CHƯƠNG XXI

Ngày hôm ấy, chúng tôi đã vô cùng vất vả với cô bé Cathy. Buổi sáng, cô bé choàng tỉnh giữa niềm hân hoan, vô cùng háo hức được gặp lại cậu em họ nhỏ. Thế nhưng, tin tức về việc cậu rời đi truyền đến, kéo theo những giọt nước mắt cùng lời than khóc xót xa. Đến mức, chính cha Edgar đành phải dỗ dành, dốc lòng đoan chắc rằng cậu sẽ sớm quay về; tuy ông buột miệng lấp lửng, “nếu cha có thể đón được thằng bé”, mà trong thâm tâm lại chẳng ấp ủ lấy nửa tia hy vọng. Lời hứa suông ấy nào xoa dịu được bao nhiêu muộn phiền nơi cô bé. Nhưng rồi, thời gian dần trôi qua cũng làm nguôi ngoai tất cả; dù thi thoảng Cathy vẫn nằng nặc gặng hỏi cha ngày Linton trở lại, thì bóng hình cậu cũng đã mờ nhạt dần trong ký ức của cô, đến độ khi hội ngộ, cô chẳng còn mường tượng nổi dáng vẻ người xưa.

Về phần tôi, mỗi bận có việc tạt ngang làng Gimmerton và tình cờ chạm mặt người quản gia của Đồi Gió Hú, tôi vẫn thường kín đáo dò hỏi cơ sự của cậu chủ nhỏ. Bởi lẽ, cậu sống tách biệt và quạnh hiu chẳng khác nào cô bé Catherine, gần như bặt tăm khỏi thế giới bên ngoài. Từ những lời bà ấy rỉ tai, tôi gom góp được rằng sức khỏe cậu vẫn dặt dẹo ốm yếu, trở thành một sự phiền toái vô cùng cho bất cứ ai phải chung sống dưới cùng một mái nhà. Bà kể nốt, dường như ác cảm ông Heathcliff dành cho thằng bé cứ ngày một tồi tệ hơn, mặc dù ông ta đã phải nhọc công che đậy. Ông ta chán ghét đến cả âm sắc giọng nói của cậu, và hoàn toàn không thể chịu đựng việc chung đụng một căn phòng với thằng bé qua vài phút đồng hồ. Cả hai hiếm hoi lắm mới có lấy một cuộc hàn huyên; Linton giam mình học bài và trải qua những buổi tối trong buồng nhỏ gọi là phòng khách, bằng không thì nằm bẹp trên giường suốt ngày thâu đêm. Bởi cậu chẳng ngừng ho rũ rượi, nhiễm lạnh, đau nhức mình mẩy, phải chịu đựng đủ thứ bệnh vặt.

“Tôi chưa từng chứng kiến một kẻ nào yếu bóng vía đến nhường ấy,” người phụ nữ hậm hực nói thêm; “cũng chưa từng mường tượng ra một kẻ nào lại tự nuông chiều bản thân quá quắt đến thế. Cậu ta chắc chắn sẽ cằn nhằn rát tai, nếu chập tối tôi nấn ná khép cửa sổ muộn màng. Ôi chao! Thật chết người làm sao, cái chút gió sương đêm! Và giữa tiết vãn hạ, cậu ta nằng nặc đòi nhen lò sưởi; cho rằng khói thuốc của lão Joseph là khí độc; rồi phải luôn miệng nhấm nháp thứ kẹo ngọt cùng muôn món sơn hào hải vị, lại lúc nào cũng đòi uống sữa, toàn là sữa-chẳng thèm bận tâm chúng tôi sẽ chết cóng ra sao khi mùa đông gõ cửa. Cậu ta sẽ cuộn tròn trong chiếc áo choàng lông dày cộm, an tọa trên ghế nệm bên lò sưởi, nhấm nháp vài mẩu bánh mì nướng cùng chén nước hay thứ súp loãng nhoét trên mặt bếp. Và nếu Hareton, vì mủi lòng thương, có tạt qua để mua vui chốc lát-Hareton bản tính vốn chẳng tồi tệ gì, tuy có hơi thô bỉ-hai đứa dứt khoát sẽ chia tay trong cảnh một kẻ rủa sả, kẻ kia khóc mếu. Tôi dám cược rằng ông chủ sẽ vô cùng hoan hỉ ngắm Earnshaw tẩn cậu ta nhừ tử, giá như cậu ta không mang giọt máu của ông; và tôi đinh ninh ông ấy sẽ tống cổ cậu ta ra khỏi cửa ngay tắp lự, nếu tường tận dẫu chỉ một nửa cái nết cậu ta tự o bế chính mình. Nhưng trớ trêu thay, cậu ta lại tịt ngòi né tránh mọi hiểm nguy cám dỗ; cậu ta chẳng bao giờ mạo phạm vào buồng khách, và nếu Linton phô bày thói rởm đời ấy ngay trong căn nhà nơi ông ta ở, ông ta ắt hẳn đã tống cổ cậu lên gác tức thì.”

Từ những mẩu chuyện chắp vá này, tôi lờ mờ đoán định rằng sự thiếu hụt trầm trọng một tấm lòng trắc ẩn đã biến cậu bé Heathcliff thành một kẻ vị kỷ và đáng ghét, nếu như bản tính bẩm sinh của cậu không đến nỗi tệ lậu như thế. Nên từ độ ấy, sự đồng cảm tôi dành cho cậu cũng dần vơi cạn; tuy trong lòng tôi vẫn thấy ái ngại cho hoàn cảnh đáng thương của cậu, và không khỏi nuối tiếc giá như cậu được để lại sống cùng chúng tôi. Ông Edgar đã khích lệ tôi dò la thêm tin tức: tôi mường tượng ông đã day dứt muôn phần về cậu bé, và hẳn đã ôm đồm chút hiểm nguy để mong một lần hội ngộ; có dạo, ông sai tôi gặng hỏi người quản gia liệu cậu bé có bao giờ lang thang xuống làng không. Bà ta đáp ráo hoảnh cậu mới đi đặng hai bận, chễm chệ trên lưng ngựa, đi cùng với cha mình; và rồi lần nào cậu cũng vờ vịt như kiệt quệ rã rời suốt ba, bốn ngày trời ròng rã. Người quản gia ấy rốt cuộc cũng cất bước rời đi, nếu trí nhớ tôi không lầm thì vào khoảng hai năm sau ngày cậu bé đặt chân tới; nhường lại vị trí cho một người đàn bà lạ lẫm, kẻ vẫn bám trụ nơi đó cho mãi tận bây giờ.

Thời gian tại ấp Grange cứ thế êm đềm trôi qua cho đến khi cô Cathy tròn mười sáu tuổi. Trong ngày sinh nhật của cô bé, chúng tôi chẳng bao giờ để lộ một chút hân hoan nào, bởi lẽ đó cũng là ngày giỗ của bà chủ quá cố. Trọn ngày hôm ấy, cha cô bé thường tự giam mình trong thư viện; và lúc ráng chiều buông xuống, ông tản bộ một chặng dài đến tận nghĩa trang Gimmerton, nơi ông thường nán lại mải miết cho đến tận quá nửa đêm. Bởi vậy, Catherine đành thui thủi tự bày trò tiêu khiển cho riêng mình. Ngày hai mươi tháng Ba năm ấy là một ngày xuân diệu kỳ. Khi cha đã lui về phòng, cô chủ nhỏ của tôi bước xuống lầu, quần áo tươm tất sẵn sàng ra ngoài. Cô bé nói muốn cùng tôi dạo bước trên rìa đầm lầy: ông Linton đã ưng thuận, miễn là chúng tôi chỉ loanh quanh một chặng ngắn và phải quay về trong vòng một giờ đồng hồ.

“Vậy thì vú đi nhanh lên nào, Ellen!” cô bé reo vang. “Cháu biết mình muốn đi đâu rồi; cái nơi có một đàn chim đầm lầy tụ tập ấy: cháu muốn xem chúng đã làm tổ hay chưa.”

“Chỗ đó hẳn phải cách đây một quãng khá xa trên kia,” tôi đáp lời; “chúng chẳng bao giờ làm tổ ở rìa đầm lầy đâu.”

“Không, không xa đâu,” cô bé nài nỉ. “Cháu đã từng đi theo cha đến rất gần chỗ đó rồi cơ mà.”

