang được bồng đi, được cuộn tròn êm ái trong một chiếc chăn ấm sực khi những ân nhân lội qua dòng nước lạnh buốt của hầm lò. Tôi mệt mỏi thiếp đi. Khi mở mắt ra lần nữa, kìa, ánh sáng ban ngày rực rỡ! Chúng tôi đã được đưa ra ngoài trời! Cùng lúc đó, một cục bông nhỏ reo vui nhảy cẫng lên người tôi. Là Capi! Bằng một cú chồm mạnh mẽ, nó lao thẳng vào lòng tôi khi tôi vẫn đang nằm gọn trong vòng tay người kỹ sư. Chú chó nhỏ ríu rít liếm mặt tôi mừng rỡ hết lần này đến lần khác. Rồi bàn tay tôi chợt cảm nhận được một hơi ấm đan vào, một nụ hôn áp vội và một giọng nói run rẩy, yếu ớt thì thầm: "Remi! Ôi, Remi!"
Đó chính là Mattia. Tôi khẽ mỉm cười nhìn cậu, rồi chầm chậm đảo mắt nhìn quanh.
Cả một biển người đang chen chúc, tự động dạt ra thành hai hàng thẳng tắp để nhường lại một lối đi rộng ngay chính giữa. Đó là một đám đông tĩnh lặng thiêng liêng, bởi lẽ mọi người đã được dặn dò không được lớn tiếng kích động chúng tôi, nhưng ánh mắt thiết tha của họ đã nói thay cho biết bao lời nghẹn ngào trên môi. Ở ngay hàng đầu tiên, tôi thoáng thấy những chiếc áo lễ trắng tinh khôi cùng những vật thánh mạ vàng sáng lóa dưới ánh mặt trời. Đó là các vị linh mục đã túc trực ngay trước lối vào hầm mỏ để thiết tha cầu nguyện cho sự giải thoát của chúng tôi. Khi thấy chúng tôi được đưa ra ngoài, họ đồng loạt quỳ sụp xuống ngay trên nền đất bụi bặm đầy xúc động.
Hàng chục cánh tay vội vã dang ra chực đón lấy tôi, nhưng người kỹ sư kiên quyết không muốn trao tôi cho ai khác. Anh cứ thế bế tôi thẳng tới văn phòng, nơi những chiếc giường êm ái đã được dọn sẵn tinh tươm để đón chờ chúng tôi.
Hai ngày sau, tôi chầm chậm tản bộ trên con đường làng cùng Mattia, trong khi Alexix và chú chó Capi lững thững bước theo sau. Có những người dân chạy đến, siết chặt tay tôi với những giọt nước mắt lăn dài trên má; nhưng cũng có những người lặng lẽ quay mặt đi. Họ khoác trên mình những bộ đồ tang u buồn, và có lẽ đang cay đắng tự hỏi tại sao một đứa trẻ mồ côi như tôi lại may mắn được cứu sống, trong khi cha và con trai của họ vẫn đang mãi kẹt lại dưới hầm mỏ, trở thành những thi thể tái nhợt kinh hoàng, vật vờ trôi dạt trong những dòng nước tối tăm.
