CHƯƠNG XIII

Trong suốt hai tháng, những kẻ trốn chạy bặt vô âm tín. Cũng trong ngần ấy thời gian, phu nhân Linton phải chống chọi và rồi vượt qua được cơn nguy kịch tồi tệ nhất của chứng sốt não1. Edgar chăm nom cô tận tụy còn hơn cả một người mẹ chăm bẵm đứa con độc nhất. Bất kể ngày đêm, anh túc trực bên giường bệnh, kiên nhẫn hứng chịu mọi sự phiền toái, cáu bẳn từ những dây thần kinh yếu ớt và lý trí đang cơn điên loạn của cô. Mặc cho bác sĩ Kenneth từng chép miệng rằng, con người mà anh đang cật lực giật lại từ tay thần chết rốt cuộc sẽ chỉ đáp đền anh bằng một nỗi âu lo dai dẳng khôn nguôi - nói trắng ra là anh đang vắt kiệt cả sinh lực lẫn sức khỏe của chính mình chỉ để níu giữ một hình hài tàn tạ - thế nhưng, chẳng có giới hạn nào cho niềm hân hoan của anh khi nghe tin Catherine đã qua cơn nguy kịch. Hết giờ này qua giờ khác, Edgar ngồi lặng bên cô, kiên nhẫn dõi theo chút sức lực đang dần hồi phục nơi cô. Anh tự an ủi mình bằng những hy vọng ngây thơ, tin rằng rồi đây tâm trí cô cũng sẽ tìm lại được sự bình yên vốn có, và chẳng bao lâu nữa, Catherine sẽ lại là người vợ mà anh từng biết.

Lần đầu tiên cô rời khỏi phòng bệnh là vào một ngày đầu tháng Ba năm sau. Sáng hôm ấy, cậu Linton mang một nắm hoa nghệ tây vàng rực đặt cẩn thận lên gối cô. Ánh mắt Catherine - vốn đã từ lâu vắng bóng niềm vui - chợt bắt lấy những cánh hoa khi vừa tỉnh giấc, rồi bỗng bừng lên rạng rỡ. Cô háo hức gom tất thảy vào lòng.

"Đây là những đóa hoa nở sớm nhất ở Đồi," cô reo lên. "Chúng làm em nhớ đến những cơn gió nam mơn trớn làm tan chảy lớp băng giá, nhớ cả ánh nắng ấm áp và những mảng tuyết sắp tan. Edgar, có phải ngoài kia gió nam đang thổi và tuyết cũng đã sắp tan hết rồi không anh?"

"Tuyết quanh đây đã tan hết rồi, em yêu ạ," người chồng dịu dàng đáp; "anh chỉ còn thấy hai đốm tuyết trắng nhỏ nhoi nằm lọt thỏm giữa dải đồng hoang. Bầu trời ngoài kia quang đãng vô ngần, chim chiền chiện đã bắt đầu hót véo von, còn những con suối và khe lạch đều đang căng tràn dòng nước. Catherine này, tầm này mùa xuân năm ngoái, anh từng khao khát cháy bỏng được có em chung bước dưới mái nhà này; vậy mà giờ đây, anh lại ao ước giá như em có thể đứng cách đây vài dặm trên những ngọn đồi kia. Không khí trên ấy ngọt ngào lắm, anh tin rằng gió ngàn sẽ chữa lành cho em."

"Em sẽ chẳng bao giờ đến được đó nữa đâu, họa chăng chỉ một lần cuối cùng," người bệnh thều thào; "rồi khi ấy anh sẽ phải bỏ em lại, còn em thì nằm lại đó mãi mãi. Để rồi mùa xuân tới, anh sẽ lại khao khát có em dưới mái nhà này, và khi ngoảnh đầu nhìn lại, anh sẽ thấy hóa ra ngày hôm nay mình đã từng hạnh phúc đến nhường nào."

