CHƯƠNG XXXIV

Trong vài ngày sau cái đêm hôm ấy, Heathcliff cố tình lảng tránh chúng tôi trong những bữa ăn; nhưng, ông không cấm đoán Hareton và Cathy một cách chính thức. Có vẻ như ông chán ghét việc để bản thân hoàn toàn quy hàng trước những cơn sóng cảm xúc, nên đã chọn cách thu mình lại; và chỉ một bữa ăn lót dạ trong suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ dường như đã là quá đủ cho ông.

Một đêm nọ, khi cả nhà đã chìm vào giấc ngủ, tôi chợt nghe tiếng bước chân ông đi xuống lầu rồi bước ra ngoài qua cánh cửa trước. Tôi không hề nghe thấy tiếng ông quay vào, và đến tảng sáng hôm sau, tôi mới phát hiện ra ông vẫn chưa về. Lúc bấy giờ đang độ tháng Tư: tiết trời ngọt ngào và êm ả, thảm cỏ xanh mướt mát sau những cơn mưa rào dội xuống dưới ánh nắng ban mai, còn hai cây táo lùn rễ bám quanh bức tường phía nam thì đang trổ hoa rực rỡ. Dùng xong bữa sáng, Catherine cứ nằng nặc nài nỉ tôi vác một chiếc ghế cùng giỏ đồ khâu vá ra ngồi dưới tán thông rợp bóng ở cuối nhà. Con bé cũng khéo léo dụ dỗ Hareton - cậu thanh niên giờ đã hoàn toàn bình phục sau tai nạn - xắn tay đào xới và thu vén lại khu vườn nhỏ của mình. Khu vườn ấy nay đã bị dời tít ra góc sân vì những lời càu nhàu cay nghiệt của lão Joseph. Trong lúc tôi đang thảnh thơi thả hồn vào hương xuân quấn quýt quanh mình, ngước nhìn vòm trời xanh thẳm êm dịu trên đầu, thì cô chủ nhỏ của tôi - người ban nãy vừa lon ton chạy xuống gần cổng để nhổ vài khóm anh thảo về viền luống - chợt quay lại. Trên tay con bé chỉ có dăm ba nhành hoa, và nó vội vã báo tin rằng Heathcliff đang bước vào. "Và ông ấy đã cất lời với cháu," con bé nói thêm, gương mặt lộ rõ vẻ hoang mang, bối rối.

"Chú ấy bảo sao cơ?" Hareton hỏi dồn.

"Ông ấy gắt gỏng bảo cháu hãy biến đi cho khuất mắt càng nhanh càng tốt," con bé đáp lời. "Nhưng bộ dạng ông ấy khác hẳn mọi ngày, nên cháu mới tần ngần nán lại đôi chút để trừng trừng nhìn ông."

"Khác thế nào kia chứ?" cậu gặng hỏi.

"Biết nói sao nhỉ, trông ông ấy gần như đang hân hoan rạng rỡ. Không, gần như thì chẳng lột tả hết được-mà phải nói là vô cùng kích động, hoang dại, và ngập tràn sung sướng!" con bé quả quyết.

"Vậy ra những chuyến lang thang trong đêm tối lại khiến ông ấy vui thú đến vậy," tôi buông lời nhận xét, cố tình làm ra vẻ thờ ơ. Nhưng thực ra, tôi cũng kinh ngạc hệt như con bé, và nôn nóng muốn tận mắt kiểm chứng sự thật; bởi lẽ, cái cảnh tượng ông chủ lộ vẻ hân hoan vốn chẳng phải chuyện thường ngày. Viện một cớ nhỏ, tôi đi vội vào trong nhà. Heathcliff đang đứng nơi ngưỡng cửa để ngỏ; khuôn mặt ông tái nhợt nhạt, toàn thân khẽ run rẩy. Thế nhưng, rõ ràng là có một luồng sáng hân hoan kỳ lạ trong mắt ông, làm biến đổi hoàn toàn sắc diện của ông.

"Ông có muốn dùng chút điểm tâm không?" tôi cất lời. "Chắc hẳn ông đang đói cồn cào, sau khi đã lang bạt bên ngoài suốt cả một đêm ròng!" Lòng tôi nhen nhóm ý định dò la xem ông đã đi đâu, nhưng lại chẳng dám đường đột hỏi thẳng.

"Không, tôi chẳng thấy đói,” ông đáp, vội quay ngoắt mặt đi nơi khác. Giọng ông hắt ra vẻ đầy khinh khỉnh, dường như ông đã nhìn thấu tâm can tôi, đoán biết việc tôi đang cố dò xét nguyên cớ đằng sau niềm hân hoan lạ lùng ấy.

Tôi thoáng bối rối: chẳng biết liệu đây có phải là thời điểm khôn ngoan để buông một lời khuyên răn hay không.

"Tôi nghĩ việc đi lang thang bên ngoài thay vì ngả lưng trên giường quả là chẳng đúng đắn chút nào," tôi dè dặt nhận xét, "điều đó thật chẳng khôn ngoan, nhất là giữa cái mùa ướt át dầm dề này. Tôi dám cá là ông sẽ bị cảm nặng, hoặc lên cơn sốt cho xem: ngay lúc này đây, trông ông có vẻ đã ốm rồi!"

"Chẳng có nỗi đau nào mà tôi không thể gánh chịu được," ông lạnh lùng đáp trả; "và tôi sẽ gánh chịu nó với một niềm hân hoan tột đỉnh, miễn là bà để tôi được yên tĩnh một mình: hãy quay vào trong đi, và đừng có quấy rầy tôi nữa."

Tôi răm rắp tuân lệnh: và, trong khoảnh khắc lướt qua nhau, tôi tinh ý nhận ra ông đang thở hổn hển và dồn dập như một con mèo.

"Đúng rồi!" tôi thầm nhủ, "kiểu gì cũng sẽ ốm một trận ra trò cho mà xem. Mình thật chẳng thể mường tượng nổi ông ấy đã làm gì ngoài đó."