-
Tà vẹt (từ gốc Pháp: traverse) là những thanh vật liệu (thường bằng gỗ, sắt hoặc bê tông) được đặt nằm ngang dưới đường ray, có tác dụng nâng đỡ và giữ cố định khoảng cách giữa hai thanh ray thép. ↩
-
Phản ánh tín ngưỡng dân gian phổ biến của những thợ mỏ châu Âu thời xưa. Môi trường làm việc khắc nghiệt và tăm tối dưới lòng đất khiến họ tin vào sự tồn tại của những thế lực siêu nhiên cai quản mỏ quặng, và các thảm họa thường bị coi là sự trừng phạt từ các ác thần này. ↩
-
Chuông lặn (diving bell) là một thiết bị lặn cổ điển hình chiếc chuông úp ngược. Theo nguyên lý vật lý, khi dìm chuông xuống nước, lượng không khí bị nén bên trong sẽ tạo ra áp suất ngăn không cho nước tràn vào lấp đầy không gian, giúp thợ lặn có thể hô hấp. ↩
-
Bộ (foot/feet) là đơn vị đo lường chiều dài truyền thống của Anh và Mỹ, tương đương khoảng 30,48 cm. Độ sâu 'hơn một trăm bộ' tương đương với khoảng hơn 30 mét dưới lòng đất. ↩
CHAPTER XXII
IMPRISONED IN A MINE
A few days later, while pushing my car along the rails, I heard a terrible roaring. The noise came from all sides. My first feeling was one of terror and I thought only of saving myself, but I had so often been laughed at for my fears that shame made me stay. I wondered if it could be an explosion. Suddenly, hundreds of rats raced past me, fleeing like a regiment of cavalry. Then I heard a strange sound against the earth and the walls of the gallery, and the noise of running water. I raced back to Uncle Gaspard.
"Water's coming into the mine!" I cried.
"Don't be silly."
"Oh, listen!"
There was something in my manner that forced Uncle Gaspard to stop his work and listen. The noise was now louder and more sinister.
"Race for your life. The mine's flooded!" he shouted.
"Professor! Professor!" I screamed.
We rushed down the gallery. The old man joined us. The water was rising rapidly.
"You go first," said the old man when we reached the ladder.
We were not in a position to show politeness. Uncle Gaspard went first, I followed, then came the professor. Before we had reached the top of the ladder a rush of water fell, extinguishing our lamps.
"Hold on," cried Uncle Gaspard.
We clung to the rungs. But some men who were below us were thrown off. The fall of water had turned into a veritable avalanche.
We were on the first landing. Water was here also. We had no lights, for our lamps had been put out.
"I'm afraid we are lost," said the professor quietly; "say your prayers, my boy."
At this moment seven or eight miners with lamps came running in our direction, trying to reach the ladder. The water was now rushing through the mine in a regular torrent, dragging in its mad course pieces of wood, whirling them round like feathers.
"We must make for an airshaft, boys," said the professor. "That is the only place where we might find refuge. Give me a lamp."
Usually no one took any notice of the old man when he spoke, unless it was to make fun of him, but the strongest man there had lost his nerve and it was the voice of the old man, whom they had mocked so often, that they were now ready to obey. A lamp was handed to him. He seized it and dragged me along with him, taking the lead. He, more than any man, knew every nook and corner of the mine. The water was up to my waist. The professor led us to the nearest airshaft. Two miners refused to enter, saying that we were throwing ourselves into a blind alley. They continued along the gallery and we never saw them again.
Then came a deafening noise. A rush of water, a splintering of wood, explosions of compressed air, a dreadful roaring which terrified us.
"It's the deluge," shrieked one.
"The end of the world!"
"Oh, God, have mercy on us."
Hearing the men shrieking their cries of despair, the professor said calmly, but in a voice to which all listened.
"Courage, boys, now as we are going to stay here for a while we must get to work. We can't stay long, huddled together like this. Let us scoop out a hollow in the shale so as to have a place to rest upon."
His words calmed the men. With hands and lamphooks they began to dig into the soil. The task was difficult, for the airshaft in which we had taken refuge was on a considerable slope and very slippery. And we knew that it meant death if we made a false step. A resting place was made, and we were able to stop and take note of each other. We were seven: the professor, Uncle Gaspard, three miners, Pages, Comperou and Bergounhoux, and a car pusher named Carrory, and myself.
The noise in the mine continued with the same violence; there are no words with which to describe the horrible uproar. It seemed to us that our last hour had come. Mad with fear, we gazed at one another, questioningly.
"The evil genius of the mine's taking his revenge," cried one.
"It's a hole broke through from the river above," I ventured to say.
