CHƯƠNG XII

Trong khi cô Linton héo hon dạo bước khắp công viên và khu vườn, lầm lũi câm lặng và dường như lúc nào cũng đẫm lệ; còn anh trai cô thì tự giam mình giữa những trang sách chẳng màng lật dở-tôi thầm đoán ông mỏi mòn trông ngóng hoài công rằng Catherine, một khi nguôi cơn giận dữ, sẽ nhún nhường bước đến xin lỗi và cầu hòa-về phần cô ấy, cô vẫn ngoan cố buông xuôi đói khát, hẳn mang ý nghĩ rằng mỗi bữa ăn Edgar sẽ phải nghẹn đắng vì sự vắng mặt của mình, và chỉ có lòng kiêu hãnh mới níu chân ông không gục ngã dưới chân cô; tôi vẫn lặng lẽ quán xuyến việc nhà, đinh ninh rằng nơi Thrushcross Grange này chỉ còn duy nhất một linh hồn tỉnh táo giữa những bức tường u uất, và linh hồn ấy đang trú ngụ trong cơ thể tôi. Tôi chẳng đoái hoài an ủi cô Linton, cũng chẳng màng khuyên can bà chủ; tôi dửng dưng trước những tiếng thở dài của ông chủ, người luôn khát khao được nghe tên vợ mình, dẫu chẳng thể nghe được âm sắc giọng nói của cô. Tôi buông xuôi để họ muốn ra sao thì ra; và dù cho quá trình này lê thê đến phát mệt, cuối cùng tôi cũng thấy một tia hy vọng mong manh lấp lóe: chí ít, ban đầu tôi đã tin là vậy.

Đến ngày thứ ba, bà Linton lật chốt cửa. Uống cạn bình nước, cô đòi thêm nước và một bát cháo yến mạch, một mực đinh ninh rằng cái chết đã cận kề. Tôi chép miệng coi đó là lời ai oán cố tình rót vào tai Edgar; chẳng mảy may tin tưởng nên tôi giấu nhẹm đi, chỉ bưng cho cô chút trà cùng bánh mì khô. Cô hăm hở uống cạn, rồi lại ngả người xuống gối, tay nắm chặt, buông tiếng rên rỉ. "Ôi, tôi sắp chết đến nơi rồi," cô nấc lên, "chẳng một ai đoái hoài gì đến tôi cả. Ước gì tôi đã không ăn chỗ đồ đó." Hồi lâu sau, tôi nghe tiếng cô lầm bầm: "Không, tôi sẽ không chết-anh ta sẽ hí hửng-anh ta có yêu thương gì tôi đâu-anh ta sẽ chẳng bao giờ nhớ nhung tôi!"

"Cô có cần tôi lấy gì không, thưa cô?" tôi ướm hỏi, cố giữ vẻ ráo hoảnh, bất chấp khuôn mặt nhợt nhạt và vẻ khác lạ thái quá của cô.

"Cái kẻ vô tâm kia đang làm gì vậy?" cô gay gắt, vuốt ngược mớ tóc rối bời khỏi khuôn mặt hốc hác cạn kiệt sinh khí. "Anh ta lịm đi rồi, hay đã chết quách rồi?"

"Đều không phải," tôi lãnh đạm đáp lời; "nếu cô đang nhắc tới ông Linton. Tôi thiết nghĩ ông ấy vẫn khỏe mạnh, dù rằng ông ấy vùi đầu vào sách vở hơi nhiều hơn mức cần thiết: ông luôn quẩn quanh giữa những cuốn sách, bởi lẽ ông đâu còn ai bầu bạn."

Lẽ ra tôi không nên buông lời như thế nếu tường tận được bệnh tình thực sự của cô, nhưng thâm tâm tôi không sao rũ bỏ được ý nghĩ rằng cô đang giả vờ ốm đau.

"Giữa những cuốn sách của anh ta!" cô kêu lên, bàng hoàng. "Trong khi tôi đang hấp hối! Tôi đang kề miệng lỗ đến nơi rồi! Lạy Chúa! Anh ta có hay biết tôi đã tàn tạ thế này không?" cô rít lên, trừng trừng dán mắt vào bóng hình phản chiếu trong chiếc gương vắt vẻo trên vách tường đối diện. "Đó có phải là Catherine Linton không? Anh ta đinh ninh rằng tôi đang hờn dỗi-chắc là đang làm mình làm mẩy thôi. Chị không thể báo cho anh ta hay tôi đang hoàn toàn nghiêm túc sao? Nelly, nếu chưa quá muộn, một khi tôi biết được lòng dạ anh ta, tôi sẽ tự chọn cho mình một ngã rẽ: hoặc là nhịn đói cho đến chết-điều đó chẳng còn là sự trừng phạt nếu anh ta là kẻ vô tình-hoặc là hồi phục sức lực, và rời khỏi chốn này. Chị có đang giấu giếm tôi điều gì về anh ta lúc này không? Dè chừng đấy. Có thực sự anh ta hoàn toàn thờ ơ trước mạng sống của tôi không?"

"Sao cơ, thưa cô," tôi buông lời gạt đi, "ông chủ chẳng mảy may có ý nghĩ rằng cô đang loạn trí đâu; và dĩ nhiên ông ấy không bận tâm nỗi sợ rằng cô sẽ nhịn đói cho đến chết."

"Chị đinh ninh là không sao? Chị không thể báo cho anh ta rằng tôi sẽ làm thế à?" cô đay nghiến. "Hãy thuyết phục anh ta! Hãy nói theo suy nghĩ của chị: nói rằng chị tin chắc tôi sẽ làm vậy!"

"Không đâu, bà Linton, cô quên mất rồi," tôi nhắc khéo, "rằng tối nay cô đã dùng một chút thức ăn ngon lành, và ngày mai cô sẽ hồi phục sinh khí."