Tôi đội mũ lên đầu rồi rảo bước ra ngoài, chẳng chút mảy may bận tâm thêm về chuyện ấy. Cô bé cứ nhảy nhót ríu rít trước mặt tôi, thoắt cái đã nấn ná bên cạnh, rồi lại lao vút đi hệt như một chú chó săn xám non tơ. Thoạt tiên, tôi tận hưởng trọn vẹn niềm hân hoan khi lắng nghe tiếng chim chiền chiện hót vang rộn rã gần xa, đắm mình trong ánh nắng mùa xuân ngọt ngào ấm áp. Tôi ngắm nhìn cô bé, cục cưng và niềm tự hào của tôi, với những lọn tóc vàng óng ánh tung bay trong gió. Đôi má cô bé ửng hồng, mềm mại và thanh khiết rạng ngời như một đóa tầm xuân, còn đôi mắt thì lấp lánh niềm vui trong vắt chẳng gợn chút mây mù. Trong những tháng ngày ấy, cô bé quả là một sinh linh ngập tràn hạnh phúc, một thiên thần nhỏ vô tư lự. Chỉ tiếc thay cô bé lại chẳng thể an phận với những niềm vui bé nhỏ nhường ấy.

“Chà,” tôi lên tiếng, “những con chim đầm lầy của cô ở đâu rồi, cô Cathy? Đáng ra chúng ta phải tới chỗ chúng rồi mới phải: hàng rào công viên Grange giờ đã tụt lại ở một quãng rất xa rồi đấy.”

“Ôi, xa hơn một chút nữa-chỉ một chút xíu nữa thôi, Ellen,” cô bé cứ liên miệng thoái thác. “Vú trèo lên gò đất kia đi, vượt qua bờ đê đó nữa, và khi vú sang tới bờ bên kia, cháu sẽ làm cho lũ chim bay tứ tung lên cho vú xem.”

Nhưng sao mà có quá nhiều gò đất và bờ đê nối tiếp nhau cần phải trèo qua, đến nỗi cuối cùng tôi bắt đầu rã rời đôi chân. Tôi đành bảo cô bé rằng chúng tôi phải dừng lại và quay bước trở về. Tôi cất tiếng gọi lớn, bởi cô bé đã chạy bỏ xa tôi một quãng dài; nhưng cô bé hoặc là chẳng nghe thấy, hoặc là chẳng thèm màng tới, bởi cô bé cứ thế lao vút về phía trước, buộc tôi phải lẽo đẽo bám theo. Rốt cuộc, cô bé lao tót xuống một vùng trũng; và trước khi tôi kịp nhìn thấy cô bé lần nữa, khoảng cách giữa cô và Đồi Gió Hú đã gần hơn tới hai dặm so với chính ngôi nhà của cô. Rồi tôi chợt thấy hai người đàn ông chặn cô bé lại, và tôi dám đinh ninh rằng một trong hai người đó chính là ông Heathcliff.

Cathy đã bị bắt quả tang đang săn trộm1, hoặc ít nhất là lùng sục bới tìm tổ gà gô. Đồi Gió Hú vốn là đất của Heathcliff, và ông ta đang cất lời khiển trách kẻ xâm phạm.

“Cháu chưa hề lấy thứ gì, mà cũng chẳng tìm thấy gì cả,” cô bé phân trần khi tôi mệt nhọc lê bước tới chỗ họ, hai bàn tay mở xòe ra để chứng minh lời nói của mình. “Cháu không định lấy trứng của chúng đâu; chỉ là cha bảo trên này có rất nhiều chim, nên cháu muốn xem thử trứng chim thế nào thôi.”

Heathcliff liếc nhìn tôi bằng một nụ cười thâm hiểm, ngầm cho thấy ông ta đã nhận ra chúng tôi là ai nên mới bộc lộ rõ ác cảm như vậy, rồi ông ta vặn hỏi “cha” là ai.

“Là ông Linton ở Thrushcross Grange ạ,” cô bé đáp. “Cháu nghĩ chú không biết cháu, nếu không chú đã chẳng nói như vậy.”

“Vậy cháu tưởng cha cháu được người ta nể trọng và ngưỡng mộ đến mức đó sao?” ông ta mỉa mai.

“Thế còn chú là ai?” Catherine gặng hỏi, tò mò nhìn chằm chằm vào người đối diện. “Người kia cháu đã gặp rồi. Anh ta có phải là con trai chú không?”

Cô bé chỉ vào Hareton, kẻ đang đứng cạnh, kẻ chẳng có thay đổi gì ngoài vóc dáng to lớn và sức vóc vạm vỡ hơn sau hai năm tuổi đời: anh ta trông vẫn lóng ngóng và thô lỗ như ngày nào.

“Cô Cathy à,” tôi ngắt lời, “chúng ta đã ra ngoài ba tiếng đồng hồ thay vì một tiếng rồi đấy. Ta thực sự phải quay về thôi.”

“Không, gã đó không phải con trai chú,” Heathcliff đáp, gạt phắt tôi sang một bên. “Nhưng chú có một đứa con trai, và cháu cũng từng gặp nó rồi đấy; và, mặc kệ vú nuôi của cháu đang vội, chú nghĩ cả cháu lẫn bà ấy nên nghỉ chân chút ít thì hơn. Cháu có muốn rẽ qua mỏm đất thạch nam kia để ghé vào nhà chú không? Được nghỉ ngơi thoải mái, cháu sẽ về đến nhà sớm hơn thôi; và cháu sẽ được chào đón nồng nhiệt.”

Tôi thì thầm ngăn Catherine, khăng khăng bảo rằng trong bất kỳ tình huống nào cô bé cũng tuyệt đối không được chấp nhận lời đề nghị ấy: chuyện đó là không thể nào.

“Tại sao chứ?” cô bé lớn tiếng hỏi. “Cháu mệt nhoài vì phải chạy bộ rồi, mặt đất thì ướt đẫm sương thế này: cháu không thể ngồi tạm ở đây được. Đi thôi, vú Ellen. Hơn nữa, chú ấy bảo cháu từng gặp con trai chú ấy rồi. Cháu nghĩ chú ấy nhầm, nhưng cháu đoán được chú ấy sống ở đâu: chính là ngôi nhà nông trang mà cháu đã ghé qua khi từ Penistone Crags trở về đấy. Vú đoán được không?”

“Chú biết. Nào, Nelly, ngậm miệng lại đi-sẽ là một vinh hạnh cho con bé khi tạt qua thăm chúng ta. Hareton, đi lên trước cùng cô bé đi. Bà sẽ đi bộ với ta, Nelly.”

“Không, cô bé sẽ không đi tới bất kỳ nơi nào như thế,” tôi hét lên, vùng vẫy rút cánh tay ra khỏi bàn tay đang kẹp chặt của ông ta: nhưng cô bé hầu như đã ở chỗ những bậc đá trước cửa mất rồi, chạy thục mạng quanh mép đồi. Kẻ được chỉ định đi theo hộ tống cô bé thậm chí chẳng buồn giả vờ làm tròn bổn phận: anh ta lảng sang vệ đường rồi biến mất hút.

“Ông Heathcliff, như vậy là rất sai trái,” tôi tiếp lời: “ông thừa biết mình chẳng có ý đồ tốt đẹp gì. Và ở đó cô bé sẽ gặp Linton, rồi mọi chuyện sẽ bị lộ ngay khi chúng tôi trở về; và tôi sẽ là người phải chịu khiển trách.”

“Ta muốn con bé gặp Linton,” ông ta đáp; “vài ngày nay thằng bé có vẻ khá hơn; hiếm khi nó đủ khỏe để gặp gỡ người khác. Và chúng ta sẽ sớm thuyết phục con bé giữ bí mật về chuyến viếng thăm này thôi: thế thì có hại gì chứ?”

“Tác hại ở chỗ, cha cô bé sẽ căm hận tôi nếu ông ấy phát hiện ra tôi đã để con gái ông bước chân vào nhà ông; và tôi dám chắc ông đang ấp ủ một mưu đồ đen tối nào đó khi xúi giục cô bé làm vậy,” tôi đáp trả.

“Mưu đồ của ta vô cùng đường hoàng. Ta sẽ cho bà biết toàn bộ kế hoạch,” ông ta nói. “Ta muốn hai anh em họ nảy sinh tình cảm, rồi kết hôn. Ta đang hành xử vô cùng rộng lượng với ông chủ của bà đấy: đứa con gái ranh con của ông ta vốn không có quyền thừa kế, và nếu nó ngoan ngoãn chiều theo ý ta, nó sẽ lập tức được chu cấp đầy đủ với tư cách là người đồng thừa kế cùng Linton.”