Trưa hôm đó, ông ấy ngồi xuống dùng bữa cùng chúng tôi, lặng lẽ nhận lấy đĩa thức ăn đầy ắp từ tay tôi như thể muốn bù đắp cho chuỗi ngày nhịn ăn dằng dặc trước đó.

"Tôi chẳng nhiễm phong hàn mà cũng không hề phát sốt đâu, Nelly," ông cất lời, ngầm nhắc lại những băn khoăn của tôi ban sáng; "và giờ tôi đã sẵn sàng giải quyết gọn ghẽ phần thức ăn bà vừa đưa đây."

Ông cầm dao nĩa lên, sửa soạn ăn, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, cảm giác thèm ăn dường như vụt tắt lụi. Đặt vội bộ dao nĩa xuống bàn, ông phóng ánh mắt đầy háo hức ra ngoài cửa sổ, rồi đứng phắt dậy và sải bước ra ngoài. Chúng tôi ngơ ngác nhìn ông đi tới đi lui quanh khu vườn trong lúc cố gắng dùng cho xong bữa. Hareton bảo rằng cậu sẽ ra ngoài hỏi xem tại sao ông lại bỏ bữa: cậu đinh ninh chúng tôi đã làm điều gì đó khiến ông chướng mắt.

"Sao nào, ông ấy có chịu vào không?" Catherine thốt lên, khi người anh họ của cô vừa quay trở lại.

"Không," cậu đáp lời; "nhưng chú ấy không hề nổi cáu. Trông chú ấy thậm chí còn rất đỗi hân hoan; chỉ là anh đã làm chú ấy mất kiên nhẫn khi cố bắt chuyện đến hai lần. Rồi chú ấy gắt gỏng bảo anh xéo đi tìm em: chú ấy thắc mắc tại sao anh còn phải cần tới sự bầu bạn của bất kỳ ai khác nữa."

Tôi đem đĩa thức ăn của ông đặt lên vỉ lò sưởi để ủ ấm. Khoảng một hai giờ sau, ông mới trở vào. Lúc này căn phòng đã được dọn dẹp tinh tươm, nhưng tâm trạng kích động của ông không hề có dấu hiệu thuyên giảm. Vẫn là vẻ hoan hỉ bất thường-thật sự bất thường-ẩn hiện dưới đôi chân mày đen láy; vẫn là sắc mặt nhợt nhạt không một giọt máu, và hàm răng ông thỉnh thoảng lại nhe ra trong một nụ cười kỳ dị. Toàn thân ông run lẩy bẩy, không phải cái run rẩy vì giá rét hay suy nhược, mà giống hệt một sợi dây đàn bị căng đến cực độ đang bần bật rung lên-một sự kích động mãnh liệt chứ không đơn thuần là một cơn run rẩy.

Mình phải hỏi xem chuyện gì đang xảy ra mới được, tôi thầm nghĩ; bởi nếu không thì còn ai dám hỏi nữa đây? Và tôi bật thốt lên-"Ông vừa hay tin tốt lành gì chăng, Heathcliff? Trông ông có vẻ cực kỳ phấn chấn."

"Tin tốt lành cơ à? Lấy đâu ra cơ chứ?" ông đáp lửng lơ. "Tôi đang hưng phấn vì cơn đói đây; và, có vẻ như, tôi không được phép ăn."

"Bữa tối của ông ở đây mà," tôi đáp; "tại sao ông không chịu ăn đi?"

"Bây giờ tôi không thiết ăn," ông lầm bầm, giọng vội vã: "Tôi sẽ đợi đến bữa khuya. Và này, Nelly, nói một lần cho xong, tôi muốn bà hãy cảnh báo Hareton và đám người kia tránh xa tôi ra. Tôi không muốn bị ai quấy rầy cả: tôi muốn có khoảng không gian của riêng mình trong chốn này."

"Lại có lý do mới nào cho sự cấm đoán này sao?" tôi gặng hỏi. "Hãy nói cho tôi hay tại sao ông lại cư xử kỳ lạ đến thế, Heathcliff? Đêm qua ông đã ở đâu? Tôi hỏi điều này chẳng phải vì tò mò hão huyền đâu, mà là-"

"Bà đang hỏi chính xác là vì thói tò mò vô cùng hão huyền đấy," ông ngắt lời tôi, ném lại một tiếng cười khô khốc. "Nhưng thôi, tôi sẽ trả lời. Đêm qua tôi đã đứng ngay bên ngưỡng cửa địa ngục. Còn hôm nay, thiên đường của riêng tôi đã nằm trong tầm mắt. Tôi đang đăm đăm hướng mắt về phía nó: chỉ còn cách khoảng ba thước nữa thôi! Và bây giờ thì bà nên đi đi! Bà sẽ chẳng nhìn hay nghe thấy bất cứ thứ gì khiến bà hoảng sợ đâu, nếu bà biết kiềm chế cái tính tò mò đó lại."

Sau khi quét dọn sạch sẽ lò sưởi và lau xong mặt bàn, tôi lặng lẽ rời đi, lòng càng thêm bối rối hoang mang.

Chiều hôm ấy, ông không hề bước chân ra khỏi nhà, và cũng chẳng một ai mạn phép phá vỡ sự cô độc của ông. Mãi cho đến tận tám giờ tối, dẫu chẳng được gọi, tôi vẫn thấy mình cần phải thắp một ngọn nến và mang chút đồ ăn khuya lên cho ông. Ông đang đứng tựa lưng vào gờ chiếc cửa sổ mở toang, song lại chẳng hề đưa mắt nhìn ra ngoài; khuôn mặt ông hướng thẳng vào vùng tối tăm sâu thẳm bên trong căn phòng. Lò sưởi đã lụi tàn thành tro lạnh lẽo. Bầu không khí ẩm ướt, dịu nhẹ của một buổi tối mây mù lững lờ tràn ngập khắp chốn. Không gian tĩnh mịch đến độ, không chỉ tiếng rì rầm của con suối đổ về Gimmerton văng vẳng bên tai, mà cả tiếng nước róc rách lướt qua những viên sỏi nhỏ, hay lách mình qua những tảng đá nhấp nhô cũng nghe rõ mồn một. Nhìn lò sưởi tối tăm ảm đạm, tôi không khỏi buông một tiếng thở dài ngao ngán, rồi bắt đầu chậm rãi đóng từng cánh cửa sổ lại, cho đến khi bước tới ngay sát bên ông.