"Nếu tôi đoan chắc rằng điều đó sẽ giết chết anh ta," cô gắt gỏng cắt ngang, "tôi sẽ kết liễu đời mình ngay tắp lự! Ba đêm kinh hoàng dằng dặc vừa qua tôi chưa một lần chợp mắt-và ôi, tôi đã bị đọa đày! Tôi đã bị ám ảnh đến rồ dại, Nelly! Nhưng tôi bắt đầu hồ nghi rằng chị có ác cảm với tôi. Thật phi lý! Tôi từng huyễn hoặc rằng, dẫu nhân thế có căm ghét và phỉ báng nhau đến đâu, họ vẫn phải khuất phục mà yêu mến tôi. Thế mà tất cả lại biến thành cừu nhân chỉ trong chớp mắt. Họ đã tàn nhẫn như thế, tôi chắc chắn vậy; những con người ở đây. Thật u ám xiết bao khi phải đối diện với tử thần, bị bủa vây bởi những khuôn mặt vô hồn lạnh lẽo! Isabella, kinh hoàng và tởm lợm, rúm ró chẳng dám bén mảng vào phòng, sẽ thật thảm hại khi chứng kiến Catherine trút hơi tàn. Và Edgar sẽ đứng đó, trang nghiêm tiễn đưa cho đến phút cuối cùng; rồi lầm rầm những lời tạ ơn Chúa vì đã lập lại bình yên cho ngôi nhà của anh ta, và lại vùi đầu vào những cuốn sách! Nhân danh mọi xúc cảm trần đời, anh ta còn bận tâm gì đến những cuốn sách cơ chứ, khi mà tôi đang hấp hối?"

Cô không tài nào nuốt trôi cái ý nghĩ mà tôi đã gieo rắc vào tâm trí về sự cam chịu điềm nhiên của ông Linton. Vặn vẹo quằn quại, cô đẩy sự hoang mang của cơn sốt cuồng loạn lên đến đỉnh điểm, dùng răng xé toạc lớp vỏ gối; rồi bật dậy, hầm hập như thiêu như đốt, nằng nặc đòi tôi mở toang cửa sổ. Giữa trời đông giá rét, gió đông bắc gào thét từng cơn, tôi cự tuyệt ngay lập tức. Những nét biểu cảm lướt qua trên khuôn mặt cô, cùng tâm trạng thất thường, bắt đầu khiến tôi sợ hãi ghê gớm; nó khơi lại ký ức về căn bệnh bạo phát ngày xưa của cô, đi kèm với lời căn dặn tuyệt đối không được làm trái ý bệnh nhân của bác sĩ. Mới phút trước còn hung tợn; giờ đây, chống một tay xuống giường, gạt phăng sự từ chối của tôi, cô dường như lại tìm thấy niềm vui ngây ngô trong việc giật phăng những chiếc lông vũ từ mớ gối rách tươm, rồi xếp chúng lên chăn theo từng loại: tâm trí cô đã hoàn toàn lạc lối.

"Đây là lông của con gà tây," cô lầm bầm một mình; "còn đây là của con vịt trời; và đây là lông bồ câu. À, họ nhét lông bồ câu vào gối-chẳng trách tôi không thể chết được! Phải cẩn thận vứt nó xuống sàn khi nằm xuống mới được. Còn đây là lông gà gô trắng; và cái này-tôi nhận ra nó giữa muôn ngàn lông chim-đó là của một con chim te te. Con chim nhỏ xinh đẹp; lượn vòng vút cao trên đầu chúng ta giữa bãi hoang u tịch. Nó khao khát bay về tổ, bởi mây mù đã vây kín những ngọn đồi, và nó đánh hơi thấy cơn bão sắp ập xuống. Chiếc lông này được nhặt lên từ bãi hoang, con chim không hề trúng đạn: chúng tôi đã phát hiện tổ của nó vào mùa đông lạnh lẽo, chất đầy những bộ xương khô quắt queo. Heathcliff đã giương một cái bẫy phía trên, và lũ chim bố mẹ chẳng dám bén mảng tới. Tôi đã bắt anh ấy thề thốt sẽ không bao giờ bắn một con chim te te nào nữa, và anh ấy đã giữ lời. Đúng rồi, ở đây còn vương lại nhiều lắm! Anh ấy có bắn những con chim te te của tôi không, Nelly? Chúng có vấy máu không, bất kỳ con nào trong số chúng? Để tôi xem nào."

"Dẹp ngay cái trò trẻ ranh ấy đi!" tôi quát lên, giật phăng chiếc gối, lật úp mớ hỗn độn xuống nệm, bởi lẽ cô đang bốc ruột gối ra từng vốc. "Nằm xuống và nhắm mắt lại ngay: cô đang điên sảng rồi đấy. Thật là một mớ hỗn độn điên rồ! Lông tơ bay mù mịt như bão tuyết."

Tôi lom khom đi quanh nhặt nhạnh lại.

"Tôi thấy trong chị, Nelly," cô lầm bầm, "hiện thân của một mụ đàn bà héo hon già cỗi: chị mang mái tóc hoa râm và đôi vai còng gập xuống. Chiếc giường này là hang yêu tinh dưới vách đá Penistone Crags1, và chị đang gom nhặt những mũi tên yêu tinh2 để nguyền rủa đàn bò tơ của chúng tôi; giả tảng, trong lúc tôi chầu chực ở gần, rằng chúng chỉ là mớ len lộn xộn. Đó là hình hài chị sẽ vác trên mình trong năm mươi năm nữa: tôi thừa biết bây giờ chị chưa ra nông nỗi ấy. Tôi không hề điên sảng: chị lầm to rồi, nếu không tôi đã đinh ninh rằng chị đích thị là mụ phù thủy già héo hon kia, và tôi sẽ ngỡ rằng mình đang ở dưới vách đá Penistone Crags; và tôi hoàn toàn tỉnh táo để biết bây giờ đang là đêm khuya, và có hai ngọn nến le lói trên bàn làm cho chiếc tủ đen kia bóng lên đen nhánh."

"Chiếc tủ đen nào? Nó ở đâu cơ?" tôi gắt hỏi. "Cô đang nói mớ điên dại rồi!"

"Nó dựa vào tường, như mọi bận," cô lạnh nhạt đáp. "Trông nó có vẻ kỳ quái-tôi thấy một khuôn mặt vất vưởng trong đó!"

"Chẳng có chiếc tủ nào trong căn phòng này cả, và chưa từng có," tôi cự nự, quay về chỗ ngồi, kéo rèm lên để tiện bề theo dõi cô.

"Chị không thấy khuôn mặt quỷ dị đó sao?" cô dáo dác dò hỏi, đôi mắt trừng trừng dán vào tấm gương.

Và dù tôi có giải thích thế nào đi nữa, tôi vẫn không thể làm cho cô hiểu ra đó chính là khuôn mặt của cô; nên tôi đành đứng dậy dùng một chiếc khăn choàng trùm kín nó lại.

"Nó vẫn lẩn khuất ở đằng sau!" cô tiếp tục, đầy lo âu. "Và nó vừa cựa quậy. Ai thế? Tôi thầm mong nó sẽ không bước ra khi chị quay gót! Ôi! Nelly, căn phòng này có ma! Tôi rợn tóc gáy khi phải ở một mình!"