“Nếu Linton qua đời,” tôi vặn lại, “mà mạng sống của cậu ta mỏng manh như ngọn đèn trước gió, thì Catherine sẽ là người thừa kế.”

“Không, chuyện đó sẽ không xảy ra đâu,” ông ta gầm gừ. “Trong di chúc không có điều khoản nào quy định như vậy cả: tài sản của ông ta sẽ thuộc về ta; nhưng, để tránh những vụ tranh chấp lôi thôi, ta muốn chúng kết hôn, và ta quyết tâm sẽ thực hiện bằng được điều đó.”

“Còn tôi quyết tâm sẽ không bao giờ để cô bé bén mảng đến gần nhà ông cùng với tôi một lần nào nữa,” tôi quả quyết, khi chúng tôi vừa đi tới cổng, nơi cô Cathy đang đứng chờ chúng tôi bước đến.

Heathcliff ra hiệu cho tôi im lặng. Trút bỏ vẻ cau có, ông ta đi trước chúng tôi theo lối đi nhỏ rồi nhanh chóng mở cửa. Cô chủ nhỏ liếc nhìn ông ta đôi chút bối rối, dường như chưa biết nên nghĩ thế nào về người đàn ông này. Nhưng khi bắt gặp ánh mắt cô bé, ông ta liền mỉm cười, giọng nói cũng trở nên mềm mỏng hơn. Lúc đó, tôi đã ngu ngốc mường tượng rằng, có lẽ ký ức về người mẹ quá cố của cô bé đã dập tắt khao khát hãm hại đứa trẻ trong lòng ông ta. Linton đang đứng bên bệ lò sưởi. Có vẻ cậu vừa đi dạo ngoài đồng về vì vẫn còn đội mũ, và đang gọi Joseph mang cho đôi giày khô. Cậu bé trông khá cao lớn so với cái tuổi mười sáu hãy còn thiếu vài tháng của mình. Đường nét khuôn mặt cậu vẫn đẹp đẽ, đôi mắt và nước da cũng sáng sủa hơn so với ký ức của tôi, dù cho vẻ rạng rỡ ấy chỉ là vẻ phớt hồng mượn tạm từ khí trời trong trẻo và nắng ấm hiền hòa.

"Thế nào, đó là ai?" ông Heathcliff quay sang hỏi Cathy. "Cháu nhận ra không?"

"Con trai của chú ư?" cô bé cất tiếng sau một hồi hoài nghi nhìn hết người này đến người kia.

"Đúng, đúng," ông ta đáp lời, "nhưng chẳng lẽ đây là lần duy nhất cháu gặp nó sao? Nghĩ lại xem nào! Ái chà, trí nhớ cháu kém thật đấy. Linton, mày không nhớ ra người em họ mà mày từng nằng nặc đòi gặp mặt để rồi quấy rầy cả nhà bấy lâu nay sao?"

"Gì cơ, Linton!" Cathy reo lên, bừng sáng vẻ ngạc nhiên và vui sướng tột độ khi nghe đến cái tên đó. "Linton bé nhỏ đây sao? Cậu ấy cao hơn tớ rồi! Cậu có phải là Linton không?"

Cậu thiếu niên bước tới, nhận mình là Linton. Cô bé vồ vập hôn cậu, cả hai nhìn nhau đầy kinh ngạc trước những đổi thay mà thời gian đã in hằn lên ngoại hình của mỗi người. Catherine giờ đây đã phát triển đến chiều cao tối đa; vóc dáng cô bé vừa đẫy đà lại thanh mảnh, dẻo dai như thép, toát lên sức sống căng tràn cùng tinh thần phấn chấn rạng ngời. Ngược lại, ánh mắt và từng cử động của Linton lại toát ra vẻ ẻo lả, thân hình cậu thì mỏng manh yếu ớt; song, phong thái cậu vẫn có nét duyên dáng vớt vát lại những nhược điểm kia, khiến cậu không đến mức làm người ta chướng mắt. Sau khi trao cho cậu em họ vô vàn những cử chỉ âu yếm, cô bé tiến về phía ông Heathcliff. Nãy giờ ông ta vẫn nán lại bên cửa, vừa đưa mắt quan sát cảnh vật bên ngoài vừa để tâm vào những gì đang diễn ra bên trong.

"Vậy chú là chú của cháu!" cô bé kêu lên, vươn tay ra chào hỏi ông ta. "Cháu biết ngay là cháu quý chú mà, dù lúc đầu chú có hơi gắt gỏng. Sao chú không cùng Linton đến thăm Grange? Hai nhà hàng xóm gần gũi nhau suốt ngần ấy năm trời mà chẳng bao giờ qua lại, thật kỳ quặc. Sao chú lại làm vậy cơ chứ?"

"Chú đã đến thăm nơi đó quá thường xuyên trước khi cháu ra đời rồi," ông ta trả lời. "Kìa-chết tiệt! Nếu cháu có thừa thãi nụ hôn nào thì hãy dành cả cho Linton đi; vứt bỏ lên người ta thật phí phạm."

"Vú Ellen hư đốn!" Catherine thốt lên, lao tới ôm chầm lấy tôi bằng những cái vuốt ve nồng nhiệt. "Vú Ellen độc ác! Dám ngăn cản cháu bước vào đây. Nhưng từ giờ trở đi, sáng nào cháu cũng sẽ đi bộ đến đây. Cháu làm vậy được chứ hả chú? Thỉnh thoảng cháu sẽ đưa cả cha theo nữa. Chú không vui khi gặp chúng cháu sao?"

"Tất nhiên rồi," người chú đáp, khó nhọc kìm nén một cái nhăn mặt xuất phát từ ác cảm sâu sắc đối với cả hai vị khách vừa được đề cập. "Nhưng khoan đã," ông ta tiếp lời, quay sang cô tiểu thư trẻ. "Nhân tiện nhắc đến chuyện này, tốt nhất chú nên nói cho cháu biết. Ông Linton có định kiến rất lớn với chú. Trước đây chúng ta từng cãi vã vô cùng dữ dội; và nếu cháu hé nửa lời với ông ấy về việc đến đây, ông ấy sẽ cấm tiệt cháu qua lại chốn này. Vì vậy, cháu tuyệt đối không được đả động đến chuyện này, trừ phi cháu chẳng thiết tha gì chuyện gặp lại anh họ mình nữa. Cháu có thể đến nếu muốn, nhưng cấm được hé môi."

"Sao chú lại cãi nhau?" Catherine hỏi, giọng khá ỉu xìu.

"Ông ta chê ta quá nghèo để cưới em gái ông ta," Heathcliff trả lời, "và cay cú vì rốt cuộc ta cũng giành được cô ấy. Lòng kiêu hãnh của ông ta đã bị giáng một đòn đau, và ông ta sẽ chẳng bao giờ nuốt trôi nỗi hận đó."

"Thế là sai trái!" quý cô trẻ phẫn nộ: "Một lúc nào đó cháu phải lựa lời nói với cha mới được. Nhưng chuyện người lớn cãi cọ thì đâu liên quan gì đến Linton và cháu. Nếu vậy, cháu sẽ không đến đây nữa; cậu ấy sẽ đến Grange."

"Đường xa quá," cậu em họ lẩm bẩm, "bắt tớ đi bộ bốn dặm thì tớ chết mất. Không, cậu cứ thỉnh thoảng đến đây đi, Catherine; không cần sáng nào cũng đến, một hoặc hai lần một tuần là được."

Người cha phóng về phía cậu con trai một ánh nhìn khinh bỉ cay độc.

"Bà Nelly, ta e rằng ta sẽ phải uổng công vô ích mất thôi,” ông ta lầm bầm với tôi. "Rồi thì 'cô Catherine', như cách cái thằng khờ khạo ấy gọi con bé, sẽ sớm nhận ra giá trị thực sự của nó và đá cổ nó xuống cho quỷ dữ. Giá như đó là Hareton! Bà có biết rằng, mỗi ngày chừng hai chục lần, ta lại ước ao có được Hareton với tất cả sự suy đồi tột cùng của nó không? Ta hẳn đã yêu mến thằng nhóc ấy nếu nó là con kẻ khác. Nhưng ta tin chắc nó đã an toàn khỏi tình yêu của con bé. Ta sẽ mang nó ra làm bàn đạp cho cái sinh vật hèn mọn kia, trừ phi cái thứ sinh vật đó biết điều mà tự mình xốc lại tinh thần. Chúng ta thừa biết cái giống yếu ớt đó khó mà thọ quá mười tám tuổi. Ôi, chết tiệt cái thứ nhạt nhẽo này! Nó cứ mải mê hong khô chân mà chẳng thèm liếc nhìn con bé lấy một cái.-Linton!"