"Tôi đóng cánh cửa này lại được chứ?" tôi lên tiếng hỏi, cốt chỉ để kéo ông ra khỏi cơn mộng mị, bởi ông vẫn đứng trơ trơ như một pho tượng đá.

Vừa nghe tiếng tôi, khuôn mặt ông chợt lướt qua vệt sáng le lói. Ôi, ngài Lockwood, tôi làm sao tả xiết nỗi kinh hãi đã ập đến với mình khi vô tình bắt gặp cảnh tượng ấy! Đôi mắt đen sâu thẳm đó! Nụ cười đó, cùng sắc mặt nhợt nhạt ma quái đó! Trong khoảnh khắc ấy, đối với tôi, hình hài kia nào phải là Heathcliff nữa, mà là một con yêu tinh đội lốt người. Quá đỗi khiếp đảm, tôi vô tình chao nghiêng ngọn nến về phía bức tường, làm tắt ngọn lửa và tự đẩy mình vào bóng tối.

"Đúng rồi, đóng nó lại đi," ông đáp lời bằng chất giọng quen thuộc thường ngày. "Thấy chưa, đúng là vụng về hết chỗ nói! Cớ sao bà lại đi cầm ngọn nến ngang ra thế kia? Nhanh cái chân lên, đi lấy một ngọn khác mang tới đây."

Tôi vội vã chạy ra ngoài, mang theo cả sự khiếp hãi ngớ ngẩn ngập tràn trong tâm trí, rồi vội vàng bảo lão Joseph: “Ông chủ muốn ông mang lên một ngọn đèn và nhóm lại ngọn lửa kìa.” Thú thật, lúc bấy giờ, tôi có chết cũng chẳng dám tự mình bước chân vào căn phòng đó thêm một lần nào nữa.

Lão Joseph xúc vội chút than hồng đang nổ lách tách vào xẻng rồi hối hả bước vào. Thế nhưng, lão quay ngoắt trở ra ngay tức thì, một tay cầm theo chiếc khay thức ăn khuya chưa hề đụng tới. Lão làu bàu giải thích rằng Heathcliff đã chuẩn bị đi ngủ và chẳng màng ăn uống gì cho tới tận sáng mai. Từ phía dưới, chúng tôi nghe rõ tiếng bước chân ông nặng nề dậm thẳng lên cầu thang. Ông không rẽ vào phòng ngủ thường ngày của mình, mà lại đi thẳng vào căn buồng có chiếc giường được quây kín bằng những tấm ván gỗ1. Cửa sổ của căn buồng ấy, như tôi từng kể với ngài trước đây, đủ rộng để bất kỳ ai cũng có thể trèo qua. Một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong đầu tôi: phải chăng ông đang toan tính thực hiện một chuyến viễn du bạt mạng nào đó giữa đêm khuya, cốt để che mắt, không cho chúng tôi mảy may nghi ngờ?

"Ông ấy là ngạ quỷ hay là ma cà rồng thế?" tôi lẩm bầm tự hỏi. Quả thực, tôi đã từng đọc đâu đó những câu chuyện rùng rợn về lũ ác quỷ gớm ghiếc đội lốt người như thế này. Rồi tôi bắt đầu hồi tưởng lại, ngẫm xem mình đã ẵm bồng, chăm bẵm ông từ thuở ấu thơ ra sao, chứng kiến ông lớn lên thành một chàng thanh niên như thế nào, và theo sát bước chân ông gần như trọn vẹn cả cuộc đời. Nghĩ đến đó, tôi chợt thấy bản thân mình thật nực cười và vô lý biết bao khi để cho nỗi sợ hãi kia lấn át. "Nhưng tóm lại, sinh vật nhỏ bé đen đúa ấy đã từ phương nào trôi dạt tới đây? Được một người đàn ông nhân từ cưu mang, để rồi cuối cùng mang lại cho gia đình ân nhân một cơn ác mộng kinh hoàng?” Sự mê tín cứ len lỏi khiến tôi thầm lẩm bẩm, giữa lúc lý trí đang dần thiu thiu chìm vào cõi vô thức. Trong cái trạng thái chập chờn nửa tỉnh nửa mê ấy, tôi bắt đầu tự hành hạ mình bằng cách nhọc nhằn vẽ ra một xuất thân xứng tầm với ông. Cuốn theo những dòng suy tưởng miên man khi còn thức, tôi lần theo dấu vết sự tồn tại của ông thêm một lần nữa, nhưng điểm xuyết bằng những khúc ngoặt nghiệt ngã, tăm tối hơn. Và cuối cùng, tôi lờ mờ hình dung ra cái chết cùng đám tang của ông. Trong cái viễn cảnh ấy, tất cả những gì tôi còn nhớ rõ là sự bực dọc, cáu kỉnh tột độ khi phải đứng ra đánh vần từng chữ để người thợ khắc lên bia mộ, rồi còn phải tốn công bàn bạc với kẻ đào huyệt về chuyện ấy. Bởi lẽ ông chẳng hề có họ, và chúng tôi cũng chịu chết, không tài nào đoán được tuổi thật của ông, nên cuối cùng đành phải cắn răng bằng lòng với vỏn vẹn một cái tên duy nhất: "Heathcliff". Nào ngờ, giấc mộng kinh hoàng ấy đã thực sự ứng nghiệm: chúng tôi đã làm đúng y như thế. Giờ đây, nếu ngài bước chân vào nghĩa trang, ngài sẽ chỉ thấy trên phiến đá bia mộ ấy duy nhất một cái tên, cùng với ngày lìa đời của ông.