Tôi nắm chặt tay cô, dỗ dành cô bình tĩnh lại; bởi những cơn rùng mình liên hồi đang làm cơ thể cô co giật, và cô cứ rướn đôi mắt về phía tấm gương.

"Chẳng có ai quanh đây cả!" tôi quả quyết. "Đó là chính cô, bà Linton: ban nãy cô đã tỏ tường rồi mà."

"Chính tôi!" cô hổn hển thét lên, "và đồng hồ đang gióng giả điểm mười hai giờ! Vậy đó là sự thật! Khủng khiếp quá!"

Những ngón tay gầy guộc của cô vồ lấy mớ chăn mền, kéo thốc lên che kín đôi mắt. Tôi vừa toan lẻn ra cửa định gọi chồng cô, thì một tiếng hét xé ruột gan đã giật ngược tôi lại-chiếc khăn choàng đã rơi tuột khỏi khung gương.

"Sao, chuyện quỷ quái gì vậy?" tôi kêu to. "Giờ thì ai mới là kẻ hèn nhát đây? Tỉnh lại đi! Đó là tấm kính-tấm gương, bà Linton; và cô đang nhìn thấy chính mình bơ phờ trong đó, và cả tôi cũng đang chầu chực bên cô đây."

Run lẩy bẩy và hoang mang, cô bấu chặt lấy tôi, nhưng nỗi kinh hoàng cũng dần phai nhạt trên khuôn mặt; vẻ nhợt nhạt nhường chỗ cho sự đỏ bừng vì tủi thẹn.

"Lạy Chúa tôi! Tôi cứ ngỡ mình đang ở nhà," cô thở dài. "Tôi tưởng mình đang nằm trong căn phòng cũ ở Đồi Gió Hú. Sự mệt nhọc này đã làm trí óc tôi mụ mẫm, và tôi đã thét lên. Xin đừng hé răng nửa lời; nhưng cầu xin chị hãy ở lại. Tôi kinh sợ giấc ngủ: những cơn mộng mị đọa đày tôi đến rợn người."

"Một giấc ngủ say sẽ giúp cô khỏe hơn, thưa cô," tôi nhẹ giọng: "và tôi hy vọng cơn đau này sẽ dập tắt ý định nhịn đói của cô."

"Ôi, giá như tôi được nằm trên chính chiếc giường nệm của tôi trong ngôi nhà cũ nát ấy!" cô cất lời, hai tay vặn vẹo. "Và tiếng gió thổi qua rặng thông bên cửa sổ nan chớp. Xin cho tôi được cảm nhận nó-cơn gió thổi xuống từ bãi hoang-chỉ xin hít một hơi thôi!"

Để dỗ yên cô, tôi hé hờ khung cửa sổ vài giây ngắn ngủi. Một luồng hàn khí buốt thấu xương lùa qua; tôi tức tốc sập nó lại, và lùi về vị trí. Giờ đây cô thiếp đi bất động, nước mắt giàn giụa. Sự kiệt quệ thể xác đã dập tắt hoàn toàn tinh thần cô: Catherine rực lửa kiêu hãnh của chúng tôi giờ ủ rũ chẳng khác nào một đứa trẻ con nức nở.

"Đã bao lâu rồi kể từ khi tôi giam cầm bản thân trong này?" cô gặng hỏi, đột ngột tỉnh táo trở lại.

"Hôm đó là đêm thứ Hai," tôi đáp, "và bây giờ là đêm thứ Năm, hay chuẩn xác hơn là rạng sáng thứ Sáu."

"Cái gì! Vẫn trong tuần này ư?" cô thét lên. "Mới trôi qua một chớp mắt như vậy thôi sao?"

"Đủ lê thê để sống sót bằng nước lạnh và sự cáu kỉnh," tôi buông lời châm chọc.

"Chà, tưởng chừng như muôn vàn thế kỷ dằng dặc đã trôi qua," cô lẩm bẩm đầy hoài nghi: "chắc hẳn phải lâu hơn thế. Tôi còn nhớ in đậm mình đã vò võ ở phòng khách sau trận cãi vã nảy lửa, và Edgar thì cay nghiệt đến nhẫn tâm, còn tôi lao vào căn phòng này trong nỗi tuyệt vọng tột cùng. Ngay khoảnh khắc chốt cửa buông xuống, bóng tối mù mịt đặc quánh đã bủa vây lấy tôi, và tôi đổ gục xuống sàn. Tôi không sao khiến Edgar thấu tỏ được nỗi sợ hãi tột cùng trong tôi rằng tôi sẽ lên cơn co giật, hoặc phát điên, nếu anh ta vẫn cứ chọc tức tôi! Tôi chẳng thể điều khiển nổi cái lưỡi, hay khối óc này nữa, và có lẽ anh ta chẳng tài nào mường tượng nổi nỗi thống khổ đọa đày của tôi: nó chỉ chừa lại cho tôi chút tàn thức cuối cùng để tháo chạy khỏi hình bóng và giọng nói của anh ta. Trước khi tôi đủ sức tàn để hé mắt nhìn và lắng nghe, hừng đông đã rạng, và, Nelly, tôi sẽ phơi bày cho chị nghe những ảo mộng, và những điều cứ tua đi tua lại cho đến khi tôi kinh sợ đánh mất lý trí. Nằm thoi thóp ở đó, đầu tựa vất vưởng vào chân chiếc bàn kia, đôi mắt lờ đờ hướng về ô cửa sổ xám xịt mờ sương, tôi đã ngỡ mình đang bị giam cầm trong chiếc giường ốp gỗ sồi ở ngôi nhà cũ; và trái tim tôi rỉ máu với một nỗi bi thương khổng lồ nào đó, mà vừa bừng tỉnh, tôi chẳng thể nào chắp vá lại. Tôi trầm ngâm suy nghĩ và trăn trở xem đó là thứ gì, và, kỳ lạ thay, toàn bộ bảy năm ròng rã vừa qua bỗng chốc tan biến thành một cõi hư vô! Tôi không còn chút ký ức nào về sự tồn tại của chúng. Tôi là một đứa trẻ; cha tôi vừa mới nằm xuống lòng đất lạnh, và sự khốn cùng của tôi bắt nguồn từ bản án chia cắt tàn bạo mà Hindley đã giáng xuống tôi và Heathcliff. Lần đầu tiên tôi bị hắt hủi nằm một mình; và, tỉnh mộng sau cơn lịm đi ảm đạm sau một đêm vắt cạn nước mắt, tôi vươn tay định đẩy những tấm ván gỗ: nó đập chan chát vào mặt bàn! Tôi sờ soạng dọc theo mép thảm, và rồi ký ức ùa về như thác lũ: nỗi thống khổ ban nãy bị nuốt chửng gọn ghẽ trong một cơn tuyệt vọng không đáy. Tôi không sao lý giải nổi vì đâu mình lại nếm trải nỗi đau xé ruột gan nhường ấy: đó hẳn là một cơn cuồng loạn mất trí nhất thời; bởi lẽ hầu như chẳng có nguyên cớ nào cả. Nhưng, cứ thử huyễn hoặc xem, vào năm mười hai tuổi, tôi bị bứt lìa khỏi Đồi Gió Hú, khỏi mọi cội rễ ban đầu, khỏi mọi thứ thuộc về tôi, như Heathcliff tại thời khắc đó, và chỉ bằng một cái chớp mắt, tôi đã bị biến thành bà Linton, phu nhân của Thrushcross Grange, và là vợ của một kẻ xa lạ: một thân phận lưu đày, một kẻ bị ruồng bỏ vĩnh viễn khỏi những gì từng là cả vũ trụ của tôi. Chị có thể mường tượng ra được phần nào cái vực thẳm nơi tôi đang phủ phục rũ rượi! Chị muốn lắc đầu chế nhạo thế nào thì tùy, Nelly, chính chị đã tiếp tay xô tôi vào cõi điên loạn! Đáng lẽ chị phải cảnh cáo Edgar, thực tâm chị nên làm thế, và ép anh ta phải cút đi cho tôi yên! Ôi, tôi đang bốc cháy ngùn ngụt! Giá như tôi đang phơi mình ngoài trời! Giá như tôi được trở về làm cô bé hoang dã, cứng cỏi và tự do; để nhổ toẹt vào những vết thương, chứ chẳng rồ dại vì chúng! Cớ sao tôi lại tàn tạ thế này? Cớ sao máu tôi lại sôi sục thành một địa ngục hỗn mang chỉ vì dăm ba lời đay nghiến? Tôi tin chắc mình sẽ được là chính mình nếu được thả mình vào giữa những bụi thạch nam trên đồi hoang. Mở toang cửa sổ ra lần nữa đi: cứ để nó mở sững đó! Nhanh lên, sao chị cứ đứng như trời trồng vậy?"