The professor said nothing. He merely shrugged his shoulder, as though he could have argued out the matter in full day, under the shade of a mulberry tree, eating an onion.
"It's all folly about the genius of the mine," he said at last, "The mine is flooded, that's a sure thing. But what has caused the flood, we down here can't tell...."
"Well, if you don't know what it is, shut up," cried the men.
Now that we were dry and the water was not touching us, no one wanted to listen to the old man. The authority which his coolness in danger had gained for him was already lost.
"We shan't die from drowning," he said at last, quietly; "look at the flame in your lamps, how short it is now."
"Don't be a wizard, what do you mean? Speak out."
"I am not trying to be a wizard, but we shan't be drowned. We are in a bell of air, and it is this compressed air which stops the water from rising. This airshaft, without an outlet, is doing for us what the diving bell does for the diver. The air has accumulated in the shaft and now resists the water, which ebbs back."
"It is the foul air that we have to fear.... The water is not rising a foot now; the mine must be full...."
"Where's Marius?" cried Pages, thinking of his only son, who worked on the third level.
"Oh, Marius! Marius," he shrieked.
There was no reply, not even an echo. His voice did not go beyond our "bell."
Was Marius saved? One hundred and fifty men drowned! That would be too horrible. One hundred and fifty men, at least, had gone down into the mine, how many had been able to get out by the shafts, or had found a refuge like ourselves?
There was now utter silence in the mine. At our feet the water was quite still, not a ripple, not a gurgle. The mine was full. This heavy silence, impenetrable and deathly, was more stupefying than the frightful uproar that we had heard when the water first rushed in. We were in a tomb, buried alive, more than a hundred feet under ground. We all seemed to feel the awfulness of our situation. Even the professor seemed crushed down. Suddenly, I felt some warm drops fall on my hand. It was Carrory.... He was crying, silently. Then came a voice, shrieking:
"Marius! my boy, Marius!"
The air was heavy to breathe; I felt suffocated; there was a buzzing in my ears. I was afraid, afraid of the water, the darkness, and death. The silence oppressed me, the uneven, jagged walls of our place of refuge seemed as though they would fall and crush me beneath their weight. Should I never see Lise again, and Arthur, and Mrs. Milligan, and dear old Mattia. Would they be able to make little Lise understand that I was dead, and that I could not bring her news from her brothers and sister! And Mother Barberin, poor Mother Barberin!...
"In my opinion, they are not trying to rescue us," said Uncle Gaspard, breaking the silence at last. "We can't hear a sound."
"How can you think that of your comrades?" cried the professor hotly. "You know well enough that in every mine accident the miners have never deserted one another, and that twenty men, one hundred men, would sooner be killed than leave a comrade without assistance. You know that well enough."
"That is true," murmured Uncle Gaspard.
"Make no error, they are trying their hardest to reach us. They have two ways, ... one is to bore a tunnel to us down here, the other is to drain off the water."
The men began a vague discussion as to how long it would take to accomplish this task. All realized that we should have to remain at least eight days in our tomb. Eight days! I had heard of miners being imprisoned for twenty-four days, but that was in a story and this was reality. When I was able to fully grasp what this meant, I paid no heed to the talk around me. I was stunned.
Again there was silence. All were plunged in thought. How long we remained so I cannot tell, but suddenly there was a cry;
"The pumps are at work!"
This was said with one voice, for the sounds that had just reached our ears had seemed to touch us by an electric current and we all rose up. We should be saved!
Carrory took my hand and squeezed it.
"You're a good boy," he said.
"No, you are," I replied.
But he insisted energetically that I was a good boy. His manner was as though he were intoxicated. And so he was; he was intoxicated with hope. But before we were to see the beautiful sun again and hear the birds in the trees, we were to pass through long, cruel days of agony, and wonder in anguish if we should ever see the light of day again.
We were all very thirsty. Pages wanted to go down and get some water, but the professor advised him to stay where he was. He feared that the débris which we had piled up would give way beneath his weight and that he would fall into the water.