"Vâng, thưa cha," cậu bé đáp lời.

"Mày không có trò gì quanh đây để khoe với em họ mày sao, dù chỉ là một con thỏ hay cái hang chồn? Đưa con bé ra vườn chơi đi, trước khi mày kịp thay giày; rồi dắt nó ra chuồng ngựa xem ngựa của mày nữa."

"Cậu không thích ngồi đây hơn sao?" Linton hỏi Cathy, giọng điệu lộ rõ vẻ lười biếng, chẳng buồn nhúc nhích.

"Tớ không biết nữa," cô bé đáp, đôi mắt khao khát liếc ra ngoài cửa, rõ ràng là đang cuồng chân muốn chạy nhảy.

Cậu vẫn ngồi lỳ tại chỗ, thu mình lại gần ngọn lửa sưởi ấm hơn. Heathcliff bèn đứng dậy đi vào bếp, rồi từ đó bước ra sân và gọi to Hareton. Hareton đáp lời, và ngay lập tức hai người bước vào. Chàng thanh niên hiển nhiên là vừa mới tắm rửa xong, bởi hai gò má anh ta hãy còn ửng hồng và mái tóc thì vẫn còn ướt sũng.

"Ôi, cháu phải hỏi chú mới được, chú ơi," cô Cathy reo lên, chợt nhớ lại lời khẳng định của tôi trước đó. "Đó không phải là anh họ của cháu đâu, đúng không chú?"

"Đúng," ông ta đáp, "cháu trai của mẹ cháu đấy. Cháu không thích nó sao?"

Vẻ mặt Catherine thoáng chút kỳ quặc.

"Nó không phải là một cậu bé đẹp trai sao?" ông ta tiếp tục hỏi.

Con bé xấc xược ấy nhón chân lên, thì thầm vào tai Heathcliff một câu. Ông ta phá lên cười; nét mặt Hareton lập tức tối sầm lại. Tôi nhận thấy anh ta cực kỳ nhạy cảm trước những sự coi thường và hiển nhiên là lờ mờ ý thức được sự thấp kém của bản thân. Nhưng người chủ, hay nói đúng hơn là người giám hộ của anh ta, đã nhanh chóng xua tan cái cau mày ấy bằng cách thốt lên-

"Mày sẽ là nhân vật được cưng chiều nhất ở đây đấy, Hareton! Con bé nói mày là một-Gì cơ nhỉ? Chà, một lời khen rất bùi tai. Đây! Mày hãy đi dạo quanh nông trang cùng con bé. Và nhớ cư xử cho ra dáng một quý ông đấy! Không được nói bậy bạ; đừng có nhìn chằm chằm lúc quý cô trẻ không để ý đến mày, và phải biết giấu mặt đi khi cô ấy nhìn mày; còn khi mở miệng, hãy lựa lời mà nói cho rành rọt, và bỏ hai tay ra khỏi túi áo đi. Đi đi, và cố mà phục vụ cô bé cho chu đáo vào."

Ông ta dõi mắt theo cặp đôi đang lướt qua khung cửa sổ. Earnshaw đã hoàn toàn ngoảnh mặt đi, lẩn tránh ánh nhìn của người bạn đồng hành. Anh ta giả vờ ngắm nghía khung cảnh quen thuộc với sự chăm chú của một kẻ vãng lai hay một nghệ sĩ. Catherine lén lút liếc anh ta một cái, thoáng chút ngưỡng mộ nhỏ nhoi. Rồi cô bé lại quay sang tự tìm thú vui cho riêng mình, vừa bước đi tung tăng vừa ngân nga một điệu nhạc để bù đắp cho bầu không khí tĩnh lặng.

"Ta đã trói chặt lưỡi nó lại rồi," Heathcliff quan sát. "Nó sẽ chẳng dám hé răng nửa lời trong suốt quãng thời gian đó đâu! Bà Nelly, bà có nhớ ta ở độ tuổi của nó không-không, hồi ta trẻ hơn vài tuổi ấy. Ta đã bao giờ trông đần độn như vậy chưa: 'lù đù' như cách lão Joseph hay gọi chưa?"

"Còn tệ hơn thế," tôi đáp, "bởi vì ông còn ủ rũ hơn nhiều."

"Ta tìm thấy một niềm vui thú nơi nó," ông ta tiếp tục, nghĩ ngợi thành tiếng. "Nó đã làm thỏa mãn mọi kỳ vọng của ta. Nếu nó bẩm sinh đã là một thằng ngu thì sự khoái trá của ta đã giảm đi một nửa. Nhưng nó không hề ngu ngốc; và ta hoàn toàn thấu hiểu mọi cảm xúc của nó, bởi chính bản thân ta đã từng nếm trải. Ví dụ như, ta biết chính xác những gì nó đang phải chịu đựng lúc này: tuy nhiên, đó chỉ mới là sự khởi đầu cho những tấn bi kịch đang chờ đợi nó. Nó sẽ vĩnh viễn không thể thoát khỏi vực sâu của sự thô bỉ và dốt nát. Ta đã trói buộc nó chặt chẽ hơn cả cách thằng cha khốn khiếp của nó từng trói buộc ta, và đẩy nó xuống mức thấp kém hơn; bởi vì giờ đây nó tự hào về cái bản tính súc vật của mình. Ta đã nhồi sọ nó rằng, phải biết khinh rẻ mọi thứ xa rời thú tính, coi đó là sự yếu hèn và xuẩn ngốc. Bà không nghĩ Hindley sẽ nở mũi tự hào về con trai mình, nếu hắn có thể tận mắt chứng kiến nó sao? Hẳn là tự hào ngang ngửa với cảm giác của ta dành cho con trai ta vậy. Nhưng có một điểm khác biệt: một kẻ là vàng ròng bị đem lát đường, còn kẻ kia chỉ là thứ thiếc rẻ tiền được đánh bóng giả làm đồ bạc. Đứa con của ta vốn dĩ chẳng có lấy một giá trị gì; thế nhưng, ta sẽ cất công đôn đốc nó tiến xa nhất có thể trong giới hạn của một thứ rác rưởi kém cỏi. Ngược lại, con của hắn vốn sở hữu những phẩm chất tuyệt vời nhưng giờ đã thui chột hoàn toàn, biến thành một thứ còn tệ hơn cả đồ bỏ đi. Ta chẳng có gì phải hối tiếc; hắn mới là kẻ có nhiều điều phải nuối tiếc hơn mức mà bất cứ ai có thể nhận ra, ngoại trừ ta. Nhưng điều tuyệt vời nhất là gì bà biết không? Thằng Hareton lại chết mê chết mệt ta! Bà phải công nhận là ta đã qua mặt Hindley ở điểm này. Giờ mà cái gã ác ôn dưới mồ kia có đội mồ sống dậy để chửi rủa ta vì đã đày đọa con hắn, ta sẽ được tận hưởng cái thú vui nhìn chính đứa con ấy đánh trả lại cha nó, phẫn nộ tột độ vì hắn dám lăng mạ người bạn duy nhất mà nó có trên cõi đời này!"

Heathcliff bật ra một tiếng cười khúc khích độc ác trước ý nghĩ điên rồ ấy. Tôi lặng thinh, bởi tôi thừa biết ông ta cũng chẳng mong đợi một lời hồi đáp. Trong khi đó, người bạn đồng hành nhỏ tuổi của chúng tôi, do ngồi cách quá xa nên không thể nghe được câu chuyện, bắt đầu bộc lộ sự bứt rứt không yên. Có lẽ cậu đang hối hận vì đã tự đánh mất niềm vui được dạo chơi cùng Catherine chỉ vì e ngại chút mệt nhọc. Cha cậu lập tức để ý thấy những cái liếc nhìn bồn chồn phóng ra ngoài cửa sổ, cùng bàn tay rụt rè lần mò về phía chiếc mũ.