"Bởi vì tôi không muốn rước tử thần giá lạnh đến kết liễu cô," tôi lạnh giọng đáp.

"Chị không muốn chừa cho tôi một con đường sống thì đúng hơn," cô sưng sỉa gắt gỏng. "Dù sao thì, tôi vẫn chưa tàn phế đâu; tôi sẽ tự tay mở."

Và trượt khỏi mép giường nhanh như chớp trước khi tôi kịp giang tay cản lại, cô lảo đảo lê bước ngang phòng, đẩy tung khung cửa, và nhoài người xông ra, phó mặc cho luồng không khí băng giá cứa vào vai buốt sắc như dao xẻo. Tôi thảm thiết van lơn, và dốc hết sức bình sinh để lôi cô vào trong. Nhưng tôi đành cay đắng thừa nhận sức mạnh điên cuồng của cơn mê sảng đã áp đảo tôi hoàn toàn (cô đã chìm sâu vào cõi mê sảng, tôi dám khẳng định điều đó qua những chuỗi hành động và ngôn từ hoang dại nối tiếp). Trời không ánh trăng, và vạn vật dưới kia chìm nghỉm trong lớp sương mù đặc quánh: không một đốm lửa nào le lói từ bất cứ mái nhà nào, dù xa xôi hay cận kề; tất thảy đã lụi tàn từ lâu: và những ngọn đèn leo lét ở Đồi Gió Hú cũng vĩnh viễn không thể lọt vào tầm mắt-vậy mà cô vẫn ngoan cố đinh ninh rằng mình đang bắt lấy ánh sáng của chúng.

"Nhìn kìa!" cô háo hức kêu lên, "đó là căn buồng của tôi với ngọn nến hắt hiu, và những tán cây đang đung đưa trước ánh lửa; và ngọn nến kia đậu trên gác xép của Joseph. Joseph hay thức trắng đêm, đúng không nhỉ? Lão đang chầu chực tôi về để khóa chặt chốt cổng. Chà, lão sẽ còn phải đợi mòn mỏi thêm nữa đấy. Đoạn đường này chông gai lởm chởm, và phải mang một trái tim đẫm lệ để lết qua; và chúng ta bắt buộc phải lê bước ngang qua Nhà thờ Gimmerton cho cuộc hành trình oan nghiệt đó! Chúng ta đã từng bao phen thách thức bóng ma ở chốn ấy, và đố nhau đứng giữa những nấm mồ gọi hồn chúng hiện hình. Nhưng, Heathcliff, nếu bây giờ em thách anh, anh có dám bước tới không? Nếu anh dám mạo hiểm, em sẽ níu chặt anh lại. Em sẽ không cam chịu mục nát dưới đó một mình: họ có thể vùi thây em dưới mười hai feet đất sâu3, và đè cả cái nhà thờ kia lên xác em, nhưng em sẽ không bao giờ nhắm mắt nếu anh không ở bên. Em sẽ vĩnh viễn không bao giờ yên nghỉ!"

Cô khựng lại, và nở một nụ cười quỷ dị ớn lạnh. "Anh ấy đang toan tính-anh ấy thà mặc xác em tự lết đến tìm! Vậy thì hãy vạch ra một con đường! Không được dẫm qua cái sân bãi tha ma đó. Anh rề rà quá đi mất! Bằng lòng đi mà, anh luôn bám theo gót em cơ mà!"

Nhận thấy có cố tranh cãi với vẻ điên loạn của cô cũng hoài công vô ích, tôi bèn nhẩm tính xem mình có thể với lấy thứ gì đó ủ ấm quanh người cô mà không phải buông tay ra (bởi tôi chẳng mảy may tin tưởng khi để cô một mình bên khung cửa sổ đang mở toang thế kia). Chợt, trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, tiếng lạch cạch của tay nắm cửa vang lên, và ông Linton bước vào. Ông vừa bước ra từ thư viện; hẳn là khi đi dọc hành lang, ông đã nghe thấy tiếng chúng tôi chuyện trò, rồi bị thôi thúc bởi sự tò mò, hay nỗi sợ hãi nào đó, mà đến kiểm tra xem cớ sự ra sao vào cái giờ muộn màng này.