"Remi is lighter, give him a boot, and he can go down and get water for us all," he said.
Carrory's boot was handed to me, and I prepared to slip down the bank.
"Wait a minute," said the professor; "let me give you a hand."
"Oh, but it's all right, professor," I replied; "if I fall in I can swim."
"Do as I tell you," he insisted; "take my hand."
In his effort to help me he either miscalculated his step, or the coal gave way beneath him, for he slid over the inclined plane and fell head first into the black waters. The lamp, which he held to light me, rolled after him and disappeared also. Instantly we were plunged in darkness, for we were burning only one light,-there was a simultaneous cry from every man. Fortunately, I was already in position to get to the water. Letting myself slide down on my back, I slipped into the water after the old man.
In my wanderings with Vitalis I had learned to swim and to dive. I was as much at ease in the water as on land, but how could I direct my course in this black hole? I had not thought of that when I let myself slip; I only thought that the old man would be drowned. Where should I look? On which side should I swim? I was wondering, when I felt a firm hand seize my shoulder. I was dragged beneath the water. Kicking out my foot sharply, I rose to the surface. The hand was still grasping my shoulder.
"Hold on, professor," I cried; "keep your head up and we're saved!"
Saved! neither one nor the other was saved. For I did not know which way to swim.
"Speak out, you fellows!" I cried.
"Remi, where are you?"
It was Uncle Gaspard's voice; it came from the left.
"Light the lamp!"
There was instantly a light. I had only to stretch out my hand to touch the bank. With one hand I clutched at a block of coal and drew up the old man. It was high time, for he had already swallowed a great deal of water and was partly unconscious. I kept his head well above water and he soon came round. Our companions took hold of him and pulled him up while I hoisted him from behind. I clambered up in my turn.
After this disagreeable accident which, for the moment, had caused us some distraction, we again fell into fits of depression and despair, and with them came thoughts of approaching death. I became very drowsy; the place was not favorable for sleep; I could easily have rolled into the water. Then the professor, seeing the danger I ran, took my head upon his chest and put his arm around my body. He did not hold me very tight, but enough to keep me from falling, and I laid there like a child on his mother's knee. When I moved, half awake, he merely changed the position of his arm that had grown stiff, then sat motionless again.
"Sleep, little chap," he whispered, leaning over me; "don't be afraid. I've got you, Remi."
And I slept without fear, for I knew very well he would not let go of me.
We had no idea of time. We did not know if we had been there two days or six days. Opinions differed. We spoke no more of our deliverance. Death was in our hearts.
"Say what you like, professor," cried Bergounhoux; "you have calculated how long it will take them to pump out the water, but they'll never be in time to save us. We shall die of hunger or suffocation...."
"Have patience," answered the professor. "I know how long we can live without food and I have made my calculations. They will do it in time."
At this moment big Comperou burnt into sobs.
"The good Lord is punishing me," he cried, "and I repent! I repent! If I get out of here I swear to atone for the wrong I have done, and if I don't get out you boys will make amends for me. You know Rouquette, who was sentenced for five years for stealing a watch from Mother Vidal?... I was the thief! I took it! Its under my bed now.... Oh...."
"Throw him in the water," cried both Pages and Bergounhoux.
"Do you want to appear, then, before the Lord with a crime on your conscience?" cried the professor; "let him repent!"
"I repent! I repent," wailed Comperou, more feebly than a child, in spite of his great strength.
"To the water! To the water!" cried Pages and Bergounhoux, trying to get at the sinner, who was crouching behind the professor.
"If you want to throw him in the water, you'll throw me with him!"
"No! No!"
Finally, they said they would not push him in the water, but upon one condition; he was to be left in a corner and no one was to speak to him or to pay any attention to him.
"Yes, that's what he deserves," said the professor. "That's only fair."