Linton hết lời dỗ dành và ôm ấp cô bằng những cử chỉ âu yếm nhất; nhưng, với ánh mắt xa xăm trân trân nhìn những đóa hoa, cô cứ để mặc cho nước mắt trào ra rồi lặng lẽ lăn dài trên hai má. Chúng tôi biết bệnh tình của cô đã thuyên giảm phần nào, nên cùng cho rằng nguyên cớ của sự tuyệt vọng này hẳn là do bị giam hãm quá lâu trong bốn bức tường. Nếu được đổi thay không khí, có lẽ cô sẽ khá hơn. Ông chủ sai tôi nhóm lò sưởi trong căn phòng khách vốn đã bị bỏ hoang suốt bao tuần lễ, rồi kéo một chiếc ghế bành đặt ngay dưới vạt nắng lọt qua ô cửa sổ. Đoạn, anh bế cô xuống. Catherine ngồi đó rất lâu, đắm mình trong hơi ấm dễ chịu. Quả đúng như chúng tôi mong đợi, những vật dụng xung quanh dường như đã thổi vào cô chút sinh khí mới: dù đã quá đỗi thân quen, song chúng chẳng hề dính líu gì đến những ký ức u ám, ngột ngạt của căn phòng bệnh mà cô hằng chán ghét. Đến chiều tối, Catherine trông đã kiệt sức hoàn toàn; thế nhưng mặc cho chúng tôi ra sức khuyên can, cô nhất quyết không chịu quay về căn phòng cũ. Cuối cùng, tôi đành trải đệm lên chiếc sô pha ngay trong phòng khách để cô ngả lưng, chờ cho đến khi dọn dẹp xong một căn phòng khác. Để cô khỏi phải nhọc nhằn leo lên bước xuống cầu thang, chúng tôi đã sửa soạn chính căn phòng này - nơi ngài đang nằm lúc này đây - vốn cùng một tầng với phòng khách. Chẳng bao lâu sau, Catherine đã đủ sức để tựa vào cánh tay Edgar mà bước đi từ phòng nọ sang phòng kia. Ôi, tôi thầm nhủ, cô ấy sẽ bình phục thôi, khi được chở che tận tâm đến vậy. Và chúng tôi lại càng có thêm lý do để khao khát điều đó hơn bao giờ hết, bởi lẽ sự sống của cô giờ đây đang gắn liền với một mầm sống khác: chúng tôi vẫn luôn ấp ủ niềm hy vọng rằng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, trái tim cậu Linton sẽ ngập tràn hạnh phúc, và gia sản của cậu sẽ vĩnh viễn được che chở khỏi nanh vuốt của một kẻ xa lạ, nhờ sự ra đời của một người thừa kế.

Lẽ ra tôi nên kể lại rằng, chừng sáu tuần kể từ ngày dứt áo ra đi, cô Isabella đã gửi cho anh trai mình một bức thư ngắn, hòng báo tin cô đã kết hôn cùng Heathcliff. Lời lẽ trong thư bề ngoài nghe thật khô khan và lạnh lẽo; thế nhưng, lẩn khuất ở tận cuối trang giấy lại là đôi dòng viết vội bằng bút chì-một lời tạ lỗi bâng quơ, cùng lời thỉnh cầu xin anh giữ chút thiện cảm và bao dung, nếu hành động vừa qua của cô có lỡ làm anh phật ý. Cô tha thiết giãi bày rằng, trong tình cảnh bấy giờ cô chẳng còn mảy may lựa chọn nào khác, và một khi sự đã rồi, cô tuyệt nhiên không có quyền năng nào để vớt vát lại. Cậu Linton đã bặt vô âm tín trước bức thư đó, tôi đoán chắc là vậy; và rồi, độ nửa tháng sau, chính tôi lại nhận được một phong thư dài đằng đẵng, mang những lời lẽ mà tôi cho là quá đỗi kỳ dị khi xuất phát từ ngòi bút của một cô dâu mới đương độ tuần trăng mật. Tôi sẽ đọc nó cho ngài nghe: bởi tôi vẫn hằng cất giữ. Mọi kỷ vật của người đã khuất thảy đều vô giá, miễn là khi còn nán lại chốn dương gian, họ từng được ta nâng niu trân trọng.


