CHƯƠNG XXVIII

Vào buổi sáng, hay đúng hơn là buổi chiều của ngày thứ năm, một tiếng bước chân khác tiến lại gần-nhẹ và ngắn hơn; và lần này, người đó đã bước hẳn vào phòng. Kẻ tới là Zillah; khoác trên mình chiếc khăn choàng màu đỏ tươi, đầu đội chiếc mũ lụa đen, cánh tay ả đung đưa một chiếc giỏ đan bằng liễu.

"Ôi, lạy Chúa! Bà Dean!" cô ta thảng thốt kêu lên. "Chà! Khắp Gimmerton người ta đang bàn tán xôn xao về bà đấy. Tôi cứ đinh ninh là bà đã chìm nghỉm dưới đáy đầm lầy Blackhorse cùng với cô chủ rồi cơ, mãi đến khi ông chủ bảo với tôi là đã tìm thấy hai người, và ông ấy đã an bài cho bà ở đây! Sao cơ! Chắc hẳn bà đã dạt vào một mỏm đất nào đó phải không? Bà đã kẹt dưới cái hố đó bao lâu vậy? Ông chủ đã cứu bà sao, bà Dean? Nhưng trông bà đâu có tiều tụy đi chút nào-bà chẳng có vẻ gì là ốm yếu nhỉ?"

"Ông chủ của cô đích thị là một tên khốn kiếp!" tôi đáp trả. "Nhưng hắn rồi sẽ phải đền tội. Hắn không cần phải bịa đặt ra cái câu chuyện nực cười đó: mọi chuyện rồi sẽ phơi bày ra ánh sáng rành rành!"

"Bà nói vậy là sao?" Zillah vặn vẹo. "Đó đâu phải chuyện ông ấy tự thêu dệt: chính miệng dân làng râm ran đồn đại như vậy đấy-rằng bà bị lạc trong đầm lầy. Ngay khi bước chân vào nhà, tôi đã gọi to: 'Này cậu Hareton, từ lúc tôi đi vắng quả là có những chuyện lạ lùng xảy ra. Thật xót xa cho cô gái trẻ trung xinh xắn ấy, và cả bà Nelly Dean lanh lẹ nữa.' Cậu ấy cứ trố mắt ra nhìn. Nghĩ rằng cậu ấy chưa hay biết hung tin, tôi bèn kể hết mọi lời đồn thổi. Ông chủ đứng nghe, chỉ mỉm cười một mình và bảo: 'Nếu bọn họ có rớt xuống đầm lầy, thì giờ này cũng đã ngoi lên rồi, Zillah ạ. Ngay lúc này đây, Nelly Dean đang ở trong phòng cô. Khi lên trên đó, cô có thể bảo bà ấy rời đi; chìa khóa đây. Nước bùn lầy đã ngấm vào đầu bà ấy, và lẽ ra bà ấy đã cắm cổ chạy thẳng về nhà trong cơn hoảng loạn tột độ, nhưng tôi đã giữ bà ấy lại chờ cho tới lúc hoàn hồn. Cô hãy bảo bà ấy lập tức quay về Grange, nếu chân bà ấy còn lê bước nổi, và mang theo một lời nhắn của tôi, rằng cô chủ trẻ của bà ấy sẽ về kịp để dự tang lễ của ngài địa chủ.'"

"Ngài Edgar chưa qua đời sao?" tôi hổn hển thốt lên. "Ôi! Zillah, Zillah!"

"Chưa, chưa; bà cứ ngồi xuống đã, bà quản gia tốt bụng ạ," cô ta dỗ dành; "bà vẫn còn yếu ớt lắm đấy. Ông ấy chưa qua đời đâu; Bác sĩ Kenneth đoán chừng ngài ấy có thể cầm cự thêm được một ngày nữa. Tôi đã tình cờ gặp bác sĩ trên đường và hỏi thăm sự tình."