Ánh bình minh đã vãn hồi lại cho tôi chút lý trí thông thường. Tôi thức dậy, và bước vội ra vườn ngay khi trời vừa đủ tỏ lối, cốt để xem thử có bất kỳ dấu chân nào in hằn dưới thềm cửa sổ phòng ông không. Tuyệt nhiên chẳng có vết tích nào. "Ông ấy vẫn ở trong nhà," tôi thầm nghĩ, "và hôm nay ông ấy rồi sẽ ổn thôi." Như thường lệ, tôi chuẩn bị bữa điểm tâm cho cả nhà, nhưng dặn dò Hareton và Catherine cứ dùng phần của mình trước khi ông chủ xuống, bởi ông thường dậy muộn. Bọn trẻ thích dùng bữa ngoài trời hơn, dưới những tán cây râm mát, nên tôi đã dọn sẵn một chiếc bàn nhỏ để chiều ý chúng.

Lúc bước trở vào nhà, tôi thấy Heathcliff đã ở dưới lầu. Ông cùng lão Joseph đang trao đổi đôi việc nông trại; ông đưa ra những chỉ thị rành rẽ, cặn kẽ về vấn đề đang bàn tới, nhưng nhịp điệu lại nhanh hối hả. Ông liên tục quay ngoắt đầu sang một bên, nét mặt vẫn in hằn vẻ kích động bồn chồn, thậm chí còn cuồng điên hơn trước. Khi lão Joseph vừa rời khỏi phòng, ông thả người xuống chỗ ngồi quen thuộc, và tôi mang đặt một bát cà phê ngay trước mặt ông. Ông kéo nó lại gần, tì hai tay lên bàn rồi trân trân nhìn vào bức tường đối diện. Theo như tôi phỏng đoán, ông đang dò xét một khoảng không gian vô hình nào đó, từ trên xuống dưới, bằng đôi mắt rực sáng, cồn cào. Sự thèm khát mãnh liệt trong ông hừng hực đến độ ông nín thở tới cả nửa phút đồng hồ.

"Lại đây nào," tôi cất tiếng, đẩy vội mẩu bánh mì vào tay ông, "ông ăn uống chút đi khi đồ còn đang nóng. Nó đã nằm đợi ở đó ngót nghét một giờ rồi đấy."

Ông chẳng mảy may để tâm đến lời tôi, mà chỉ khẽ nhếch mép mỉm cười. Quả tình, thà nhìn ông nghiến răng ken két còn dễ chịu hơn vạn lần điệu cười quái dị nhường ấy.

"Heathcliff! Thưa ông chủ!" tôi hoảng hốt thốt lên. "Lạy Chúa, xin ông đừng nhìn chằm chằm như thể đang thấy một ảo ảnh phi phàm nào đó vậy."

"Lạy Chúa, xin bà đừng có hét toáng lên như thế," ông đáp lời. "Ngoảnh lại xem, và nói cho tôi biết, có phải chỉ có hai ta ở đây không?"

"Tất nhiên rồi," tôi vội đáp; "tất nhiên là chỉ có chúng ta."

Tuy vậy, tôi vẫn bất giác làm theo lời ông, tựa hồ chính tôi cũng chẳng mười mươi chắc chắn. Phẩy nhẹ tay, ông dẹp một khoảng trống trước mặt giữa mớ đồ ăn sáng, rồi rướn người tới trước để mặc sức phóng ánh nhìn đắm đuối cho thêm phần thỏa mãn.

Đến lúc này, tôi mới chợt nhận ra ông không hề nhìn vào bức tường; bởi khi tôi chỉ chú mục vào mình ông, rõ ràng là ông đang trân trân nhìn một thứ gì đó ở khoảng cách trong vòng độ hai thước. Và bất kể thứ đó là gì, nó dường như đang gieo rắc vào tâm trí ông cả niềm cực lạc lẫn nỗi thống khổ khôn cùng: ít ra thì vẻ mặt đớn đau nhưng lại ngất ngây của ông đã gợi lên cho tôi ý nghĩ ấy. Ảo ảnh kia cũng chẳng hề đứng yên: đôi mắt ông dõi sát theo nó với một sự chuyên chú không mệt mỏi, và, ngay cả lúc đang cất lời với tôi, ánh mắt ấy cũng chưa từng một giây rời đi. Tôi uổng công nhắc nhở việc ông đã nhịn ăn quá lâu: cho dù cho ông có lay chuyển để chạm vào thứ gì đó theo những lời van nài khẩn thiết của tôi, hay ông có vươn tay ra toan lấy một mẩu bánh mì, thì những ngón tay ông lại co rúm, nắm chặt lại trước khi chạm tới nó. Bàn tay ấy cứ buông thõng trên bàn, quên bẵng đi chủ đích của mình.

Tôi ngồi đó, như hiện thân của lòng kiên nhẫn, cố gắng kéo sự chú ý mộng du của ông ra khỏi dòng suy tưởng miên man kia; cho đến khi ông đâm ra cáu bẳn, vụt đứng dậy và gắt gỏng hỏi tại sao tôi không chịu để cho ông chút khoảng lặng riêng tư trong lúc dùng bữa? Ông còn bảo lần sau tôi chẳng cần cất công đợi chờ: tôi cứ việc đặt đồ ăn xuống rồi đi ra chỗ khác. Buông xong những lời lẽ ấy, ông rời khỏi nhà, chầm chậm tản bộ dọc theo lối mòn trong vườn, rồi mất hút qua cánh cổng.

Những giờ đồng hồ trôi qua trong sự bồn chồn lo lắng: một buổi tối nữa lại ập tới. Tôi thức đến tận khuya, và ngay cả khi đã ngả lưng, tôi vẫn không sao chợp mắt nổi. Hơn nửa đêm ông mới trở về, nhưng thay vì nghỉ ngơi, ông lại tự nhốt mình trong căn phòng dưới lầu. Tôi lắng nghe tiếng động, cứ thế trằn trọc không yên, rồi cuối cùng đành khoác áo bước xuống nhà. Thật quá bức bối khi cứ phải nằm đó, căng óc ra với hàng trăm mối nghi ngờ vẩn vơ ám ảnh trong tâm trí.