"Đứng dậy, cái thằng nhóc lười biếng này!" ông ta kêu lên, ra vẻ nhiệt tình giả tạo. "Chạy theo chúng đi! Bọn nó mới loanh quanh ngay góc đằng kia, cạnh dãy tổ ong thôi."

Linton ráng thu thập chút sức lực tàn tạ, rời khỏi bệ lò sưởi. Cửa sổ đang mở toang, nên khi cậu vừa bước ra ngoài, tôi đã nghe thấy Cathy đang gặng hỏi người bạn đồng hành khó gần về dòng chữ khắc trên ngưỡng cửa kia có ý nghĩa gì. Hareton ngước nhìn chằm chằm lên trên, rồi gãi đầu gãi tai hệt như một gã hề thực thụ.

"Đó là vài dòng chữ viết chết tiệt," anh ta đáp lời. "Tôi không biết đọc."

"Không biết đọc sao?" Catherine thét lên; "Tôi thì đọc được đấy: toàn là tiếng Anh. Nhưng tôi muốn biết tại sao nó lại được khắc ở đó cơ."

Linton cười rúc rích: lần đầu tiên cậu bộc lộ sự vui vẻ rõ rệt đến thế.

"Anh ta có biết chữ đâu," cậu nói với em họ. "Cậu có tin nổi trên đời lại tồn tại một gã to xác đần độn đến vậy không?"

"Anh ta có được phát triển bình thường không vậy?" cô Cathy nghiêm túc hỏi; "hay là bị chậm chạp, có vấn đề về đầu óc? Tôi hỏi anh ta đến hai lần rồi, mà lần nào trông anh ta cũng ngốc nghếch đến mức tôi tự nhủ chắc anh ta chẳng hiểu tôi nói gì. Tôi gần như không thể hiểu nổi anh ta, tôi dám chắc như vậy!"

Linton lại bật cười, chế nhạo liếc nhìn Hareton; kẻ rõ ràng là chẳng hề minh mẫn về mặt nhận thức vào khoảnh khắc đó.

"Chẳng có vấn đề gì ngoài bệnh lười biếng cả; đúng không, Earnshaw?" cậu mỉa mai. "Em họ tôi tưởng anh là một thằng ngốc đấy. Đó, anh đã nếm trải hậu quả của việc khinh miệt 'học hành qua sách vở,' như cách anh vẫn hay nói chưa. Cậu có để ý không, Catherine, cái giọng Yorkshire2 nhà quê của anh ta kinh khủng thật đấy chứ?"

"Thế, cái tác dụng chết tiệt ở mấy lời đó là gì?" Hareton gầm gừ, sẵn sàng đáp trả người bạn đồng hành hàng ngày của mình hơn. Anh ta còn định vặn vẹo thêm, nhưng hai đứa trẻ đã phá lên cười ầm ĩ. Cô tiểu thư bồng bột của tôi cực kỳ khoái trá khi khám phá ra rằng mình có thể lôi cái cách nói chuyện kỳ quặc của anh ta ra làm trò tiêu khiển.

"Thế cái từ chết tiệt trong câu đó có tác dụng gì vậy?" Linton cười khúc khích. "Cha đã cấm anh không được nói bậy cơ mà, thế mà anh cứ mở miệng ra là lại văng tục. Làm ơn hãy cố mà cư xử cho ra dáng một quý ông đi!"

"Nếu mày không ẻo lả như một con nhãi ranh, tao đã đốn ngã mày ngay tắp lự rồi, tao sẽ làm thế đấy; cái đồ phế vật thảm hại!" gã thô lỗ đang sôi máu vặn lại. Gã lùi lại một bước, khuôn mặt đỏ lựng lên vì giận dữ pha lẫn tủi nhục; gã ý thức rõ mình đang bị sỉ nhục, nhưng lại lúng túng chẳng biết phải phản kháng lại thế nào.

Do tình cờ nghe được toàn bộ cuộc trò chuyện giống như tôi, ông Heathcliff cũng mỉm cười khi thấy gã bỏ đi. Thế nhưng ngay sau đó, ông ta lại phóng một ánh nhìn ác cảm dị thường về phía cặp đôi đang cợt nhả, ríu rít bên bậu cửa: thằng bé tìm thấy niềm vui sướng hả hê khi đem những khuyết điểm và sự ngu dốt của Hareton ra mổ xẻ, cùng với việc kể lể những câu chuyện phiếm về hành động của gã; còn cô bé thì tỏ ra vô cùng thích thú trước những lời lẽ xấc xược và cay độc của cậu em họ, mà chẳng hề mảy may nhận ra bản chất tồi tệ ẩn chứa bên trong. Bất giác, tôi bắt đầu cảm thấy ác cảm với Linton hơn là thương hại, và phần nào đó, tôi thầm đồng tình với thái độ khinh khi mà cha cậu đã dành cho cậu.

Chúng tôi nán lại mãi cho đến tận xế chiều. Dù cố gắng thế nào, tôi cũng không tài nào lôi được cô Cathy về sớm hơn. May mắn thay, ông chủ vẫn chưa rời khỏi phòng nên hoàn toàn không hay biết gì về sự vắng mặt lén lút và dai dẳng của chúng tôi. Dọc đường đi bộ về nhà, tôi vô cùng khao khát được vạch trần bản chất thực sự của những kẻ chúng tôi vừa từ biệt, để cô tiểu thư mà mình hằng chăm bẵm được tường tận. Thế nhưng, cô bé đã đinh ninh trong đầu rằng tôi đang ôm lòng thành kiến sâu sắc với bọn họ.

“Aha!” cô bé reo lên, “vú hùa theo phe cha phải không, Ellen! Vú đang thiên vị, cháu biết tỏng mà. Nếu không, vú đã chẳng lừa gạt cháu suốt bấy nhiêu năm trời để cháu cứ ngỡ rằng Linton đang sống ở một nơi xa xôi tít tắp. Cháu thực sự tức giận lắm đấy; chỉ là cháu đang quá đỗi vui mừng nên không nỡ bộc phát ra thôi! Nhưng vú phải cấm khẩu ngay khi nói về chú của cháu đi nhé; chú ấy là chú của cháu, hãy nhớ cho kĩ; và cháu sẽ phải chất vấn cha một trận ra trò vì sao lại dám cãi vã với chú ấy.”

Thế rồi, cô bé cứ nhảy chân sáo liên hồi, phớt lờ mọi lời can ngăn cho đến khi tôi đành bỏ cuộc, chẳng buồn thuyết phục cô nhận ra sai lầm của bản thân nữa. Tối hôm đó, cô bé không hề đả động gì đến chuyến viếng thăm bí mật, một phần cũng vì chưa chạm mặt ông Linton. Buồn thay, ngay ngày hôm sau mọi chuyện đã vỡ lở trước sự chán nản tột độ của tôi. Song, ngẫm lại tôi cũng không thấy hối tiếc hoàn toàn: tôi trộm nghĩ rằng, cái gánh nặng uốn nắn và cảnh tỉnh cô con gái cưng này để ông ấy tự tay lo liệu ắt hẳn sẽ hiệu quả hơn tôi nhiều. Khốn nỗi, ông lại quá sức dè dặt khi phải đưa ra những lý do đủ sức nặng nhằm ngăn cấm cô bé duy trì mối thâm giao với gia đình ở Đồi Gió Hú. Trong khi đó, Catherine lại luôn đòi hỏi những lời giải thích thật thỏa đáng cho bất kỳ sự kìm kẹp nào dám cản trở cái ý chí ngông cuồng vô lối vốn đã được dung túng quá đà của mình.

“Cha ơi!” cô bé thốt lên ngay sau câu chào buổi sáng, “đoán xem hôm qua con đã bắt gặp ai trong lúc dạo chơi trên đầm lầy nào? Á à, cha giật mình rồi nhé! Cha giấu con là không đúng đâu, phải không nào? Con đã tận mắt thấy-nhưng cha cứ nghe đây, rồi cha sẽ biết làm thế nào con lại vạch trần được bí mật của cha. Cả Ellen nữa, kẻ đồng lõa tòng phạm với cha, thế mà dám giả vờ xót xa cho con nhường ấy mỗi khi con ôm ấp hy vọng rồi lại não nề thất vọng ngóng chờ Linton trở về!”