After the professor's words, which seemed like a judgment condemning Comperou, we all huddled together and got as far away from him as possible, leaving a space between us and the unfortunate man. For several hours, I should think, he sat there, grief stricken, his lips moving every now and again, to say:
"I repent! I repent!"
And then Pages and Bergounhoux would cry out:
"It's too late! It's too late! You repent because you're afraid now; you should have repented six months ago, a year ago."
He gasped painfully, but still repeated:
"I repent! I repent!"
He was in a high fever; all his body shook and his teeth were chattering.
"I'm thirsty," he said; "give me the boot." There was no more water in the boot. I got up to go and fetch some, but Pages, who had seen me, called to me to stop, and at the same moment Uncle Gaspard pulled me by the arm.
"We swore we would pay no attention to him," he said.
For some minutes Comperou repeated that he was thirsty; seeing that we would not give him anything to drink, he rose up to go to the water himself.
"He'll drag down the rubbish!" cried Pages.
"Let him at least have his freedom," said the professor.
He had seen me go down by letting myself slide on my back. He wanted to do the same, but I was light, whilst he was heavy. Scarcely was he on his back than the coal gave way beneath him and, with his legs stretched out and his arms striking into space, he slipped into the black hole. The water splashed up to where we were. I leaned forward ready to go down, but Uncle Gaspard and the professor each grasped me by the arm.
Half dead, and trembling with horror, I drew myself back.
Time passed. The professor was the only one who could speak with courage. But our depression finally made his spirits droop. Our hunger had become so great that we ate the rotten wood about us. Carrory, who was like an animal, was the most famished of all; he had cut up his other boot and was continually chewing the pieces of leather. Seeing what hunger had led us to, I must confess that I began to have terrible fears. Vitalis had often told me tales of men who had been shipwrecked. In one story, a crew who had been shipwrecked on a desert island where there was nothing to eat, had eaten the ship's boy. Seeing my companions in such a famished state I wondered if that fate was to be mine. I knew that the professor and Uncle Gaspard would never eat me, but of Pages, Bergounhoux, and Carrory, especially Carrory with his great white teeth which he dug into the leather of his boot, I was not quite so sure.
Once, when I was half asleep, I had been surprised to hear the professor speak in almost a whisper, as though he was dreaming. He was talking of the clouds, the wind, and the sun. Then Pages and Bergounhoux began to chatter with him in a foolish manner. Neither waited for the other to reply. Uncle Gaspard seemed hardly to notice how foolish they were. Were they all gone mad? What was to be done?
Suddenly, I thought I would light a lamp. To economize we had decided only to have a light when it was absolutely necessary. When they saw the light they apparently regained their senses. I went to get some water for them. The waters were going down!
After a time they began to talk strangely again. My own thoughts were vague and wild, and for long hours and perhaps days we laid there chattering to one another foolishly. After a time we became quieter and Bergounhoux said that before dying we should put down our last wishes. We lit a lamp and Bergounhoux wrote for us all, and we each signed the paper. I gave my dog and harp to Mattia and I expressed a wish for Alexix to go to Lise and kiss her for me, and give her the dried rose that was in my vest pocket. Dear little Lise....
After some time, I slipped down the bank again, and saw that the waters were lowering considerably. I hurried back to my companions and told them that now I could swim to the ladders and tell our rescuers in what part of the mine we had taken refuge. The professor forbade me to go, but I insisted.
"Go on, Remi, and I'll give you my watch," cried Uncle Gaspard.
The professor thought for a moment, then took my hand.
"Do as you think, boy," he said; "you have a heart. I think that you are attempting the impossible, but it is not the first time that what was thought impossible has been successful. Kiss us, boy."
I kissed the professor and Uncle Gaspard and then, having thrown off my clothes, I went into the water.
"You keep shouting all the while," I said, before taking the plunge; "your voices will guide me."