ELLEN THÂN MẾN, bức thư mở đầu,-Đêm qua, tôi đã tới Đồi Gió Hú, và đó cũng là lần đầu tiên tôi hay tin Catherine đã và đang ốm nặng. Tôi e rằng mình chẳng còn quyền gửi thư cho chị ấy nữa, còn anh trai tôi hẳn đương lúc quá giận dữ hoặc quá đỗi xót xa để hồi âm những gì tôi đã gửi. Thế nhưng, tôi vẫn phải trút cạn nỗi lòng với một ai đó, và lựa chọn duy nhất còn lại của tôi chính là chị.

Xin chị hãy nhắn với Edgar rằng tôi sẵn lòng đánh đổi cả thế giới chỉ để được nhìn thấy gương mặt anh ấy thêm một lần nữa-rằng trái tim tôi đã quay về Thrushcross Grange chỉ vỏn vẹn hăm bốn giờ đồng hồ sau khi tôi rời bước, và đến tận khoảnh khắc này nó vẫn neo đậu ở đó, tràn ngập bao nỗi niềm ấp ủ dành cho anh ấy và Catherine! Tuy nhiên, tôi không thể làm theo tiếng gọi của trái tim-(những từ này được gạch chân)-họ không cần phải mong ngóng tôi nữa, và họ cứ mặc tình đưa ra bất cứ kết luận nào tùy ý. Dẫu vậy, xin chị hãy cẩn trọng, đừng gán tội cho sự yếu hèn hay tình cảm nhạt phai của tôi.

Phần còn lại của bức thư này chỉ dành riêng cho chị thôi. Tôi muốn hỏi chị đôi điều: thứ nhất,-Làm thế nào chị có thể xoay sở để giữ được trọn vẹn chút trắc ẩn nguyên sơ của con người khi nương náu ở chốn này? Tôi chẳng thể tìm nổi lấy một mảy may xúc cảm nào để sẻ chia cùng những kẻ đang sống quanh mình.

Câu hỏi thứ hai, tôi tha thiết muốn biết; đó là-Anh Heathcliff có phải là một con người không? Nếu phải, anh ta có điên không? Còn nếu không, anh ta có phải là một ác quỷ? Tôi sẽ không nói ra cớ sự vì sao mình lại gặng hỏi điều này; nhưng tôi nài xin chị hãy giải thích, nếu chị có thể, rằng tôi đã kết hôn với cái thứ gì đây: đó là khi chị ghé thăm tôi; và chị nhất định phải đến thăm tôi, Ellen, thật sớm nhé. Đừng viết thư, hãy đến đây, và nhớ mang cho tôi một món kỷ vật nào đó từ Edgar.

Giờ đây, chị sẽ được nghe chuyện tôi đã được chào đón ra sao tại ngôi nhà mới, như cách tôi vẫn hằng mường tượng về Đồi Gió Hú. Để tự xoa dịu bản thân, tôi xin phép chỉ mạn đàm về những khía cạnh như sự thiếu thốn tiện nghi vật chất: chúng chưa từng làm tôi bận tâm, họa chăng chỉ là lúc tôi nhận ra sự trống vắng của chúng. Tôi hẳn đã cười vang và nhảy múa trong sung sướng, nếu như tôi phát hiện ra sự thiếu thốn ấy là tất thảy mọi nỗi thống khổ bủa vây, và phần còn lại chỉ là một cơn ác mộng quái đản!

Mặt trời dần khuất bóng phía sau Grange khi chúng tôi rẽ vào vùng đồng hoang; nhìn ánh dương, tôi đoán chừng lúc ấy đã sáu giờ; rồi người bạn đồng hành của tôi đã dừng lại ngót nửa canh giờ, đặng thị sát công viên, những khu vườn, và, có lẽ là chính cả nơi đó, tường tận hết mức có thể; bởi thế mà trời đã tối mịt khi chúng tôi xuống ngựa giữa khoảng sân lát đá của trang trại, và người đồng nghiệp cũ của chị, lão Joseph, lững thững bước ra đón chúng tôi dưới ánh sáng leo lét của ngọn nến nhúng2. Lão hành xử với một vẻ lịch thiệp vốn đã làm nên tiếng tăm của mình. Động thái đầu tiên của lão là nâng ngọn nến lên ngang tầm mắt tôi, nheo cặp mắt đầy ác ý, trề môi dưới ra, rồi ngoảnh mặt làm ngơ. Kế đó, lão dắt luôn hai con ngựa vào chuồng; một lát sau mới thấy lão quay lại chỉ để chốt chặt cánh cổng bên ngoài, cứ làm như thể chúng tôi đang sống trong một tòa lâu đài cổ kính vậy.