Cô bé tuôn ra một tràng tường thuật rành rọt về chuyến du ngoạn lén lút cùng mọi hệ lụy kéo theo sau đó. Dù ông chủ liên tục phóng về phía tôi những ánh nhìn hằn học đầy trách móc, ông vẫn lặng thinh không buông một lời cho tới khi cô bé nói dứt câu. Rồi ông nhẹ nhàng kéo con gái lại gần, gặng hỏi xem liệu cô bé có thấu hiểu vì cớ gì ông phải nhọc công che giấu cái sự thật rằng Linton đang sống cách đây chẳng bao xa hay không? Liệu cô bé có oán trách cho rằng ông làm vậy chỉ để tước đoạt đi một niềm vui vô hại mà lẽ ra cô hoàn toàn có quyền tận hưởng?

“Là vì cha vốn có ưa gì chú Heathcliff đâu,” cô bé đáp gọn lỏn.

“Vậy con thực sự tin rằng cha chỉ biết nghĩ cho cảm xúc cá nhân mình thay vì lo lắng cho con sao, Cathy?” ông nghẹn ngào thốt lên. “Không, chẳng phải vì cha ghét bỏ chú Heathcliff, mà sự thật là chính chú ấy mới căm hận cha. Gã là một ác quỷ nhẫn tâm bậc nhất, kẻ luôn hả hê tột độ khi được giày vò và hủy hoại bất cứ ai mà gã chán ghét, chỉ cần người ta hớ hênh ban cho gã một cơ hội nhỏ nhoi nhất. Cha thừa biết rằng con chẳng thể nào duy trì tình thâm giao với anh họ của mình mà tránh khỏi nanh vuốt của gã; và cha cũng rõ gã sẽ trút mọi oán hờn lên đầu con chỉ để hả hê trả thù cha. Chính vì lẽ đó, vì sự an nguy của bản thân con chứ chẳng vì một tư lợi nào khác, cha đã buộc lòng phải cắt đứt mọi cơ hội để con gặp lại Linton. Đáng lẽ ra cha định sẽ giãi bày ngọn ngành mọi chuyện khi con đủ khôn lớn, và cha ngàn vạn lần ân hận vì đã chần chừ cất giấu bí mật này quá lâu.”

“Nhưng chú Heathcliff cư xử rất đỗi chân thành kia mà, thưa cha,” Catherine cãi lại, chẳng mảy may bị thuyết phục chút nào; “và chính chú ấy đã không hề ngăn cấm chúng con gặp gỡ. Chú ấy còn dặn con cứ thoải mái sang chơi bất cứ khi nào con muốn; có điều con không được tiết lộ cho cha hay biết, bởi lẽ cha đã từ mặt chú ấy, và sẽ vĩnh viễn chẳng đời nào tha thứ cho chú ấy vì đã kết hôn với dì Isabella. Và quả thực cha thù dai như vậy đấy. Cha mới chính là người đáng bị oán trách: ít ra thì chú ấy còn rộng lượng muốn vun vén cho chúng con được làm bạn với nhau; Linton và con; còn cha thì tuyệt nhiên cấm đoán.”

Ông chủ của tôi, nhận ra con gái nhất quyết không chịu tin vào những lời nói của mình về tâm địa tàn độc của gã anh rể, bèn đành lòng kể sơ qua về cái cách gã hành hạ Isabella, cùng mưu hèn kế bẩn mà gã bày ra để tước đoạt Đồi Gió Hú làm của riêng. Ông chẳng thể nào chịu đựng nổi việc phải đào xới quá sâu vào chủ đề khó chịu ấy; bởi lẽ, dù bề ngoài có kín tiếng đến đâu, trong thâm tâm ông vẫn luôn mang một nỗi e dè và sự căm hận tột độ dành cho kẻ thù truyền kiếp, thứ cảm xúc đã giày vò ông kể từ ngày bà Linton qua đời. “Biết đâu cô ấy vẫn còn sống cho tới tận bây giờ, nếu không vì sự xuất hiện oan nghiệt của hắn!” - đó là niềm oán than đắng cay khôn nguôi luôn giày vò tâm trí ông. Và, dưới con mắt của Edgar, Heathcliff chẳng khác nào một tên đao phủ máu lạnh. Cô Cathy bé bỏng - vốn chỉ quen với những lỗi lầm cỏn con như thói ngang ngạnh cãi lời, những hờn dỗi bất công xốc nổi xuất phát từ bản tính bốc đồng thiếu suy nghĩ, và thường thì cô bé đều mau chóng hối lỗi ngay trong ngày - nay bỗng rùng mình kinh hãi trước cái vực thẳm tăm tối của một tâm hồn có thể ấp ủ và che đậy dã tâm trả thù suốt bao năm ròng rã, rắp tâm theo đuổi đến cùng những mưu đồ thâm độc mà chẳng mảy may rung động xót xa hay gợn chút hối hận. Cô bé có vẻ bàng hoàng, sửng sốt trước một khía cạnh tàn nhẫn của bản tính con người - một điều vốn luôn nằm ngoài tầm hiểu biết của cô từ thuở bé tới giờ - sự bàng hoàng ấy lớn đến mức ông Edgar cảm thấy không cần thiết phải nói thêm về chủ đề này nữa. Ông chỉ khẽ khàng vỗ về: “Sau này rồi con sẽ tự khắc thấu hiểu, con yêu ạ, căn nguyên vì đâu cha lại muốn con tránh xa cái chốn tà ác và cả dòng họ nhà gã. Còn bây giờ, hãy cứ quay lại với bài vở và những thú vui thường nhật của con đi, và đừng bận tâm suy nghĩ về những chuyện ấy thêm một giây phút nào nữa.”

Catherine ngoan ngoãn đặt một nụ hôn lên má cha, rồi lặng lẽ ngồi xuống làm bài tập suốt vài giờ đồng hồ như thường lệ. Chiều đến, cô bé lại cùng ông dạo bước trong khuôn viên, và cả ngày hôm ấy dường như đã trôi đi trong sự êm đềm quen thuộc. Thế nhưng, đến tận sẩm tối, khi cô bé đã lui về phòng riêng nghỉ ngơi và tôi bước vào để phụ giúp thay đồ, tôi kinh ngạc phát hiện ra cô bé đang quỳ gập người bên mép giường, thút thít khóc.

“Thật đáng xấu hổ, cái đứa trẻ ngốc nghếch này!” tôi buột miệng cằn nhằn. “Giả như cô mà từng nếm trải một nỗi bi kịch thực thụ ở đời, cô hẳn sẽ phải tự thấy xấu hổ vì dám lãng phí từng giọt nước mắt quý giá cho cái sự trái ngang vớ vẩn này. Cô vốn dĩ chưa bao giờ phải chịu đựng dù chỉ là cái bóng mờ của một nỗi đau xé lòng đâu, cô Catherine ạ. Cứ thử tưởng tượng dù chỉ một khắc thôi, rằng cả ông chủ và tôi đều đã vĩnh viễn nằm xuống dưới nấm mồ, bỏ lại cô bơ vơ một mình trên cõi đời này: lúc đó cô sẽ cảm thấy ra sao? Cứ thử đem hoàn cảnh bây giờ ra so bì với một nỗi thống khổ tột cùng nhường ấy mà xem, và học cách biết ơn vì vẫn còn những người thân yêu ở bên cạnh, thay vì cứ mãi khao khát đòi hỏi nhiều hơn.”

“Cháu đâu có khóc cho bản thân mình đâu, Ellen,” cô bé nghẹn ngào đáp, “đó là vì anh ấy. Anh ấy cứ ngóng trông mỏi mòn được gặp lại cháu vào ngày mai, và anh ấy sẽ phải thất vọng não nề biết bao: anh ấy cứ mòn mỏi ngóng chờ, thế mà cháu lại tuyệt nhiên chẳng đến!”

“Thật lố bịch!” tôi gắt gỏng, “cô ảo tưởng rằng cậu ta cũng ngày đêm tơ tưởng đến cô nhiều như cô đang nhớ nhung cậu ta cơ đấy? Chẳng phải cậu ta đã có tên Hareton thô lỗ kia làm bầu bạn rồi sao? Giữa một trăm người thì họa hoằn lắm mới có một kẻ dở hơi đi khóc lóc ỉ ôi chỉ vì đánh mất một người họ hàng mà mình mới chỉ gặp gỡ lướt qua vẻn vẹn có hai lần trong hai buổi chiều chớp nhoáng. Linton ắt sẽ tự nhẩm tính hiểu ra cớ sự, rồi sẽ sớm tống khứ hình bóng cô ra khỏi tâm trí mà chẳng buồn bận tâm thêm đâu.”