I wondered if the space under the roof of the gallery was big enough for me to move freely. That was the question. After some strokes I found that I could swim if I went gently. I knew that there was a meeting of galleries not far away, but I had to be cautious, for if I made a mistake in the course I should lose my way. The roof and the walls of the gallery were not enough to guide me; on the ground there was a surer guide, the rails. If I followed them I should be sure to find the ladders. From time to time I let my feet go down and, having touched the iron rails, I rose up again, gently. With the voices of my companions behind me and the rails under my feet, I was not lost. As the voices became less distinct, the noise of the pumps increased. I was advancing. Thank God, I should soon see the light of day!
Going straight down the middle of the gallery, I had only to turn to the right to touch the rail. I went on a little farther, then dived again to touch the rail. It was not there! I went from side to side of the gallery, but there was no rail!
I had made a mistake.
The voices of my companions only reached me in the faintest murmur. I took in a deep breath, then plunged again but with no more success. There were no rails!
I had taken the wrong level; without knowing, I must have turned back. But how was it the others were not shouting. If they were I could not hear them. I was distracted, for I did not know which way to turn in this cold, black water.
Then, suddenly, I heard the sounds of voices again and I knew which way to turn. After having taken a dozen strokes back, I turned to the right, then to the left, but only found the walls. Where were the rails? I was sure now that I was in the right level, then I suddenly realized that the railroad had been carried away by the rush of waters, and that I had no guide. Under these circumstances it was impossible for me to carry out my plan, and I was forced to turn back.
I swam back quickly to our place of refuge, the voices guiding me. As I approached, it seemed to me that my companions' voices were more assured as though they felt stronger. I was soon at the entrance of the shaft! I hallooed to them.
"Come back; come back," shouted the professor.
"I could not find the way," I called out.
"Never mind, the tunnel is nearly finished: they hear our cries and we can hear theirs. We shall soon speak."
I climbed quickly up to our landing and listened. We could hear the blows from the picks and the cries of those who worked for our freedom came to us feebly, but yet very distinct. After the first rush of joy, I realized that I was frozen. As there were no warm clothes to give me, they buried me up to the neck in coal dust and Uncle Gaspard and the professor huddled up against me to keep me warm.
We knew now that our rescuers would soon reach us through the tunnel and by the water, but these last hours of our imprisonment were the hardest to bear. The blows from the picks continued, and the pumping had not stopped for one moment. Strange, the nearer we reached the hour of our deliverance, the weaker we grew. I was lying in the coal dust trembling, but I was not cold. We were unable to speak.
Suddenly, there was a noise in the waters of the gallery and, turning my head, I saw a great light coming towards us. The engineer was at the head of several men. He was the first to climb up to us. He had me in his arms before I could say a word.
It was time, for my heart was failing me, yet I was conscious that I was being carried away, and I was wrapped up in a blanket after our rescuers had waded through the water in the gallery. I closed my eyes; when I opened them again it was daylight! We were in the open air! At the same time something jumped on me. It was Capi. With a bound he had sprung upon me as I laid in the engineer's arms. He licked my face again and again. Then my hand was taken; I felt a kiss and heard a weak voice murmuring: "Remi! oh, Remi!"
It was Mattia. I smiled at him, then I glanced round.
A mass of people were crowded together in two straight rows, leaving a passage down the center. It was a silent crowd, for they had been requested not to excite us by their cries, but their looks spoke for their lips. In the first row I seemed to see some white surplices and gilt ornaments which shone in the sun. They were the priests, who had come to the entrance of the mine to offer prayers for our deliverance. When we were brought out, they went down on their knees in the dust.
Twenty arms were stretched out to take me, but the engineer would not give me up. He carried me to the offices, where beds had been prepared to receive us.
Two days later I was walking down the village street followed by Mattia, Alexix, and Capi. There were some who came and shook me by the hands with tears in their eyes, and there were others who turned away their heads. These were in mourning, and they asked themselves bitterly why this orphan child had been saved when their fathers and sons were still in the mine, ghastly corpses, drifting hither and thither in the dark waters.