Thay vì nán lại, tôi vơ lấy tay nải rồi lao vội xuống cầu thang khi thấy lối đi đã mở. Vừa bước vào nhà, tôi rảo mắt quanh quất mong tìm được ai đó để dò hỏi tin tức của Catherine. Khắp nơi ngập tràn ánh nắng, cánh cửa chính cũng đang mở toang, thế nhưng tĩnh lặng đến vắng bóng người. Đang lúc tôi còn nấn ná chưa biết nên rời đi ngay hay quay lại tìm cô chủ, một tiếng ho húng hắng khẽ khàng chợt vọng tới từ phía lò sưởi. Linton đang uể oải nằm sải dài trên băng ghế. Cậu ta là sinh linh duy nhất hiện diện ở đó, miệng lơ đãng mút que kẹo đường, đôi mắt vô hồn dõi theo từng cử động của tôi. "Cô Catherine đâu rồi?" tôi gặng hỏi, đinh ninh rằng việc bắt gặp cậu ta ở đây một mình thừa sức dọa thằng nhóc khai ra mọi chuyện. Thế nhưng, cậu ta chỉ trơ trơ tiếp tục mút kẹo như một kẻ vô can ngây ngô.

"Cô ấy đi rồi sao?" tôi dồn hỏi.

"Chưa," cậu ta thản nhiên đáp. "Cô ấy đang ở trên lầu. Cô ấy không được phép đi. Bọn tôi sẽ không để cô ấy đi."

"Cậu không để cô ấy đi sao, đồ ngốc nghếch kia!" tôi gắt lên. "Chỉ cho tôi phòng của cô ấy ngay lập tức, nếu không tôi sẽ làm cho cậu phải khóc thét lên đấy."

"Cha sẽ làm cho bà khóc thét lên, nếu bà dám bước lên đó," cậu ta đáp lời. "Ông ấy cấm tôi yếu lòng với Catherine. Cô ấy là vợ tôi, và thật đáng xấu hổ khi cô ấy lại dám bỏ tôi mà đi. Cha bảo cô ấy căm ghét tôi, luôn miệng rủa cho tôi chết để hòng lấy hết số tiền của tôi. Nhưng cô ấy sẽ không bao giờ đạt được mục đích đâu! Và cô ấy cũng đừng hòng được về nhà! Không bao giờ! Cứ để mặc cô ấy gào khóc và ốm đau cho đến khi nào chán thì thôi!"

Nói rồi, cậu ta lại điềm nhiên ngậm que kẹo, nhắm nghiền mắt lại tựa như thể sắp lăn ra ngủ vùi.

"Cậu Heathcliff này," tôi rành rọt từng chữ, "cậu đã quên sạch sành sanh mọi ân tình Catherine dành cho cậu vào mùa đông năm ngoái rồi sao? Khi cậu một mực khẳng định rằng cậu yêu cô ấy, khi cô ấy đem sách đến, hát cho cậu nghe, và đã không quản ngại biết bao bận đội tuyết vượt gió để đến thăm cậu? Cậu có nhớ cô ấy từng khóc nức nở chỉ vì lỡ hẹn một buổi tối, bởi cô ấy nơm nớp lo sợ cậu sẽ hụt hẫng hay không? Hồi đó, chính cậu cũng cảm nhận được rằng cô ấy đã đối xử tốt với cậu gấp trăm ngàn lần. Vậy mà giờ đây, cậu lại u mê tin vào những lời dối trá của cha cậu, dù cậu thừa biết ông ta căm hận cả hai người đến tận xương tủy. Cậu lại còn hùa theo ông ta để ức hiếp cô ấy nữa. Quả là một cách đền ơn đáp nghĩa thật tuyệt vời, đúng không?"

Khóe môi Linton chợt trĩu xuống, và cậu ta chầm chậm rút que kẹo khỏi miệng.