"Ôi, thưa ông!" tôi kêu lên, vội vã chặn ngang tiếng thốt bàng hoàng trực trào trên môi ông trước cảnh tượng đập vào mắt cùng bầu không khí lạnh lẽo thấu xương trong căn phòng. "Bà chủ tội nghiệp của tôi ốm nặng rồi, và cô ấy hoàn toàn lấn át tôi: tôi chẳng tài nào kiểm soát được cô ấy nữa; xin ông, hãy đến và lựa lời khuyên cô ấy lên giường. Xin ông hãy gác lại mọi cơn giận dữ, bởi lẽ giờ đây, cô ấy chẳng chịu nghe theo bất kỳ ai ngoại trừ chính bản ngã ngang ngạnh của mình."

"Catherine ốm sao?" ông thốt lên, vội vã bước vội về phía chúng tôi. "Đóng ngay cửa sổ lại, Ellen! Catherine! Cớ sao em-"

Ông chợt bặt lời. Vẻ hốc hác, tiều tụy đến thảm thương của bà Linton khiến ông bàng hoàng đến mức không thốt nên lời. Ông chỉ còn biết trân trân nhìn từ cô sang tôi trong nỗi kinh ngạc tột độ hòa lẫn sự kinh hoàng tột cùng.

"Cô ấy cứ sầu muộn ủ rũ ở đây," tôi tiếp lời, "hầu như chẳng thiết ăn uống gì, và cũng chẳng một lời than vãn. Mãi đến tận tối nay cô ấy mới cho phép tôi bước vào phòng. Bởi thế, chúng tôi nào đâu thể báo cho ông hay về tình trạng của cô ấy, khi mà bản thân chúng tôi cũng chẳng hề hay biết; nhưng, chuyện không có gì đâu thưa ông."

Tôi tự thấy những lời giải thích của mình nghe sao quá đỗi vụng về; ông chủ cau mày. "Chuyện không có gì đâu ư, phải không hả Ellen Dean?" ông nghiêm giọng chất vấn. "Cô phải giải thích cho minh bạch về việc dám giấu giếm tôi cớ sự này!" Nói đoạn, ông dang tay ôm chặt lấy người vợ vào lòng, đăm đăm nhìn cô bằng ánh mắt chứa chan bao nỗi thống khổ tận tâm can.

Phút chốc đầu, ánh mắt cô chẳng hề hé lộ chút manh mối của sự nhận biết: hình bóng ông dường như hoàn toàn tan biến trước cái nhìn xa xăm, vô hồn của cô. Tuy vậy, cơn mê sảng hoang tưởng ấy chẳng hề bám rễ vĩnh hằng; thu lại ánh nhìn từ màn đêm đen đặc quánh bên ngoài khung cửa, cô dần dồn tâm trí vào ông, rồi cuối cùng cũng nhận ra kẻ đang siết chặt mình trong vòng tay là ai.

"À! Anh đến rồi, phải không, Edgar Linton?" cô rít lên bằng một thứ sinh khí nhuốm màu phẫn nộ. "Anh luôn là kẻ trồi lên khi người ta ít cần đến nhất, và khi khát khao nhất, thì anh lại bặt vô âm tín! Tôi cá là giờ đây chúng ta sẽ có cơ man nào là những lời rên rỉ than vãn-tôi thấu ruột rồi đấy-nhưng chúng cũng chẳng màng níu chân tôi khỏi ngôi nhà chật hẹp của tôi ở tít đằng kia đâu: cõi an nghỉ của tôi, nơi tôi sẽ bước tới trước khi mùa xuân tàn úa! Nó tọa lạc ở đó: không phải chui rúc giữa lũ người nhà Linton các người, hãy khắc cốt ghi tâm, vùi thây dưới mái nhà nguyện, mà là vươn mình giữa chốn không trung lộng gió, với duy nhất một tấm bia mộ; và anh có thể tự vỗ về bản thân dù anh chọn mồ yên mả đẹp với bọn họ hay theo bước tôi!"

"Catherine, em đã làm gì bản thân thế này?" ông chủ khẽ khàng bắt đầu. "Anh chẳng còn ý nghĩa gì với em nữa sao? Có phải em đắm đuối cái gã khốn kiếp Heath-"

"Im ngay đi!" bà Linton thét lên. "Câm mồm, ngay lập tức! Chỉ cần anh thốt ra cái tên đó một lần nữa là tôi sẽ kết liễu mọi thứ ngay tức khắc bằng một cú gieo mình qua cửa sổ! Thứ mà anh đang ôm lúc này, anh cứ giữ lấy; nhưng linh hồn tôi sẽ neo đậu trên đỉnh đồi hoang vu kia trước khi anh kịp đụng vào người tôi lần nữa. Tôi không cần anh, Edgar: tôi đã qua cái thời cần anh rồi. Hãy quay về rúc đầu vào những cuốn sách của anh đi. Tôi thật hoan hỉ vì ít ra anh còn có thứ mà ôm ấp an ủi, bởi mọi thứ anh từng có ở tôi, giờ đã tan thành mây khói."

"Tâm trí cô ấy đang đi lang thang, thưa ông," tôi vội vàng xen vào. "Cô ấy đã nói lảm nhảm suốt cả buổi tối nay; nhưng xin ông hãy để cô ấy được tĩnh tâm, và chỉ cần chăm sóc chu đáo, rồi cô ấy sẽ hồi phục thôi. Từ nay về sau, chúng ta phải hết mực cẩn trọng, tuyệt đối không làm cô ấy nổi cơn thịnh nộ."

"Tôi không cần thêm bất kỳ lời khuyên răn nào từ cô nữa," ông Linton lạnh lùng đáp trả. "Cô thừa biết rõ bản tính của bà chủ mình, vậy mà cô lại châm ngòi để tôi quấy rầy cô ấy. Thậm chí cô còn chẳng hé răng cho tôi nửa lời về việc cô ấy đã ra nông nỗi nào trong suốt ba ngày qua! Thật là tàn nhẫn! Cho dù ốm đau hàng tháng trời cũng chẳng thể gây ra sự suy sụp kinh hoàng đến dường này!"