Tôi nhận ra tiếng bước chân của Heathcliff; ông không ngừng bước tới bước lui như thể đang đếm từng tấc sàn. Bầu không khí tĩnh mịch thỉnh thoảng lại bị xé toạc bởi những tiếng hít sâu, nghe nghẹn ngào hệt như một tiếng rên rỉ. Ông lẩm bầm những câu chữ đứt đoạn; cái tên duy nhất tôi nghe loáng thoáng được là Catherine, đan xen cùng những âm thanh hoang dại chất chứa cả niềm âu yếm lẫn nỗi đớn đau tột cùng. Cách ông cất lời giống hệt như đang thì thầm với một người đang hiện diện ngay trước mặt; trầm mặc, thiết tha, và như bị vắt kiệt từ tận sâu thẳm linh hồn. Tôi không đủ can đảm bước thẳng vào phòng, nhưng vì muốn kéo ông ra khỏi cơn mộng mị, tôi bèn đi đến bên lò sưởi nhà bếp, cời ngọn lửa lên và bắt đầu gạt đống than hồng. Hành động ấy đã lôi kéo ông bước ra sớm hơn tôi tưởng. Ông liền mở cửa và cất tiếng-"Nelly, lại đây-đã sáng chưa? Cầm theo ngọn đèn của bà vào đây."

"Đồng hồ đang điểm bốn giờ," tôi đáp. "Ông cần một ngọn nến để mang lên lầu sao: lẽ ra ông có thể thắp nến ngay bằng ngọn lửa này."

"Không, tôi không muốn lên lầu," ông nói. "Vào đây, và nhóm cho tôi một lò sưởi, rồi dọn dẹp bất cứ thứ gì cần thiết cho căn phòng này."

"Tôi phải quạt cho than bén đỏ trước đã, rồi mới có thể mang theo mọi thứ," tôi đáp, kéo một chiếc ghế lại gần và cầm lấy chiếc ống bễ.

Trong lúc đó, ông cứ bước đi tới đi lui, trong một trạng thái gần như điên loạn; những tiếng thở dài nặng nhọc của ông dồn dập nối tiếp nhau, đến mức chẳng còn lấy một nhịp thở bình thường.

"Khi trời sáng, tôi sẽ sai người đi gọi Green," ông nói. "Tôi muốn hỏi ông ta một số vấn đề pháp lý trong lúc đầu óc tôi vẫn còn đủ minh mẫn, và trong khi tôi vẫn còn có thể hành động một cách điềm tĩnh. Tôi vẫn chưa lập di chúc; và tôi không thể quyết định được mình sẽ phân định đống tài sản này ra sao. Giá mà tôi có thể xóa sổ nó khỏi mặt đất này."

"Tôi sẽ không thốt ra những lời như vậy đâu, Heathcliff," tôi vội can. "Hãy cứ gác chuyện di chúc lại đã: ông sẽ còn sống để ăn năn về bao sự bất công của mình! Tôi chưa bao giờ dám nghĩ thần kinh của ông lại trở nên suy nhược như vậy: nhưng quả thực, chúng đang bất ổn một cách kỳ lạ; và gần như hoàn toàn là do lỗi của chính ông. Cái cách ông đày đọa bản thân suốt ba ngày qua đủ sức quật ngã cả một gã khổng lồ Titan2 đấy. Hãy ăn một chút gì đó, và nghỉ ngơi đi. Ông chỉ cần nhìn vào gương thôi là sẽ thấy mình đang thèm khát cả hai thứ đó đến nhường nào. Má ông hóp lại, còn đôi mắt thì đỏ ngầu, trông chẳng khác nào một kẻ đang lả đi vì đói và sắp mù lòa vì thiếu ngủ."

"Việc tôi không thể ăn hay nghỉ ngơi đâu phải là lỗi của tôi," ông trả lời. "Tôi thề với bà đó không phải là một sự sắp đặt có tính toán. Tôi sẽ làm cả hai việc đó, ngay khi có thể. Nhưng bà bảo tôi làm thế lúc này thì khác nào bảo một kẻ đang vùng vẫy giữa dòng nước hãy cứ ngơi nghỉ khi bờ bến chỉ cách có một sải tay! Tôi phải đặt chân lên bờ trước đã, rồi tôi sẽ nghỉ ngơi. Thôi, đừng bận tâm đến gã luật sư Green nữa: còn về chuyện ăn năn vì những sự bất công của mình, tôi chưa từng làm điều gì khuất tất, và tôi cũng chẳng có gì phải hối tiếc. Tôi quá đỗi hạnh phúc; thế nhưng bao nhiêu đó vẫn là chưa đủ. Sự thống khoái tột cùng trong linh hồn tôi đang gặm nhấm thể xác tôi, nhưng bản thân nó lại vĩnh viễn không thể lấp đầy."

"Hạnh phúc sao, thưa ông chủ?" tôi thảng thốt. "Một thứ hạnh phúc mới kỳ lạ làm sao! Nếu ông chịu nghe tôi nói mà không nổi trận lôi đình, tôi có thể đưa ra vài lời khuyên để giúp ông thực sự thanh thản hơn đấy."

"Đó là gì?" ông hỏi. "Nói đi."

"Ông hẳn cũng tự biết rằng, Heathcliff," tôi nói, "từ thuở mười ba, ông đã sống một cuộc đời vô thần và đầy vị kỷ; và có lẽ trong suốt ngần ấy năm trời, hiếm khi nào ông nâng một cuốn Kinh thánh trên tay. Hẳn là ông đã vứt sạch những răn dạy của cuốn sách ấy, và giờ đây tâm trí ông cũng chẳng còn khoảng trống nào để tìm về với nó. Liệu có tổn hại gì không nếu ông sai người đi mời một vị mục sư tới đây-bất kỳ giáo phái nào cũng được, điều đó không quan trọng-đến để khai sáng nó cho ông, và để ông tự thấy mình đã đi quá xa khỏi những lời răn dạy ấy nhường nào; và ông sẽ chẳng thể nào xứng đáng với cõi thiên đường của Ngài, trừ phi ông chịu thức tỉnh trước khi nhắm mắt xuôi tay?"