"Cậu nghĩ cô ấy cất bước tìm đến Đồi Gió Hú vì cô ấy căm ghét cậu ư?" tôi vặn hỏi. "Cậu hãy tự vấn lương tâm mình đi! Còn về món tiền của cậu, cô ấy thậm chí còn chẳng mảy may biết cậu sẽ có được cắc bạc nào. Thế mà cậu lại bảo rằng cô ấy đang ốm. Vậy mà cậu nỡ vứt bỏ cô ấy cô độc trên lầu, bơ vơ trong một ngôi nhà xa lạ ư! Chính cậu, kẻ đã từng nếm trải cảm giác tồi tệ của sự bỏ rơi! Cậu biết nhỏ lệ xót thương cho nỗi khốn khổ của chính mình; và cô ấy cũng từng rơi nước mắt vì cậu. Nhưng cậu lại dửng dưng không chút đoái thương dành cho nỗi đau của cô ấy! Cậu thấy đấy, tôi đang rơi nước mắt đây, Cậu Heathcliff... Một người đàn bà có tuổi, và cũng chỉ mang thân phận kẻ hầu người hạ... Thế mà cậu, kẻ từng vờ vịt thể hiện một tình cảm sâu đậm, kẻ có đủ mọi lý do để phải tôn trọng cô ấy, lại ích kỷ chỉ biết khóc thương cho chính bản thân, rồi dửng dưng nằm ườn ra đó. Ôi! Cậu đích thị là một thằng bé máu lạnh, vô tâm, vô tình!"

"Tôi không thể chịu đựng nổi việc ở cùng cô ấy," cậu ta bực dọc càu nhàu. "Tôi sẽ không bao giờ chịu ở một mình đâu. Những tiếng khóc lóc của cô ấy làm tôi phát điên. Cô ấy không chịu câm miệng, dẫu tôi đã đe dọa sẽ gọi cha lên. Tôi đã gọi ông ấy lên một lần, và ông ấy dọa sẽ bóp cổ cô ấy nếu cô ấy còn không chịu im lặng. Nhưng ngay khi ông ấy vừa khuất bóng, cô ấy lại tiếp tục thút thít và rầu rĩ suốt cả đêm thâu. Tôi đã phải gào thét vì bực tức đến mức không tài nào chợp mắt nổi."

"Ông Heathcliff đi vắng rồi sao?" tôi hỏi dò, chợt bàng hoàng nhận ra rằng thứ sinh vật thảm hại này hoàn toàn trơ lỳ trước những cực hình tinh thần đang giày vò chị họ của mình.

"Ông ấy đang ở ngoài sân," cậu ta hờ hững đáp, "nói chuyện với Bác sĩ Kenneth. Ông bác sĩ bảo rằng cuối cùng thì cậu Edgar cũng sắp chết thật rồi. Tôi mừng lắm, vì sau khi ông ta chết, tôi sẽ nghiễm nhiên trở thành chủ nhân của Grange. Catherine lúc nào cũng lải nhải về nơi đó như thể nó là nhà của cô ấy. Nó đâu phải của cô ấy! Nó là của tôi! Cha nói rằng mọi thứ cô ấy có đều thuộc về tôi. Toàn bộ những cuốn sách hay ho của cô ấy cũng là của tôi. Cô ấy đã gạ gẫm đem tặng chúng cho tôi, kể cả lũ chim nhép xinh xắn và con ngựa lùn Minny của cô ấy nữa, miễn là tôi lấy được chìa khóa phòng rồi thả cô ấy ra. Nhưng tôi đã vỗ thẳng vào mặt cô ấy rằng cô ấy chẳng còn cái quái gì để cho cả, tất cả mọi thứ đó đều đã là của tôi. Thế là cô ấy òa khóc, cô ấy tháo một bức ảnh nhỏ xíu trên cổ xuống rồi bảo rằng tôi nên giữ lấy nó. Hai bức tiểu họa1 nằm gọn trong một chiếc mề đay bằng vàng, một mặt là mẹ cô ấy, mặt kia là chân dung cậu Edgar hồi trẻ. Đó là chuyện của ngày hôm qua. Tôi lớn tiếng bảo rằng chúng cũng là của tôi, rồi cố sức giằng lấy chúng khỏi tay cô ấy. Con người hiểm độc ấy nhất quyết không chịu buông. Cô ấy xô tôi ngã dúi dụi, làm tôi đau điếng. Tôi thét lên, điều đó làm cô ấy khiếp sợ. Vừa nghe thấy tiếng bước chân cha đang rầm rập tiến lại gần, cô ấy liền bẻ gãy bản lề, bẻ đôi chiếc mề đay ra, rồi dúi cho tôi bức chân dung của mẹ cô ấy. Bức còn lại cô ấy cố tình giấu đi. Nhưng cha đã gặng hỏi có chuyện gì, và tôi đã khai hết. Ông ấy giật phăng bức ảnh trên tay tôi, rồi ra lệnh cho cô ấy phải giao nộp nửa còn lại cho tôi. Cô ấy cứng đầu từ chối, và ông ấy... ông ấy đã giáng cho cô ấy một cú trời giáng, giật đứt nó ra khỏi sợi dây chuyền rồi tàn nhẫn giẫm nát nó dưới gót giày."