Heathcliff nán lại đôi hồi để nói chuyện với lão, còn tôi thì đi thẳng vào nhà bếp-một cái hốc tồi tàn, nhếch nhác; tôi dám chắc chị sẽ chẳng thể nào nhận ra nó đâu, bởi nơi này đã biến đổi quá nhiều so với cái thời chị còn cai quản. Cạnh bếp lửa là một đứa trẻ trông lôi thôi như một tên du côn, chân tay cục mịch và ăn mặc bẩn thỉu, mang một ánh nhìn phảng phất nét quen thuộc của Catherine trong đôi mắt và nơi khóe miệng.

“Đây là cháu trai ruột của Edgar,” tôi tự nhủ-“xét theo một cách nào đó, cũng là cháu của mình; mình phải bắt tay, và-đúng rồi-mình phải hôn thằng bé. Lấy thiện cảm tốt đẹp ngay từ đầu hẳn là một quyết định khôn ngoan.”

Tôi nhích lại gần, và, trong lúc cố gắng nắm lấy bàn tay mũm mĩm của thằng bé, tôi cất lời-“Cháu khỏe không, cháu yêu?”

Nó đáp lời tôi bằng một thứ ngôn ngữ lóng hỗn tạp mà tôi nghe chẳng hiểu mô tê gì.

“Cháu và cô sẽ là bạn nhé, Hareton?” tôi nỗ lực bắt chuyện thêm lần nữa.

Đáp lại sự nhẫn nại của tôi là một câu chửi thề, kèm theo lời đe dọa sẽ thả con chó Throttler ra cắn xé nếu tôi không chịu 'cút đi'.

“Này, Throttler, ngoan nào!” thằng nhãi ranh thì thầm, đánh thức một con chó mặt bò lai giống từ trong hang ổ của nó ở một xó nhà. “Bây giờ, cô có định cút đi không thì bảo?” nó cất giọng ra lệnh.

Nỗi sợ chết đã hối thúc tôi tuân lệnh; tôi lùi qua ngưỡng cửa để chờ cho đến khi những người khác bước vào. Anh Heathcliff thì chẳng thấy đâu; và lão Joseph, người mà tôi đã lẽo đẽo bám theo ra tận chuồng ngựa đặng yêu cầu lão cùng tôi vào trong, sau khi trừng mắt và lẩm bẩm một mình, đã chun mũi lại rồi gằn giọng-“Mim! mim! mim! Có cơ đốc nhân3 nào từng nghe thấy cái thứ tiếng chướng tai gai mắt như thế chưa? Ả ta ăn nói uốn éo điệu đà! Làm sao lão có thể biết cô đang lải nhải cái quái gì cơ chứ?”

“Tôi bảo, tôi muốn lão đi cùng tôi vào trong nhà!” tôi kêu toáng lên, ngỡ lão bị điếc, nhưng trong thâm tâm lại vô cùng kinh tởm sự thô lỗ của lão.

“Lão không rảnh! Lão còn khối việc phải làm,” lão cộc lằn đáp, rồi tiếp tục cắm cúi vào công việc của mình; trong lúc đó cái quai hàm dài ngoẵng như chiếc đèn lồng4 của lão vẫn liên tục nhai trệu trạo, lão đảo đôi mắt soi mói dò xét bộ váy và nét mặt của tôi (bộ váy thì quá đỗi lộng lẫy, nhưng nét mặt thì, tôi chắc chắn, buồn bã đúng như lão mong đợi) bằng một vẻ khinh miệt tột cùng.