"Tôi thấy biết ơn chứ không hề tức giận đâu, Nelly," ông nói, "bởi vì bà nhắc tôi nhớ đến cái cách mà tôi khao khát được chôn cất. Đó là được khiêng ra nghĩa trang vào lúc chạng vạng. Bà và Hareton có thể đi cùng tôi nếu hai người muốn: và hãy nhớ, đặc biệt, phải tận mắt coi xem gã đào huyệt có tuân thủ đúng những chỉ thị của tôi về hai chiếc quan tài hay không! Chẳng cần mục sư nào đến cả; và cũng không cần ai phải tụng niệm bất cứ lời nào trước linh cữu tôi.-Tôi nói cho bà hay, tôi gần như đã chạm đến ngưỡng cửa thiên đường của tôi rồi; còn thiên đường của những kẻ khác, tôi hoàn toàn khinh rẻ và chẳng buồn khao khát."

"Vậy giả sử ông vẫn cứ ngoan cố tuyệt thực, rồi bỏ mạng vì điều đó, và người ta cự tuyệt việc chôn cất ông trong khuôn viên thánh đường3 thì sao?" tôi nói, sững sờ trước sự báng bổ thờ ơ của ông. "Lúc đó ông sẽ thấy thế nào?"

"Họ sẽ không làm thế đâu," ông cự lại. "Nếu bọn họ làm thế, bà phải bí mật đưa tôi đi; và nếu bà dám phớt lờ tâm nguyện đó, thì chính bà sẽ phải nếm trải sự thật rằng những kẻ đã khuất không hề tan biến vào hư vô đâu!"

Ngay khi nghe thấy những người khác trong nhà rục rịch thức giấc, ông liền chui tọt vào cái hang ổ của mình, còn tôi thì trút được một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Nhưng đến buổi chiều, lúc lão Joseph và Hareton đang bận bịu ngoài đồng, ông lại lảo đảo bước vào bếp, và với một vẻ mặt điên dại, ông bảo tôi vào ngồi cùng: ông muốn có người kề bên. Tôi cự tuyệt; nói thẳng với ông rằng những lời nói và thái độ quái gở lạ lùng của ông đang làm tôi kinh hãi, và tôi không đủ can đảm cũng chẳng có chút ý muốn nào để ở lại một mình cùng ông.

"Tôi tin là bà đang coi tôi như một con ác quỷ," ông nói kèm theo một tràng cười ảm đạm. "Một thứ tà dị quá đỗi kinh hoàng, không đáng được sống chung dưới một mái nhà tử tế." Rồi ông quay ngoắt sang Catherine-cô đang đứng đó, và đã vội vàng lùi ra nấp sau lưng tôi khi ông tiến lại gần-ông nói thêm bằng giọng điệu nửa cợt nhả, nửa chế giễu: "Cô sẽ tới chứ, con gà nhép? Tôi không làm cô đau đâu. Không! Trong mắt cô, tôi đã tự biến mình thành một thứ quái thai còn tồi tệ hơn cả ác quỷ mất rồi. Chà, thế mà vẫn có một người không hề lùi bước trước sự hiện diện của tôi đấy! Lạy Chúa! Cô ấy quả thật không chút nao núng. Ôi, khốn kiếp! Đó thật sự là một nhục hình không tài nào tả xiết đối với xương thịt phàm trần-ngay cả đối với tôi."

Ông không cầu xin sự bầu bạn của ai thêm nữa. Đến chạng vạng, ông tự giam mình trong phòng ngủ. Suốt đêm hôm đó, và ròng rã cho đến tận sáng hôm sau, chúng tôi không ngừng nghe thấy tiếng ông rên rỉ và lầm bầm một mình. Hareton hết sức lo âu và định xông vào; nhưng tôi khuyên cậu đi mời bác sĩ Kenneth, để ông ấy tự mình vào xem xét bệnh tình của chú cậu. Khi bác sĩ đến, và tôi vừa yêu cầu được vào trong vừa cố vặn tay nắm cửa, thì tôi nhận ra nó đã bị khóa chặt; và Heathcliff gắt lên bảo chúng tôi hãy mặc xác ông. Ông gằn giọng nói rằng mình đã khỏe hơn, và chỉ muốn được yên tĩnh một mình; thế nên vị bác sĩ đành phải rời đi.

Tối hôm sau trời mưa rất to; quả thực, mưa tầm tã đến tận lúc rạng đông. Khi đi dạo một vòng quanh nhà vào buổi sáng, tôi thấy cửa sổ phòng ông chủ vẫn mở toang, để mặc mưa hắt thẳng vào trong. Thấy vậy tôi thầm nghĩ, ông ấy không thể nào đang nằm trên giường được: những trận mưa rào đó ắt sẽ làm ông ướt sũng. Hoặc là ông đã dậy, hoặc là đã ra ngoài. Nhưng tôi quyết định không chần chừ nữa, cứ bạo gan bước vào xem sao.

Dùng một chiếc chìa khóa khác để lách vào phòng xong, tôi vội chạy đến mở những tấm vách gỗ bao quanh giường, vì căn phòng bên ngoài trống không. Nhanh chóng gạt chúng sang một bên, tôi ghé mắt nhìn vào trong. Heathcliff đang ở đó-nằm ngửa. Đôi mắt ông nhìn thẳng vào tôi sắc lẹm và hoang dại khiến tôi giật thót; và rồi, ông dường như mỉm cười. Mới đầu tôi không hề nghĩ ông đã chết. Thế nhưng, mặt và cổ ông đã bị mưa xối ướt đẫm; chăn ga đệm sũng nước, và ông nằm đó bất động hoàn toàn. Cánh cửa sổ kính đập qua đập lại đã cứa vào một bàn tay đang buông trên bệ cửa sổ của ông. Chẳng có lấy một giọt máu nào rỉ ra từ mảng da bị rách, và khi tôi chạm ngón tay lên đó, mọi nghi ngờ trong tôi tan biến: ông đã tắt thở và cứng đờ!