“Thế cháu không thể lén viết một bức thư ngắn xíu xiu để thanh minh cho anh ấy hiểu vì sao cháu không thể đến được ư?” cô bé nài nỉ, lồm cồm đứng dậy. “Và chỉ gửi kèm theo mấy cuốn sách mà cháu đã lỡ hứa cho anh ấy mượn thôi? Sách của anh ấy chẳng hay bằng sách của cháu đâu, và anh ấy thực sự khao khát có được chúng lắm, nhất là khi cháu đã ba hoa kể lể chúng thú vị ra sao. Cháu chỉ xin một lần này thôi không được sao, Ellen?”

“Không, tuyệt đối không! Hàng ngàn lần không!” tôi quả quyết gạt phắt đi. “Sau đó rồi cậu ta lại viết thư hồi âm cho cô, và cái vòng luẩn quẩn đó sẽ bấu víu lấy nhau đến bao giờ mới chịu dứt. Không, cô Catherine ạ, mối họa quen biết này bắt buộc phải bị bóp nghẹt từ trong trứng nước: cha cô đã căn dặn như vậy, và tôi sẽ đích thân giám sát cho đến khi mệnh lệnh đó được thực thi trọn vẹn.”

“Nhưng chỉ một mẩu thư ngắn xíu xiu thì có hề hấn gì đâu cơ chứ-?” cô bé lại bắt đầu ỉ ôi, trưng ra cái bộ mặt van nài đáng thương nhất.

“Cấm khẩu ngay!” tôi chặn họng. “Sẽ không có cái thư từ ngắn dài nào được phép bắt đầu hết. Lên giường ngủ đi.”

Cô bé phóng về phía tôi một ánh nhìn xấc xược đến độ ranh mãnh, hư đốn đến mức thoạt tiên tôi dứt khoát tước luôn nụ hôn chúc ngủ ngon thường lệ. Tôi vùng vằng đắp chăn cho cô ả, rồi lạnh lùng đóng sầm cửa phòng lại, lồng ngực hãy còn tức anh ách vì phật ý. Thế nhưng, khi vừa bước đi được nửa đoạn hành lang, cơn hối hận chợt trào dâng khiến tôi lẳng lặng rón rén quay lại. Và kìa! Tiểu thư danh giá của tôi đang đứng chễm chệ bên bàn học với một tờ giấy trắng tinh trước mặt, tay khư khư nắm chặt cây bút chì, thứ mà cô bé đã vội vàng giấu nhẹm đi đầy vẻ tội lỗi ngay khi phát hiện tôi bước vào.

“Có giỏi thì viết đi, rồi cô cũng sẽ chẳng nhờ vả được một mống nào mang cái thứ rác rưởi đó đi đâu, Catherine ạ,” tôi buông lời mỉa mai, “và bây giờ thì tôi sẽ dập tắt luôn ngọn nến của cô.”

Tôi vừa chụp cái nón dập nến lên ngọn lửa, thì lập tức lĩnh trọn một cái tát điếng người vào mu bàn tay, kèm theo một tiếng rít dỗi hờn: “Đồ bà già cáu kỉnh!”. Tôi lại một lần nữa bỏ mặc cô ả, và cô bé hùng hổ kéo rầm chốt cửa lại trong một cơn thịnh nộ bực dọc và gắt gỏng nhất từ trước tới nay. Bức thư khốn kiếp ấy cuối cùng cũng được hoàn thành và lén lút tuồn đến đích nhờ tay một kẻ giao sữa từ dưới làng; nhưng mãi tới tận một thời gian dài sau này tôi mới vỡ lẽ ra sự thật chua chát ấy. Nhiều tuần trôi qua, Cathy bề ngoài dường như đã lấy lại được sự ngoan ngoãn và tính khí ôn hòa thường nhật. Tuy vậy, cô bé dần dà nảy sinh cái thú vui kỳ quặc là thường xuyên lẻn lút nấp mình vào những góc phòng khuất nẻo để được ở một mình. Và vô số bận, hễ tôi bất thình lình ập đến gần trong lúc cô bé đang mải miết đọc sách, cô bé lại giật nảy mình hoảng hốt rồi cúi rạp người úp chặt lên mặt giấy, rành rành là đang cuống cuồng tìm cách che đậy một thứ gì đó ám muội. Hơn thế nữa, tôi còn tinh ý phát hiện ra những mép giấy rời rạc, xa lạ lòi ra khỏi những trang sách vốn dĩ quen thuộc. Cô bé còn duy trì một thói quen mới là lén lút mò xuống lầu từ tinh mơ mờ sáng, cứ lảng vảng quanh quẩn mãi trong bếp như thể đang khắc khoải ngóng chờ một bóng hình hay vật gì đó xuất hiện. Bất thường thay, cô bé còn chiếm dụng một ngăn kéo nhỏ xíu trong chiếc tủ gỗ sồi ở thư viện, nơi cô thường xuyên lúi húi mân mê suốt hàng giờ đồng hồ chẳng biết chán, và luôn cẩn trọng một cách đáng ngờ để tự tay rút chiếc chìa khóa mang theo bên mình mỗi khi rời đi.

Một ngày nọ, khi cô bé lục lọi ngăn kéo, tôi để ý thấy những món đồ chơi và nữ trang rẻ tiền vốn chất đầy trong đó gần đây đã được thay thế bằng những mảnh giấy gấp nhỏ. Trí tò mò và lòng hoài nghi trong tôi trỗi dậy; tôi quyết tâm phải ngó xem những kho báu bí ẩn của cô bé. Vì vậy, vào ban đêm, khi Cathy và ông chủ đã yên vị trên lầu, tôi bèn lục tìm và dễ dàng thấy được trong chùm chìa khóa nhà một chiếc vừa vặn với ổ khóa. Mở được ngăn kéo, tôi trút sạch mọi thứ bên trong vào tạp dề và mang về phòng riêng để thong thả xem xét. Mặc dù đã lờ mờ đoán trước, tôi vẫn không khỏi kinh ngạc khi phát hiện ra đó là một đống thư từ khổng lồ-gần như được gửi hàng ngày, chắc chắn là vậy-từ Linton Heathcliff, nhằm hồi đáp những dòng thư được chuyển đi từ cô bé. Những bức thư ghi ngày tháng sớm hơn có vẻ gượng gạo và ngắn ngủn; song, dần dà, chúng hóa thành những bức thư tình dài thê lê và ngốc nghếch, một điều âu cũng dễ hiểu so với lứa tuổi của người viết, dẫu vẫn rải rác vài ý tứ mà tôi tin chắc là được mượn từ một kẻ lõi đời hơn. Vài bức trong số đó khiến tôi ngỡ ngàng bởi sự pha trộn kỳ quái giữa nhiệt huyết sục sôi và sự tẻ nhạt đến khó chịu; chúng mở đầu bằng những cảm xúc mãnh liệt, rồi lại kết thúc bằng lối văn phong rườm rà, điệu đà mà một cậu nam sinh thường dùng để gởi gắm cho một nhân tình tưởng tượng, vô hình. Chẳng rõ chúng có làm Cathy thỏa mãn hay không, nhưng với tôi, mớ rác rưởi ấy thật sự vô giá trị. Sau khi lật đi lật lại đủ lượng thư cần thiết, tôi bọc chúng vào một chiếc khăn tay rồi cất sang một bên, khóa lại chiếc ngăn kéo trống không.