Tôi bắt đầu sục sôi bào chữa, tự nhủ thật quá quắt khi phải đứng mũi chịu sào cho sự độc ác, ngang ngạnh của kẻ khác. "Tôi thừa biết bản tính của bà Linton vốn ương ngạnh và độc đoán," tôi lớn tiếng cãi lại: "nhưng tôi nào có biết rằng ông muốn dung dưỡng cái tính khí cuồng nộ của cô ấy! Tôi nào hay, để chiều chuộng cô ấy, tôi đáng lẽ nên nhắm mắt làm ngơ trước ông Heathcliff. Tôi đã trọn vẹn bổn phận của một người hầu trung thành khi báo cáo với ông, và đây là thứ thù lao tôi nhận được cho sự trung thành ấy! Chà, âu cũng là bài học xương máu dạy tôi phải cẩn trọng hơn. Lần sau ông hãy tự mình mà lân la dò la tin tức!"

"Nếu lần tới cô còn dám mang chuyện đến lải nhải với tôi, cô sẽ bị tống cổ khỏi nhà này ngay lập tức, Ellen Dean," ông gằn giọng đáp trả.

"Vậy ra tôi đoán rằng ông thà bịt tai ngoảnh mặt chẳng nghe gì về chuyện đó còn hơn, thưa ông Linton?" tôi bực tức nói. "Rằng Heathcliff đã nghiễm nhiên được ông ban đặc quyền đến ve vãn cô Isabella, và lẻn vào nhà gieo rắc mọi mưu hèn kế bẩn mỗi khi ông vắng mặt, nhằm đầu độc tâm trí bà chủ để chống lại chính ông?"

Dẫu Catherine đang chìm trong cơn hoang tưởng điên loạn, tâm trí cô bỗng chốc lại sắc lẹm trong việc tóm lấy những mảnh vụn từ cuộc tranh cãi của chúng tôi.

"À! Hóa ra Nelly đã sắm vai kẻ phản trắc," cô gào lên với một niềm cuồng nộ mãnh liệt. "Nelly chính là kẻ thù giấu mặt của tôi. Con mụ phù thủy già! Vậy ra chị đang rình rập, thu thập những mũi tên yêu tinh để gieo rắc tai ương cho chúng tôi! Buông tôi ra ngay, tôi sẽ bắt mụ ta phải hối hận tột cùng! Tôi sẽ khiến mụ ta phải tru tréo lên mà rút lại những lời dối trá!"

Cơn giận dữ man dại của một kẻ hóa điên bùng lên hừng hực dưới đôi chân mày cô; cô quẫy đạp tuyệt vọng, cố vùng vẫy thoát khỏi vòng tay kìm kẹp của Linton. Tôi chẳng mảy may còn chút hứng thú nán lại để chứng kiến xem hồi kết sẽ bi thảm ra sao; và, quyết định gánh lấy trách nhiệm đi cầu viện sự trợ giúp y tế, tôi lập tức rời khỏi căn phòng đầy ám ảnh ấy.

Lúc băng qua khu vườn để ra đường cái, đến chỗ bức tường có đóng chiếc móc cương ngựa, tôi chợt thấy một vật gì đó màu trắng đang chuyển động đầy bất thường. Rõ ràng không phải do gió đưa đẩy, mà có một lực tác động nào đó. Tuy đang vội vã, tôi vẫn nán lại đôi chút để xem xét, chỉ e rằng nếu bỏ đi, trí tưởng tượng của tôi sẽ vĩnh viễn bị ám ảnh bởi niềm tin rằng đó là một sinh linh từ thế giới bên kia. Bàng hoàng và bối rối tột độ, nhờ xúc giác nhiều hơn thị giác, tôi nhận ra đó chính là con chó cảnh Fanny của cô Isabella. Nó bị treo lơ lửng bằng một chiếc khăn tay và gần như đang trút những hơi thở cuối cùng. Nhanh như cắt, tôi giải thoát cho con vật khốn khổ rồi bế nó vào trong vườn. Rõ ràng tôi đã thấy nó chạy theo chủ nhân lên gác khi cô đi ngủ cơ mà; lòng tôi đầy thắc mắc không hiểu sao nó lại lọt được ra ngoài này, và kẻ độc ác nào đã ra tay tàn nhẫn đến thế. Trong lúc vội vã tháo nút thắt quanh chiếc móc, văng vẳng bên tai tôi dường như có tiếng móng ngựa phi nước đại từ xa vọng lại. Tuy nhiên, lúc bấy giờ tâm trí tôi đang ngổn ngang trăm mối, nên chẳng mảy may bận tâm đến tình tiết ấy, nhưng tiếng động đó vang lên giữa chốn này vào lúc hai giờ sáng quả thật đầy kỳ lạ.

May mắn thay, khi tôi rảo bước dọc con đường, bác sĩ Kenneth vừa rời khỏi nhà để đến thăm một bệnh nhân trong làng. Nghe tôi kể sơ qua về cơn bạo bệnh của Catherine Linton, ông liền quay gót theo tôi ngay lập tức. Là một người đàn ông mộc mạc và có phần thô lỗ, ông chẳng ngại ngần buông lời hoài nghi về khả năng sống sót của cô qua cơn nguy kịch thứ hai này; trừ phi cô chịu ngoan ngoãn tuân thủ những lời dặn dò của ông hơn hẳn những gì đã thể hiện trước kia.

"Nelly Dean," ông lên tiếng, "tôi không khỏi nghĩ rằng hẳn phải có một căn nguyên sâu xa nào đó dẫn đến cơ sự này. Đã có chuyện gì kinh khủng xảy ra ở Thrushcross Grange vậy? Trên này râm ran không biết bao nhiêu là tin đồn kỳ lạ. Một cô gái tràn đầy sinh lực và tráng kiện như Catherine đâu dễ quỵ ngã chỉ vì mấy chuyện vặt vãnh; và những người mang thể trạng như thế lại càng không đáng bị đày đọa như vậy. Cứu họ thoát khỏi những cơn sốt hay các chứng bệnh tương tự quả là một việc trần ai. Mọi chuyện bắt nguồn từ đâu cơ chứ?"

"Ông chủ sẽ thưa chuyện cặn kẽ cùng bác sĩ," tôi đáp lời. "Nhưng bác sĩ vốn đã tường tận cái tính khí bạo liệt của nhà Earnshaw rồi đấy, và bà Linton thì còn vượt xa tất cả bọn họ. Tôi chỉ có thể nói thế này: ngọn nguồn là từ một trận cãi vã kinh hoàng. Trong cơn thịnh nộ cuồng loạn, cô ấy đã bị tấn công bởi một cơn co giật đáng sợ. Hoặc chí ít, đó là những gì cô ấy kể lại, bởi lúc cơn giận lên đến đỉnh điểm, cô ấy đã vùng bỏ chạy rồi tự nhốt mình trong phòng. Từ bấy đến nay, cô ấy tuyệt thực hoàn toàn. Giờ đây, cô ấy cứ quẩn quanh giữa ranh giới của những tràng mê sảng và trạng thái nửa tỉnh nửa mê; tuy vẫn nhận biết được những người xung quanh, nhưng tâm trí thì ngập ngụa những ảo ảnh và ý nghĩ huyễn hoặc, rùng rợn."