Tôi gài chặt cửa sổ lại, vuốt những lọn tóc dài đen nhánh khỏi trán ông. Tôi cố vuốt mắt cho ông nhắm lại, hòng dập tắt cái ánh nhìn hoan hỉ mà vô cùng đáng sợ, giống hệt như khi ông còn sống đó, trước khi có ai khác nhìn thấy. Thế nhưng mí mắt ông không chịu khép lại. Chúng dường như đang chế giễu mọi nỗ lực của tôi; và đôi môi hé mở cùng hàm răng trắng ởn, sắc nhọn kia cũng đang nhạo báng tôi! Nỗi sợ hãi hèn nhát lại bủa vây lấy tôi, tôi hoảng hốt lớn tiếng gọi lão Joseph. Lão lê bước lên lầu, làm ầm ĩ cả lên, nhưng kiên quyết không chịu chạm vào thi thể ông.

"Ác quỷ đã lôi cổ linh hồn hắn đi rồi," lão rít lên, "và nó cứ việc vác luôn cái xác tàn tạ của hắn đi làm phần thưởng, mặc kệ lão, lão có thèm quan tâm đâu! Ối dào! Trông hắn mới ác độc làm sao, chết rồi mà vẫn nhe răng cười nhăn nhở kìa!" rồi gã tội đồ già nua ấy nhăn nhở cười nhạo báng. Tôi những tưởng lão sắp nhảy múa tung tăng quanh giường đến nơi. Nhưng rồi lão đột nhiên trấn tĩnh lại, quỳ sụp xuống, giơ hai tay lên trời mà tạ ơn Chúa, vì người chủ hợp pháp và dòng dõi xa xưa nay đã giành lại được quyền lợi của mình.

Sự việc kinh hoàng này khiến tôi choáng váng; và ký ức bất giác ùa về những tháng ngày xưa cũ, mang theo một nỗi buồn đau trĩu nặng. Thế nhưng Hareton tội nghiệp, người chịu nhiều thiệt thòi và oan khuất nhất, lại là người duy nhất thực sự đau khổ. Cậu ngồi bên thi thể suốt đêm, khóc lóc trong nỗi xót xa tột cùng. Cậu nắm lấy tay chú, và đặt nụ hôn lên khuôn mặt mỉa mai, man rợ mà tất cả mọi người đều co rúm lại chẳng dám nhìn. Cậu khóc thương chú với nỗi đau đớn mãnh liệt, tuôn trào tự nhiên từ một trái tim nhân hậu, dù cho trái tim ấy có cứng cỏi tựa thép đã qua tôi luyện đi chăng nữa.

Bác sĩ Kenneth rất đỗi bối rối khi phải kết luận xem ông chủ đã chết vì căn bệnh gì. Tôi giấu nhẹm chuyện ông nhịn ăn suốt bốn ngày ròng, vì sợ sẽ rước thêm rắc rối. Hơn nữa, tôi cũng tin rằng ông không hề cố tình tuyệt thực: đó chỉ là hậu quả từ căn bệnh kỳ lạ của ông, chứ chẳng phải nguyên nhân.

Dù cho cả xóm làng có lời ra tiếng vào chê cười, chúng tôi vẫn chôn cất ông theo đúng di nguyện. Đám tang vắng vẻ đến quạnh hiu, chỉ có tôi, Hareton, người đào huyệt cùng sáu người đàn ông khiêng quan tài. Sáu người nọ vội vã rời đi ngay khi quan tài vừa được hạ huyệt; chỉ còn chúng tôi nán lại chứng kiến nấm mồ được lấp đất. Gạt những dòng nước mắt giàn giụa trên mặt, Hareton tự tay xắn những tảng cỏ xanh tươi đắp lên trên lớp đất nâu mùn. Giờ đây, nấm mồ ấy cũng phẳng phiu và xanh tốt như những nấm mồ bên cạnh-và tôi thành tâm hy vọng người nằm dưới đó sẽ có một giấc ngủ thật bình yên. Thế nhưng, nếu ngài đem chuyện này đi hỏi những người nông dân quanh vùng, họ sẽ thề độc trên Kinh thánh rằng ông ấy vẫn còn đi lại. Có người kể rằng họ đã chạm trán ông gần nhà thờ, trên cánh đồng hoang, hay thậm chí là ngay bên trong ngôi nhà này. Ngài hẳn sẽ cho đó là những câu chuyện hão huyền, và tôi cũng nghĩ vậy. Tuy thế, lão già hay ngồi bên bếp lửa kia cứ quả quyết rằng, kể từ khi ông mất, hễ vào những đêm mưa, lão lại thấy cả hai người bọn họ nhìn ra từ cửa sổ phòng ông. Và rồi, một chuyện kỳ lạ cũng xảy ra với chính tôi chừng một tháng trước. Một buổi tối nọ, trên đường đến Grange-đó là một buổi tối tối tăm và có vẻ sắp giông bão-khi vừa đến khúc cua ở Đồi Gió Hú, tôi bắt gặp một cậu bé nhỏ xíu đang đi sau một con cừu mẹ và hai con cừu non. Cậu bé khóc lóc thảm thiết vô cùng. Tôi cứ ngỡ lũ cừu non hoảng sợ nên không chịu để cậu chăn dắt.

"Có chuyện gì thế, cậu bé?" tôi cất tiếng hỏi.

"Có Heathcliff và một người phụ nữ ở đằng kia, ngay dưới sườn đồi kìa," cậu bé mếu máo khóc, "cháu không dám đi qua chỗ họ đâu."