Đúng như thói quen, cô chủ nhỏ của tôi thức dậy sớm và ghé xuống bếp. Tôi dõi mắt bám theo cô tới tận cửa, ngay khi gã đưa tin vừa ló dạng. Trong lúc cô hầu gái đang rót đầy bình sữa cho gã, cô bé liền nhét vội một thứ gì đó vào túi áo khoác của gã, rồi lại rút ra một thứ khác. Tôi đi vòng ra khu vườn, nằm phục kích kẻ đưa tin. Gã chống cự quyết liệt để bảo vệ món đồ được ủy thác, đến mức cả hai chúng tôi làm đổ tung tóe bình sữa; nhưng cuối cùng tôi cũng giật được bức thư. Bằng cách đe dọa những hậu quả thảm khốc nếu gã không liệu hồn cút ngay về nhà, tôi đứng nép mình dưới bức tường và đọc kỹ tác phẩm đong đầy tình yêu của cô Cathy. Nó mộc mạc và giàu cảm xúc hơn hẳn thư của cậu em họ: thật đáng yêu mà cũng thật ngốc nghếch. Tôi lắc đầu, vừa đi vừa trầm ngâm bước vào nhà. Ngày hôm ấy trời ẩm ướt, cô bé không thể dạo chơi quanh công viên như mọi bận; vì thế, ngay khi buổi học sáng kết thúc, cô liền tìm đến ngăn kéo để kiếm chút niềm vui. Cha cô đang ngồi đọc sách bên bàn, còn tôi thì giả vờ chú tâm khâu vá vài đường viền rèm cửa, giữ cho ánh mắt dán chặt vào từng nhất cử nhất động của cô bé. Chưa từng có con chim nào bay về tổ ấm đã bị cướp sạch, nơi nó từng bỏ lại bầy chim non đang kêu chiếp chiếp, lại bộc lộ sự tuyệt vọng cùng cực bằng những tiếng kêu gào và đập cánh thống thiết, so với tiếng "Ôi!" duy nhất thốt ra từ miệng cô bé cùng vẻ mặt biến sắc, quét sạch nét hân hoan ban nãy. Ông Linton ngước nhìn lên.

"Có chuyện gì vậy, con yêu? Con có làm mình bị thương không?" ông hỏi.

Giọng điệu và ánh mắt của ông như ngầm đoan chắc với cô bé rằng ông không phải là kẻ đã phát hiện ra kho báu ấy.

"Không, thưa cha!" cô bé thở hổn hển. "Ellen! Ellen! Lên lầu với cháu-cháu bị ốm!"

Tôi tuân lệnh triệu tập, theo chân cô bé bước ra ngoài.

"Ôi, Ellen! Vú đã lấy chúng," cô bé lập tức mở lời, quỳ sụp xuống ngay khi chỉ còn lại hai chúng tôi. "Ôi, trả chúng lại cho cháu đi, và cháu sẽ không bao giờ, không bao giờ làm thế nữa! Đừng nói với cha. Vú chưa nói với cha, Ellen? Hãy nói là vú chưa đi? Cháu đã cực kỳ hư đốn, nhưng cháu sẽ không làm thế nữa đâu!"

Với vẻ nghiêm khắc lạnh lùng, tôi bảo cô bé đứng lên.

"Vậy," tôi lên tiếng, "cô Catherine, có vẻ cô đã đi khá xa rồi đấy: cô hoàn toàn có thể cảm thấy xấu hổ vì chúng! Quả là một mớ rác rưởi tốt đẹp để cô nghiên cứu vào những lúc rảnh rỗi, chắc chắn rồi: chà, nó đủ tốt để đem đi in đấy chứ! Và cô nghĩ chủ nhân sẽ phản ứng ra sao khi vú phơi bày mớ này trước mặt ông ấy? Vú chưa cho ông ấy xem đâu, nhưng cô đừng hòng tưởng rằng vú sẽ giữ kín những bí mật nực cười của cô. Thật đáng xấu hổ! Và hẳn cô phải là người đầu têu ra những trò vô nghĩa này: vú dám chắc cậu ta sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến việc khơi mào đâu."

"Cháu đã không làm thế! Cháu đã không làm thế!" Cathy nức nở, vặn vẹo như thể trái tim mình đang tan nát. "Cháu chưa bao giờ nghĩ đến chuyện yêu anh ấy cho đến khi-"

"Yêu!" tôi thét lên, ném vào từ đó tất thảy sự khinh miệt mà mình có. "Yêu! Đã có ai từng nghe chuyện hoang đường như thế chưa! Lẽ ra vú cũng có thể nói về việc yêu gã thợ xay mỗi năm ghé đến một lần để mua ngô của chúng ta đấy. Yêu đương khá lắm, thật đấy! Cả hai lần cộng lại cô mới gặp Linton chưa đầy bốn giờ đồng hồ trong đời! Giờ thì nhìn mớ rác rưởi trẻ ranh này xem. Vú sẽ mang nó vào thư viện; rồi chúng ta sẽ xem cha cô nói gì về cái kiểu yêu đương như vậy."

Cô bé lao mình về phía những bức thư trân quý, nhưng tôi đã giơ chúng lên cao quá đầu. Thế rồi cô lại tuôn ra những lời van xin điên cuồng rằng tôi hãy đốt chúng đi-làm bất cứ điều gì cũng được, miễn là đừng cho ông ấy xem. Quả thực, nhìn cô bé, tôi vừa muốn cười vừa muốn mắng-bởi tôi coi tất cả chuyện đó chỉ là chút bồng bột phù phiếm của con gái-cuối cùng, tôi cũng mủi lòng đôi chút và hỏi, "Nếu vú đồng ý đốt chúng, cô có hứa sẽ không bao giờ gửi cũng như nhận lại thư nữa không, hay một cuốn sách (vì vú để ý thấy cô đã gửi sách cho cậu ta), hay những lọn tóc, những chiếc nhẫn, hoặc những món đồ chơi?"

"Chúng cháu không gửi đồ chơi," Catherine hét lên, lòng kiêu hãnh của cô bé lấn át cả sự ngượng ngùng.

"Cũng không gửi bất cứ thứ gì cả, được chứ, thưa cô nương?" tôi nói. "Bằng không, giờ thì vú đi đây."

"Cháu hứa, Ellen!" cô bé kêu lên, níu chặt lấy váy tôi. "Ôi, hãy ném chúng vào lửa đi, làm đi, làm đi!"

Nhưng khi tôi cầm thanh cời than khơi rộng lò sưởi, sự hy sinh đó dường như quá sức chịu đựng đối với cô. Cô bé tha thiết van nài tôi hãy chừa lại cho cô một hoặc hai bức.

"Một hoặc hai bức thôi, Ellen, để giữ làm kỷ niệm về Linton!"

Tôi cởi nút chiếc khăn tay, bắt đầu thả từng lá thư từ một góc, và ngọn lửa lập tức bùng lên trong ống khói.

"Cháu sẽ lấy một bức, đồ độc ác!" cô bé hét lên, lao tay vào ngọn lửa, và rút ra vài mảnh giấy đang cháy dở, bất chấp những ngón tay phỏng rộp.

"Rất tốt-và vú sẽ giữ vài bức để trình lên cho cha!" tôi đáp trả, lắc phần thư còn lại vào trong bọc rồi quay ngoắt về phía cửa.

Cô bé đành quẳng những mảnh giấy cháy đen vào trong lửa, ra hiệu cho tôi hoàn tất cuộc hiến tế. Mọi việc đã xong xuôi; tôi khuấy tung đống tro tàn, vùi chúng dưới một xẻng đầy than đỏ rực; rồi cô bé lặng lẽ, mang theo nỗi tổn thương sâu sắc, lui về phòng riêng. Tôi bước xuống lầu thưa với chủ nhân rằng cơn ốm của cô chủ nhỏ đã thuyên giảm phần nào, nhưng tốt nhất vẫn nên để cô nghỉ ngơi một lúc. Cô bé bỏ bữa tối; nhưng đã xuất hiện trở lại vào giờ uống trà, gương mặt nhợt nhạt, quanh mắt ửng đỏ, và tỏ ra phục tùng một cách kỳ lạ. Sáng hôm sau, tôi đã hồi đáp bức thư bằng một mẩu giấy, ghi rõ: "Cậu chủ Heathcliff được yêu cầu không gửi thêm bất kỳ dòng thư nào cho cô Linton nữa, vì cô ấy sẽ không nhận chúng đâu." Và, từ dạo ấy, gã đưa tin lại đến nhưng chỉ mang theo những chiếc túi trống không.



  1. Trong xã hội Anh thế kỷ 19, các Đạo luật Săn bắn (Game Laws) quy định rất nghiêm ngặt để bảo vệ đặc quyền của giới chủ đất. Việc tự ý lùng sục, bới tìm tổ chim hoặc săn bắt động vật hoang dã trên đất của người khác bị coi là một tội hình sự nghiêm trọng. ↩

  2. Yorkshire là hạt lớn ở miền Bắc nước Anh, bối cảnh chính của tiểu thuyết. Trong thế kỷ 19, phương ngữ và giọng Yorkshire (Yorkshire dialect) đặc trưng cho tầng lớp lao động nông thôn, thường bị tầng lớp thượng lưu coi là thô kệch, quê mùa và thiếu học thức. ↩