Tôi men theo khoảng sân, bước qua một cánh cổng nhỏ để đến trước một cánh cửa khác. Tại đây, tôi đánh bạo gõ cửa, nuôi hy vọng sẽ có một người hầu nào đó tử tế hơn xuất hiện. Sau một thoáng hồi hộp ngắn ngủi, cánh cửa mở hé. Trước mắt tôi là một gã đàn ông cao lớn, hốc hác, cổ không quàng khăn và khoác lên mình vẻ lôi thôi lếch thếch đến cùng cực. Những đường nét trên gương mặt anh ta gần như chìm nghỉm dưới mớ tóc rũ rượi xõa tận vai. Đôi mắt của anh ta trừng trừng hệt như đôi mắt của linh hồn Catherine, nơi mọi tàn tích của vẻ đẹp kiêu kỳ xưa kia nay đã bị vùi lấp hoàn toàn.

“Cô đến đây làm gì?” anh ta gầm gừ. “Cô là ai?”

“Tên tôi đã từng là Isabella Linton,” tôi đáp. “Anh đã gặp tôi rồi đấy, thưa anh. Tôi vừa kết hôn với anh Heathcliff, và anh ấy đã đưa tôi đến đây-tôi mạn phép đoán là đã được anh cho phép.”

“Vậy là nó đã mò về rồi sao?” gã ẩn sĩ ném cái nhìn trừng trừng hau háu như một con sói đói.

“Vâng-chúng tôi vừa tới,” tôi cất lời; “nhưng anh ấy lại bỏ mặc tôi ngoài cửa bếp. Khi tôi chực bước vào, cậu con trai nhỏ của anh đã đứng gác ngay bậu cửa, và rồi khiến tôi phát khiếp phải lùi lại vì một con chó mặt bò xông ra.”

“Tốt lắm, coi như tên ác ôn địa ngục đó vẫn giữ lời!” vị chủ nhà tương lai của tôi gằn giọng, ánh mắt sục sạo vào màn đêm phía sau lưng tôi, chực chờ bắt quả tang Heathcliff. Rồi anh ta lầm bầm tuôn ra cả một tràng những lời nguyền rủa độc địa, đe dọa những đòn trừng phạt khốc liệt nếu “tên ác quỷ” dám cả gan lừa gạt mình.

Tôi bắt đầu hối hận vì đã mò đến lối vào thứ hai này. Tôi toan lẻn đi ngay khi anh ta chưa dứt tràng chửi bới, nhưng chưa kịp nhấc bước, anh ta đã ra lệnh cho tôi vào trong rồi đóng sập cánh cửa, cài then khóa chặt. Trong căn phòng rộng thênh thang, nguồn sáng duy nhất phát ra từ ngọn lửa bùng cháy dữ dội, hắt bóng lên mặt sàn đã phai xỉn thành một màu xám xịt. Những chiếc đĩa thiếc từng lấp lánh rực rỡ, thứ từng thu hút ánh nhìn say mê của tôi thuở ấu thơ, nay cũng nằm chịu trận dưới lớp bụi bặm, tối tăm mù mịt. Tôi dè dặt hỏi liệu mình có thể gọi cô hầu gái để nhờ dẫn lên phòng ngủ không! Đáp lại, anh Earnshaw chẳng buồn đoái hoài cất lời. Anh ta chỉ đi tới đi lui, hai tay đút sâu vào túi áo, dường như đã xóa sạch sự hiện diện của tôi khỏi tâm trí. Dáng vẻ lơ đãng mông lung của anh ta quá đỗi sâu thẳm, cộng thêm nét mặt hằn học chán ghét nhân loại hiện rõ mồn một, khiến tôi chùn bước, chẳng dám hó hé thêm lời nào.