"Và cậu có thấy khoái trá khi chứng kiến cô ấy bị đánh đập không?" tôi hỏi, mang theo ý đồ mồi chài để cậu ta kể tiếp.

"Tôi đã nhắm chặt mắt lại," cậu ta đáp lời, "Tôi luôn nhắm mắt mỗi khi thấy cha quất một con chó hay một con ngựa, ông ấy ra tay tàn độc lắm. Mặc dù lúc đầu tôi cũng thấy hả hê, vì cô ấy đáng bị trừng phạt do đã dám đẩy ngã tôi. Nhưng khi cha vừa đi khỏi, cô ấy liền bảo tôi ra chỗ cửa sổ, vạch cho tôi xem vết rách sâu bên trong má, sâu đến tận hàm răng, và miệng cô ấy thì rỉ ra đầy máu. Rồi cô ấy nhặt những mảnh vỡ nát của bức chân dung, quay mặt vào tường mà ngồi, và từ lúc đó đến giờ cô ấy tuyệt nhiên không thèm hé môi với tôi nửa lời. Thỉnh thoảng tôi lại nghĩ chắc cô ấy đau đớn đến mức không thốt nên lời. Tôi chẳng thích nghĩ ngợi như thế tẹo nào. Nhưng cô ấy thật là tồi tệ vì cứ khóc lóc ỉ ôi không ngớt. Trông cô ấy bợt bạt và hoang dại đến mức tôi cũng phải ớn lạnh."

"Và cậu có thể lấy được chìa khóa nếu cậu muốn, phải không?" tôi dò hỏi.

"Có, lúc tôi ở trên lầu," cậu ta thủng thẳng, "nhưng bây giờ tôi không thể lết nổi lên cầu thang nữa."

"Nó ở trong phòng nào?" tôi sốt sắng.

"Ồ," cậu ta hét lên, "tôi sẽ không đời nào chỉ cho bà biết nó ở đâu đâu. Đó là bí mật của chúng tôi. Sẽ không một ai được biết cả, kể cả Hareton hay Zillah. Đấy! bà làm tôi nhức óc rồi. Đi đi, đi đi!" Cậu ta gục luôn mặt xuống cánh tay, rồi nhắm tịt hai mắt lại.

Tôi cho rằng tốt nhất là nên lẳng lặng rời đi mà không giáp mặt ông Heathcliff, rồi dẫn người từ Grange đến giải cứu cô chủ nhỏ. Vừa bước chân về đến nơi, đám gia nhân đã vỡ òa trong niềm vui sướng và kinh ngạc tột độ khi thấy tôi bình an vô sự. Nghe tin cô chủ nhỏ vẫn an toàn, hai ba người định vội vàng chạy ùa lên phòng ngài Edgar để hô to tin mừng, nhưng tôi đã cản lại, giành lấy việc tự mình báo tin. Ôi, ngài ấy đã suy sụp biết bao chỉ trong vài ngày ngắn ngủi! Chủ nhân nằm đó, hiện thân của một nỗi buồn bã hiu hắt và sự cam chịu đang lặng lẽ chờ đợi cái chết. Trông ngài thật trẻ trung: tuy đã chạm ngưỡng ba mươi chín, người ta vẫn ngỡ ngài trẻ hơn ít nhất cả chục tuổi. Ngài đang nghĩ về Catherine, miệng cứ lẩm nhẩm gọi tên con bé. Tôi khẽ chạm vào tay ngài, cất tiếng.

"Catherine đang về rồi, thưa ngài chủ nhân kính mến!" tôi thì thầm; "cô ấy vẫn còn sống và khỏe mạnh; và tôi hy vọng nội trong đêm nay cô ấy sẽ có mặt ở đây."