"Ông Linton hẳn là đau đớn lắm?" bác sĩ Kenneth dò hỏi.

"Đau đớn ư? Khéo ông ấy sẽ tan nát cõi lòng mất nếu có bề nào xảy ra!" tôi vội thốt lên. "Bác sĩ xin đừng khiến ông ấy hoảng sợ hơn mức cần thiết."

"Chà, tôi đã răn bảo ông ấy phải hết sức cẩn trọng mà," người bạn đồng hành của tôi chép miệng. "Ông ấy đành phải chuốc lấy hậu quả khi dám phớt lờ lời cảnh báo của tôi thôi! Thế dạo gần đây, ông ấy có giao du thân thiết với gã Heathcliff không?"

"Heathcliff cũng thường xuyên lai vãng tới Thrushcross Grange," tôi trả lời. "Tuy nhiên, chủ yếu là vì bà chủ đã quen biết hắn từ thuở ấu thơ, chứ chẳng phải do ông chủ mặn mà gì với sự hiện diện của hắn. Có điều, hiện tại hắn đã bị cấm cửa hoàn toàn rồi; âu cũng bởi hắn đã để lộ những dã tâm xấc xược nhắm vào cô Isabella. Tôi dám chắc hắn sẽ chẳng bao giờ được hoan nghênh trở lại đâu."

"Thế cô Isabella có lạnh nhạt cự tuyệt hắn ta không?" bác sĩ lại dồn dập hỏi tiếp.

"Cô ấy đâu có tâm sự những chuyện đó với tôi," tôi đáp, ngập ngừng không muốn kéo dài chủ đề này thêm nữa.

"Không, cô ta quả là một ranh con xảo quyệt," ông lắc đầu nhận xét. "Cứ khư khư giấu nhẹm mọi tâm tư! Nhưng xét cho cùng thì cô ta vẫn chỉ là một kẻ ngốc nghếch bé mọn mà thôi. Tôi vừa nghe một nguồn tin vô cùng xác thực, rằng đêm qua - một đêm trăng thanh gió mát đấy nhé! - cô ta cùng Heathcliff đã lén lút dạo bước trong khu đồn điền phía sau nhà đến hơn hai giờ đồng hồ. Gã đó còn ra sức nài nỉ cô ta đừng quay vào nhà nữa, mà hãy nhảy phắt lên ngựa để cùng gã cao chạy xa bay! Người báo tin cho tôi kể lại rằng, cô ta chỉ có thể hoãn binh bằng cách thề thốt lấy danh dự sẽ sửa soạn sẵn sàng mọi thứ ngay trong lần gặp gỡ kế tiếp: người đó nghe không rõ là khi nào; thế nên cô liệu mà thúc giục ông Linton tinh ý thêm chút nữa đi nhé!"

Nguồn tin ấy trút xuống lòng tôi muôn vàn nỗi kinh hoàng mới; tôi rảo bước vượt lên trước bác sĩ Kenneth, và gần như chạy thục mạng suốt chặng đường về. Con chó nhỏ vẫn sủa ăng ẳng ngoài vườn. Tôi chững lại một phút để mở cổng cho nó, nhưng thay vì lao thẳng vào nhà, con vật lại quanh quẩn đánh hơi trên bãi cỏ, và suýt chút nữa đã tót ra đường lớn nếu tôi không kịp tóm lấy và xách nó theo mình. Bước vào phòng của Isabella, những nghi ngờ trong tôi lập tức hóa thành sự thật: căn phòng trống hoác. Giá như tôi quay lại sớm hơn vài giờ đồng hồ, thì cơn bạo bệnh của phu nhân Linton hẳn đã ngăn cản được bước chân xốc nổi của cô ấy. Nhưng giờ đây thì vãn hồi thế nào được nữa? Chỉ có một tia hy vọng mong manh là lập tức đuổi theo họa chăng mới bắt kịp họ. Dẫu vậy, tôi đâu thể cất bước truy đuổi; tôi cũng chẳng nỡ dấy lên cơn náo loạn đánh thức cả dinh thự; lại càng không dám hé môi ném hung tin này vào ông chủ. Ông ấy đang chìm đắm trong nỗi bất hạnh hiện tại, tâm trí đâu còn sức gồng gánh thêm một đòn giáng đau thương thứ hai! Cân nhắc đắn đo, tôi thấy chẳng còn cách nào khác ngoài việc cắn răng giữ kín mọi chuyện, phó mặc cho sự đời tự trôi theo lẽ tự nhiên. Khi bác sĩ Kenneth đặt chân tới, tôi cố khoác lên mình vẻ mặt điềm nhiên nhất có thể để đón tiếp ông. Bên trong, Catherine đang thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn: chồng cô đã gắng gượng dỗ yên được cơn điên loạn tột độ của vợ; lúc này đây, ông đương cúi gập người bên gối, đau đáu khắc ghi từng sắc thái, từng biến chuyển nhỏ nhoi trên những đường nét vương đầy thống khổ của cô.

Sau khi tự tay chẩn bệnh, vị bác sĩ cố gắng gieo vào lòng ông chủ đôi lời hy vọng về một kết cục êm xuôi, miễn là chúng tôi có thể giữ cho phu nhân luôn trong trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối. Thế nhưng, khi quay sang tôi, ông lại kín đáo ám chỉ rằng, mối hiểm họa thực sự đang đe dọa Catherine chưa hẳn là cái chết, mà là sự đoạn tuyệt vĩnh viễn của lý trí.