Tôi căng mắt nhìn mà chẳng thấy gì cả; nhưng vì bầy cừu lẫn cậu bé đều nhất quyết không chịu đi tiếp, nên tôi đành bảo cậu bé đi vòng xuống con đường phía dưới. Có lẽ cậu bé đã tự đánh thức những bóng ma từ trong chính trí tưởng tượng của mình, khi lủi thủi đi ngang qua cánh đồng hoang và nhớ lại những chuyện nhảm nhí mà cậu vẫn nghe cha mẹ và bạn bè kể lại. Mặc dù vậy, tôi vẫn không còn thích ra ngoài khi trời tối nữa. Hơn nữa, tôi cũng chẳng hề muốn bị bỏ lại một mình trong ngôi nhà u ám này. Tôi chẳng thể nào kiểm soát nổi nỗi sợ hãi ấy; tôi sẽ rất đỗi vui mừng khi họ dọn đi và chuyển đến Grange.

"Vậy là họ sẽ chuyển đến Grange sao?" tôi lên tiếng.

"Vâng," bà Dean đáp lời, "ngay khi họ kết hôn, và hôn lễ sẽ diễn ra vào đúng ngày Đầu Năm Mới."

"Và ai sẽ sống ở đây sau đó?"

"Chà, lão Joseph sẽ trông nom dinh cơ này, và có lẽ sẽ có một cậu bé đến làm bạn với lão. Bọn họ sẽ chỉ quanh quẩn dưới nhà bếp, còn toàn bộ phần còn lại của ngôi nhà sẽ bị đóng cửa then cài."

"Để mặc cho những hồn ma nào muốn trú ngụ thì cứ tự nhiên sử dụng sao?" tôi buông lời nhận xét.

"Không đâu, ngài Lockwood," Nelly khẽ lắc đầu nói. "Tôi tin rằng những người đã khuất đang được an nghỉ: nhưng thật chẳng phải đạo chút nào khi nói về họ bằng cái giọng điệu cợt nhả như vậy."

Ngay lúc đó, tiếng cánh cổng vườn đóng sầm lại vang lên; những người vừa đi dạo đang trở về.

"Họ chẳng còn biết sợ hãi là gì nữa," tôi làu bàu, đưa mắt quan sát họ đang tiến lại gần qua khung cửa sổ. "Một khi đã ở cạnh nhau, họ dám thách thức cả quỷ Satan cùng toàn bộ đạo quân hắc ám của hắn."

Khi đôi trẻ bước lên những bậc thềm đá, và nán lại để ném một ánh nhìn luyến lưu cuối cùng về phía vầng trăng-hay nói cho chính xác hơn, là đắm đuối nhìn nhau dưới ánh sáng bàng bạc của nó-tôi lại dâng lên một sự thôi thúc không thể cưỡng lại được là phải tránh mặt họ. Dúi vội một món tiền kỷ niệm vào tay bà Dean, đồng thời bỏ ngoài tai mọi lời cằn nhằn của bà về sự thô lỗ của mình, tôi vụt biến mất qua ngả nhà bếp ngay khoảnh khắc họ vừa mở tung cánh cửa trước. Và cái cách tôi rời đi như thế, hẳn đã càng củng cố thêm quan điểm của lão Joseph về sự lố lăng vô ý tứ của bà đồng nghiệp, nếu như lão không may mắn kịp nhận ra tôi là một nhân vật đáng kính nhờ tiếng leng keng ngọt lịm của đồng sovereign rơi xuống dưới chân lão.

Chuyến cuốc bộ về nhà của tôi đã bị kéo dài thêm đôi chút do một sự rẽ ngoặt về hướng nhà thờ. Đứng lặng dưới những bức tường đá của nó, tôi nhận ra sự hoang phế mục nát đã âm thầm tiến triển, dẫu chỉ mới qua bảy tháng ngắn ngủi: nhiều ô cửa sổ để lộ ra những khoảng trống đen ngòm do lớp kính đã bong tróc vỡ vụn; và những phiến đá đen lợp mái nhô ra, rải rác chỗ này chỗ kia, vượt ra ngoài đường nét quy củ của mái nhà, hứa hẹn sẽ dần bị đánh bật tung trong những cơn bão mùa thu sắp đổ bộ.

Tôi dạo quanh tìm kiếm, và nhanh chóng phát hiện ra ba tấm bia mộ nằm trên sườn dốc ngay sát rìa cánh đồng hoang: tấm ở giữa mang màu xám xịt, đã bị vùi lấp đi quá nửa trong những bụi thạch nam; tấm của Edgar Linton thì chỉ mới hòa lẫn một phần nhờ lớp cỏ và rêu phong đang lặng lẽ bò lên chân bia; còn tấm của Heathcliff thì vẫn trơ trọi nguyên vẹn.

Tôi cứ nán lại quanh đó mãi, đắm mình dưới bầu trời trong trẻo kia: ngắm nhìn những cánh bướm đêm dập dờn bay lượn giữa những cụm thạch nam và hoa chuông, lắng nghe làn gió hiu hiu thổi qua thảm cỏ, và tự hỏi làm sao ai đó có thể mường tượng ra những giấc ngủ chẳng chút bình yên cho những con người đang an giấc ngàn thu dưới lớp đất tĩnh lặng kia.



  1. Nguyên gốc ám chỉ kiểu giường 'box bed' (giường hộp) phổ biến ở vùng nông thôn Anh và Scotland vào thế kỷ 18-19. Giường được thiết kế như một chiếc tủ với các vách gỗ xung quanh và có cửa đóng lại để giữ ấm trong những đêm mùa đông giá rét. ↩

  2. Trong thần thoại Hy Lạp, Titan là thế hệ thần linh cổ đại có thân hình khổng lồ và sức mạnh vô song. ↩

  3. Theo luật lệ của Giáo hội đương thời, những người tự sát hoặc có lối sống báng bổ, không ăn năn hối cải sẽ không được phép chôn cất trên mảnh đất đã được thánh hiến (consecrated ground) của nhà thờ. ↩