Tôi rùng mình run rẩy trước phản ứng của ngài khi vừa nghe tin: ngài gượng nửa người ngồi dậy, ánh mắt khao khát kiếm tìm quanh căn phòng, rồi lại chìm vào cơn ngất lịm đi. Ngay khi ngài hồi tỉnh, tôi liền thuật lại chuyến đi bị cưỡng bách của chúng tôi, và cả những chuỗi ngày bị giam cầm bưng bít tại Heights. Tôi bảo rằng Heathcliff đã ép tôi phải đi vào: điều đó không hoàn toàn đúng sự thật. Tôi cố gắng nhắc đến Linton càng ít càng tốt; tôi cũng giấu nhẹm đi những hành vi tàn độc của cha cậu ta-tôi chỉ mong mỏi sao không gieo thêm bất cứ phiền muộn nào vào cõi lòng vốn đã chất đầy đau thương của ngài ấy nữa.

Ngài phán đoán rằng một trong những dã tâm của kẻ thù là nhằm chiếm đoạt tài sản cá nhân, cũng như toàn bộ điền trang, cho con trai ông ta: hay đúng hơn là cho chính bản thân hắn. Thế nhưng, tại sao hắn lại không kiên nhẫn chờ đến lúc ngài nhắm mắt xuôi tay thì vẫn còn là một ẩn số đối với chủ nhân tôi, bởi ngài đâu hề hay biết rằng ngày tàn của ngài và của đứa cháu trai lại đang kề cận nhau đến nhường nào. Tuy vậy, ngài cảm thấy bản di chúc của mình tốt nhất là nên được sửa đổi: thay vì để toàn quyền định đoạt tài sản thừa kế cho Catherine, ngài quyết định giao phó nó vào tay những người được ủy thác2 để cô sử dụng trong suốt phần đời còn lại, và sau đó truyền cho những đứa con của cô, nếu cô có, sau khi cô qua đời. Bằng cách đó, cơ ngơi này sẽ không thể rơi vào tay ông Heathcliff một khi Linton chết đi.

Vâng lệnh ngài, tôi lập tức phái một người đi mời luật sư, và cử thêm bốn người nữa, mang theo vũ trang đầy đủ, để quyết giành lại cô chủ nhỏ từ tay kẻ giam cầm. Nhưng cả hai nhóm đều lần lữa mãi rất khuya mới chịu về. Người hầu đi một mình đã trở lại trước. Cậu ta báo rằng ông Green, vị luật sư, đã đi vắng lúc cậu ta đến, khiến cậu ta phải vất vưởng chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ mới gặp. Và rồi ông Green lại bảo cậu ta rằng ông còn chút việc dang dở ở làng cần giải quyết; nhưng ông hứa sẽ có mặt tại Thrushcross Grange trước lúc hừng đông. Bốn người kia cũng trở về tay không. Họ mang về lời nhắn rằng Catherine đang ngã bệnh: ốm liệt giường đến mức không thể bước ra khỏi phòng; và Heathcliff cấm tiệt không cho họ gặp mặt. Tôi đã mắng cho đám ngốc nghếch đó một trận ra trò vì đã cả tin vào câu chuyện bịa đặt ấy, một câu chuyện mà tôi sẽ chẳng bao giờ dám mang đến tai chủ nhân; tôi hạ quyết tâm sẽ dẫn một đám đông xông thẳng lên Heights vào lúc rạng sáng, và sẽ thực sự phá tan nơi đó, trừ phi chúng chịu ngoan ngoãn giao trả người tù nhân cho chúng tôi. Cha của cô sẽ được nhìn thấy cô, tôi đã thề, và thề đi thề lại, dù cho con quỷ dữ đó có bị giết chết ngay trên những bậc đá trước cửa nhà hắn trong lúc cố tình ngáng đường đi chăng nữa!