Đêm hôm ấy, cả tôi và ông Linton đều thức trắng. Nói đúng hơn, chúng tôi chưa từng chợp mắt một giây nào. Đám gia nhân cũng thức dậy từ sớm hơn lệ thường rất nhiều. Họ rón rén đi lại khắp nhà, chỉ dám thì thầm to nhỏ mỗi khi chạm mặt nhau lúc làm việc. Mọi người đều tất bật, duy chỉ thiếu vắng mỗi cô Isabella. Người ta bắt đầu xầm xì đoán non đoán già xem cô ngủ say đến mức nào. Bản thân ông Linton cũng lên tiếng hỏi xem em gái đã dậy chưa. Ông tỏ ra sốt ruột mong cô có mặt, xen lẫn chút tổn thương khi thấy cô quá đỗi thờ ơ trước cơn bạo bệnh của chị dâu. Tôi run lên bần bật, thấp thỏm lo sợ ông sẽ sai mình đi gọi cô dậy. Thế nhưng, tôi may mắn thoát được cái cảnh đớn đau khi phải làm người đầu tiên loan báo tin cô đã bỏ trốn. Một hầu gái-vốn là đứa bộp chộp, vừa mới chạy việc vặt từ Gimmerton về từ mờ sáng-đã thở hồng hộc lao thẳng lên gác. Nó há hốc mồm, xộc luôn vào phòng, xé toạc không gian tĩnh lặng bằng tiếng thét thất thanh: "Trời ơi là trời! Sắp tới còn chuyện gì đổ xuống đầu chúng ta nữa đây? Ông chủ ơi ông chủ, cô chủ nhỏ của chúng ta-"

"Im miệng ngay!" tôi vội gắt lên, giận điên người trước cái kiểu lu loa ồn ào của nó.

"Nói nhỏ thôi, Mary-Có chuyện gì thế?" ông Linton cất tiếng. "Cô chủ nhỏ của cô xảy ra chuyện gì?"

"Cô ấy đi rồi, cô ấy đi mất rồi! Tên Heathcliff khốn kiếp kia đã cuỗm cô ấy trốn đi rồi!" đứa hầu gái hổn hển đáp.

"Điều đó không thể là sự thật!" ông Linton thảng thốt, bật dậy trong cơn kích động tột độ. "Không thể nào. Sao cô lại rước cái suy nghĩ đó vào đầu cơ chứ? Ellen Dean, mau đi tìm cô ấy đi. Thật không thể tin nổi: chuyện đó tuyệt đối không thể xảy ra."

Nói đoạn, ông đẩy đứa hầu gái ra phía cửa, rồi lặp lại câu hỏi, gặng bằng được xem dựa vào đâu mà nó lại dám đoan chắc như vậy.

"Dạ... cháu đụng mặt một cậu bé giao sữa đến đây trên đường về," nó ấp úng, "cậu ta mới hỏi xem nhà Grange ta dạo này đang gặp rắc rối phải không. Cháu cứ đinh ninh cậu ta nói đến bệnh tình của bà chủ, nên mới gật đầu. Xong cậu ta bảo, 'Chắc là có người cưỡi ngựa đuổi theo họ rồi nhỉ?' Cháu trố mắt ếch ra nhìn. Cậu ta biết ngay là cháu mù tịt chẳng hay chuyện gì, bèn kể tuốt luốt chuyện một quý ông và một quý cô đã dừng lại đóng móng ngựa tại lò rèn, cách Gimmerton hai dặm, khi chuông điểm nửa đêm chưa được bao lâu! Cô con gái lão thợ rèn đã thức giấc, lẻn ra rình xem hai kẻ đó là ai, rồi nhận ra cả hai ngay tắp lự. Và cô nàng đặc biệt để ý đến gã đàn ông-chắc chắn là Heathcliff chứ không trật đi đâu được: chẳng ai có thể nhầm lẫn hắn ta, với lại-hắn còn đặt vào tay cha cô một đồng sovereign4 để trả tiền. Quý cô kia thì trùm áo choàng kín mít giấu mặt; nhưng khi cô ấy xin ngụm nước, cái mũ trùm rủ xuống lúc cô đưa môi uống, thế là cô nàng nhìn rõ mồn một khuôn mặt ấy. Khi hai người cưỡi ngựa lên đường, Heathcliff nắm lấy cả hai sợi dây cương. Bọn họ quay mặt khỏi ngôi làng, phóng ngựa lao đi nhanh hết mức cái con đường gồ ghề kia cho phép. Cô nàng đó không hó hé gì với cha mình đâu, nhưng sáng nay thì đã rêu rao chuyện đó khắp Gimmerton rồi."

Tôi chạy tuột đi, lén ngó vào phòng Isabella cốt chỉ để cho có lệ. Lúc quay lại, tôi xác nhận lời khai của đứa hầu gái là sự thật. Ông Linton đã trở lại ngồi vị trí cũ bên thành giường. Khi tôi bước vào, ông ngước mắt lên, đọc thấu được hung tin từ chính vẻ mặt thẫn thờ của tôi. Ông khẽ cụp mắt xuống, không buông một lời mệnh lệnh, cũng chẳng thốt lên một thanh âm nào.

"Liệu chúng ta có nên làm gì đó để đuổi theo và bắt cô ấy về không thưa ông?" tôi rụt rè ướm hỏi. "Chúng ta phải làm sao đây?"

"Cô ấy đã ra đi theo ý nguyện của chính mình," ông chủ lạnh lùng đáp; "cô ấy có quyền rời đi nếu muốn. Đừng quấy rầy tôi thêm về chuyện của cô ấy nữa. Kể từ giây phút này, cô ấy chỉ còn là em gái tôi trên danh nghĩa: không phải vì tôi từ mặt cô ấy, mà vì cô ấy đã vứt bỏ tôi."

Và đó là tất cả những gì ông nói về chủ đề nghiệt ngã này. Ông chẳng màng hỏi thêm câu nào, cũng chẳng hề đả động gì đến em gái mình nữa. Trừ một việc duy nhất: ông căn dặn tôi hãy thu xếp gửi hết mọi tài sản của cô trong nhà này đến nơi ở mới của cô, dù nó nằm ở chân trời góc bể nào, ngay khi tôi nắm được địa chỉ.



  1. Penistone Crags là một địa danh gắn liền với những truyền thuyết dân gian địa phương vùng Yorkshire. ↩

  2. Dịch từ "elf-bolts". Theo tín ngưỡng dân gian Anh, đây là những mũi tên đá thời tiền sử mà người ta tin rằng do yêu tinh vô hình bắn ra để gây bệnh hoặc nguyền rủa gia súc. ↩

  3. Theo phong tục phương Tây, người chết thường được chôn ở độ sâu 6 feet (khoảng 1,8 mét). Việc nhắc đến 12 feet là sự cường điệu cực tả để nhấn mạnh rằng không có sức nặng vật lý nào có thể giam cầm được linh hồn nếu nó chưa được siêu thoát. ↩

  4. Sovereign là loại tiền vàng của Anh thế kỷ 19, trị giá bằng một bảng Anh. ↩