Thật may mắn làm sao khi tôi không phải dấn thân vào chuyến đi phiền toái ấy. Tầm ba giờ sáng, tôi xuống lầu để lấy một bình nước; và ngay lúc đang ôm bình đi ngang qua sảnh, một tiếng gõ sắc lạnh vang lên từ cửa trước khiến tôi giật nảy mình. "Ồ! Là Green," tôi lẩm bẩm, tự trấn an bản thân-"chỉ là Green thôi," rồi tiếp tục bước đi, định bụng sai ai đó ra mở cửa; nhưng tiếng gõ lại cất lên: không quá lớn, song lại mang vẻ khẩn khoản lạ lùng. Tôi đặt vội bình nước lên tay vịn cầu thang, rồi tất tả tự mình đi mở cửa. Ánh trăng thu hoạch3 vằng vặc tỏa sáng khắp bên ngoài. Đứng đó chẳng phải là vị luật sư. Cô chủ nhỏ ngọt ngào của tôi đã nhào tới ôm chầm lấy cổ tôi, nức nở, "Dì Ellen, dì Ellen! Cha còn sống không?"

"Còn," tôi òa khóc: "còn, thiên thần của dì, ngài ấy vẫn còn, tạ ơn Chúa, cô đã được bình an trở về bên chúng tôi rồi!"

Dù vẫn đang thở hồng hộc, cô đã toan chạy tót ngay lên lầu để tới phòng ngài Linton; nhưng tôi ép cô ngồi xuống ghế, ép uống một ngụm nước, rồi lau rửa khuôn mặt nhợt nhạt của cô, lấy chiếc tạp dề xoa xoa để gò má ấy ửng lên chút sắc hồng mong manh. Sau đó, tôi bảo rằng tôi phải đi trước để báo tin cô đã về; tôi van nài cô hãy nói dối rằng mình sẽ sống hạnh phúc bên cậu Heathcliff trẻ tuổi. Cô tròn xoe mắt nhìn tôi, nhưng rồi nhanh chóng vỡ lẽ lý do tại sao tôi lại khuyên cô làm vậy, và cô cam đoan với tôi rằng mình sẽ không than vãn dù chỉ nửa lời.

Tôi không đành lòng chứng kiến cuộc hội ngộ giữa hai cha con. Suốt mười lăm phút đồng hồ, tôi bồn chồn đứng lặng bên ngoài, và mãi đến lúc ấy mới khẽ khàng dám bước lại gần chiếc giường. Dẫu sao, mọi thứ đều diễn ra trong một bầu không khí tĩnh mịch: nỗi tuyệt vọng của Catherine cũng tĩnh mịch y hệt như niềm vui sướng của cha cô. Trông bề ngoài, cô điềm tĩnh đỡ lấy ngài; còn ngài thì ngước nhìn, đôi mắt mở to ngây ngất dán chặt vào từng đường nét trên khuôn mặt con gái.

Ngài ấy đã ra đi trong niềm hạnh phúc tột cùng, thưa ông Lockwood: ngài đã ra đi thanh thản như thế đấy. Hôn lên má cô, ngài thều thào,-"Cha đang đi đến chỗ mẹ đây; và con, đứa con bé bỏng thân yêu, rồi cũng sẽ đến với chúng ta!" Đó là lần cuối cùng ngài cử động và cất tiếng nói; ngài chỉ nằm đó, đôi mắt vẫn đắm đuối, rạng ngời hướng về phía con, cho đến khi nhịp đập từ tốn ngừng lại tự lúc nào, và linh hồn ngài thầm lặng lìa khỏi xác. Chẳng ai có thể nhận ra chính xác khoảnh khắc ngài trút hơi thở cuối cùng, bởi sự ra đi ấy diễn ra êm đềm không chút vật vã.

Dù Catherine đã khóc cạn lệ, hay bởi nỗi thương đau quá đỗi trĩu nặng khiến nước mắt chẳng thể tuôn rơi, cô vẫn bất động ngồi đó với đôi mắt khô khốc cho tới khi bình minh ló rạng. Cô ngồi mãi đến tận trưa, và hẳn sẽ còn ngồi thẫn thờ bên chiếc giường của người cha vừa lâm chung ấy, nếu tôi không kiên quyết kéo cô đi chợp mắt một chút. Thật phước hạnh vì tôi đã kịp tách cô ra khỏi nơi đó, bởi đúng vào giờ ăn tối, viên luật sư đã xuất hiện. Hắn vừa rẽ qua Đồi Gió Hú để nhận mật thị về cách hành xử. Hắn vốn dĩ đã bán mình cho ông Heathcliff; đó chính là nguyên cớ dẫn đến sự chậm trễ đầy toan tính trước lệnh triệu tập khẩn thiết của chủ nhân tôi. Nhưng ơn trời, chẳng còn mảy may một nỗi ưu tư phàm tục nào có thể bủa vây hay làm vấy bận cõi lòng ngài nữa, kể từ giây phút ái nữ của ngài bình an trở về.

Ông Green ngạo mạn tự cho mình cái quyền định đoạt mọi việc và sai khiến mọi người trong dinh thự. Ông ta ban bố lệnh sa thải toàn bộ gia nhân, chỉ chừa lại độc nhất mình tôi. Lẽ ra, hắn đã vịn vào thứ quyền lực được ủy thác đó để quả quyết cấm cản việc chôn cất Edgar Linton bên cạnh phu nhân ngài, mà ép phải an táng ngài trong nhà nguyện, quy tụ cùng gia tộc. Song, chính bản di chúc kiên cố đã chặn đứng mưu đồ ấy, hòa cùng những lời phản kháng kịch liệt của tôi trước bất kỳ sự vi phạm nào nhắm vào những di nguyện của chủ nhân. Lễ tang bị ép phải cử hành trong vội vã. Catherine, giờ đây đã mang danh Bà Linton Heathcliff, chỉ được ân chuẩn nán lại Grange cho đến khắc thi hài của cha cô vĩnh viễn rời khỏi chốn này.

Cô kể cho tôi nghe rằng nỗi thống khổ của cô rốt cuộc đã thôi thúc Linton làm liều để giải thoát cho cô. Khi nghe thấy tiếng cự cãi ngoài cửa của những người tôi cử đến, cô đã lờ mờ đoán ra ý nghĩa trong câu trả lời từ Heathcliff. Điều ấy đẩy cô đến sự tuyệt vọng cùng cực. Về phần Linton, cậu ta đã được đưa lên căn phòng khách nhỏ ngay sau khi tôi rời đi, và nỗi khiếp sợ tột độ đã khiến cậu ta phải lén lấy chiếc chìa khóa trước khi cha mình bước trở lên lầu. Cậu ta ranh mãnh vặn ổ khóa, rồi khép hờ cánh cửa lại thay vì đóng chặt; đến lúc phải đi ngủ, cậu ta nài nỉ xin được chung phòng với Hareton, và lời khẩn cầu ấy lần này lại được chấp thuận. Thế là Catherine lén lút đào tẩu trước lúc rạng đông. Cô chẳng dám cạy mở bất kỳ cánh cửa ra vào nào vì e sợ bầy chó sẽ sủa ầm lên báo động. Cô đi loanh quanh giữa những căn buồng trống hoác, dò xét từng khung cửa sổ; rồi may mắn thay, khi rẽ vào căn phòng của mẹ mình, cô đã dễ dàng lách người qua khung cửa, nương theo cành thông mọc sát vách mà trèo xuống mặt đất. Thế nhưng, cho dù có dùng đến những mưu mẹo vặt vãnh rụt rè đến đâu đi chăng nữa, kẻ tòng phạm ấy hẳn nhiên vẫn sẽ phải chịu phạt cho phần lỗi của mình trong cuộc bỏ trốn ấy.



  1. Tiểu họa (miniature portrait) là những bức chân dung được vẽ thủ công với kích thước rất nhỏ. Vào thế kỷ 19, trước khi nhiếp ảnh phổ biến, đây là cách lưu giữ hình ảnh người thân phổ biến nhất, thường được lồng vào trang sức để mang theo bên mình. ↩

  2. Trong luật pháp Anh thế kỷ 19, phụ nữ khi kết hôn thường mất quyền kiểm soát tài sản vào tay chồng. Việc thiết lập tài sản tín thác, tức giao tài sản cho "người được ủy thác" (trustee) quản lý, là một biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi tài chính của người phụ nữ. ↩

  3. Trăng thu hoạch (Harvest moon) là danh xưng chỉ kỳ trăng rằm diễn ra gần nhất với điểm thu phân (khoảng tháng 9 hằng năm). Ánh trăng kỳ này đặc biệt sáng và mọc sớm, giúp nông dân châu Âu xưa có thêm ánh sáng để thu hoạch mùa màng vào ban đêm. ↩