Chị sẽ không ngạc nhiên đâu, chị Ellen, trước cảm giác ảm đạm trống trải bủa vây lấy tôi lúc bấy giờ. Phải ngồi co ro tại một nơi chốn kém thân thiện trong một sự cô lập còn kinh khủng hơn cả nỗi cô đơn, tôi lại xót xa nhớ về ngôi nhà thân thương cách đó chỉ vỏn vẹn bốn dặm, nơi giấu kín những bóng hình duy nhất tôi yêu thương trên cõi đời này. Giá như có cả một Đại Tây Dương mênh mông chia cắt chúng tôi thì thà vậy còn hơn là bốn dặm đường vô vọng ấy: Tôi không thể nào vượt qua nổi! Tôi cay đắng tự hỏi lòng mình-tôi biết bấu víu vào đâu để tìm lấy chút an ủi? Và-chị nhớ đừng hé răng với anh Edgar hay Catherine nhé-vượt lên trên mọi nỗi muộn phiền khác, có một sự thật ngày càng trở nên rõ ràng: sự tuyệt vọng cùng cực khi nhận ra chẳng một ai trên đời có thể, hoặc muốn làm đồng minh của tôi để chống lại Heathcliff! Tôi từng tìm đến Đồi Gió Hú như một chỗ nương náu, với một niềm hân hoan rồ dại, ngỡ rằng nhờ sự sắp xếp này, tôi sẽ thoát khỏi viễn cảnh phải sống một mình cùng anh ta. Nhưng than ôi, anh ta quá tường tận mớ hỗn độn mà chúng tôi sắp chung sống, nên chẳng mảy may bận tâm đến sự phản kháng mỏng manh của họ.

Tôi cứ ngồi đó, vùi mình vào những suy tư ảm đạm. Đồng hồ điểm tám giờ, rồi chín giờ, và gã bạn đồng hành của tôi vẫn quẩn quanh cất bước, đầu rũ gập xuống ngực, im lìm như một bóng ma, thỉnh thoảng mới buông ra tiếng rên rỉ nhọc nhằn hay lời than vãn chát chúa. Tôi rướn tai cố ngóng tìm một giọng nói phụ nữ trong căn nhà hoang lạnh này, và lấp đầy những phút giây câm lặng bằng nỗi ân hận điên cuồng hòa lẫn những dự cảm thê lương. Chẳng thể kiềm chế nổi, tôi rốt cuộc bật ra thành những tiếng nức nở cùng những tiếng thở dài bất lực. Tôi nào hay mình đã bộc lộ nỗi tủi thân rõ rệt đến nhường nào, cho đến khi Earnshaw dừng bước ngay trước mặt tôi, ném cho tôi một ánh nhìn chằm chằm đầy ngỡ ngàng như vừa sực tỉnh. Chớp lấy khoảnh khắc anh ta đang chú ý, tôi bật khóc kêu lên-“Tôi đã quá mệt mỏi với chuyến đi này, và tôi muốn đi ngủ! Cô hầu gái ở đâu rồi? Cầu xin anh hãy chỉ đường cho tôi tìm cô ấy, vì cô ấy sẽ chẳng màng đến tôi đâu!”

“Nhà này chẳng có ai đâu,” anh ta buông lời lạnh nhạt; “cô liệu mà tự lo thân đi!”

“Vậy thì tôi biết ngủ ở đâu?” tôi nức nở. Sự mệt mỏi rã rời cùng cực hòa lẫn nỗi khổ sở đã đè bẹp cả chút tự trọng cuối cùng trong tôi.

“Lão Joseph sẽ đưa cô về phòng của Heathcliff,” anh ta hất hàm; “mở cánh cửa đó ra-lão ở ngay trong ấy.”

Tôi vừa toan vâng lời, anh ta bỗng đột ngột giật tôi lại, hạ giọng bằng một âm sắc kỳ quái dị thường-“Nhớ vặn khóa, cài thật chặt chốt cửa vào-đừng có quên đấy!”

“Vâng!” tôi giật thót. “Nhưng để làm gì cơ chứ, anh Earnshaw?” Thú thực, viễn cảnh tự giam mình trong cùng một căn phòng với Heathcliff chẳng mang lại cho tôi chút hào hứng nào.

“Nhìn đây!” anh ta gằn giọng, rồi móc từ trong áo gi lê ra một khẩu súng lục có kết cấu quái gở, đầu nòng gắn chặt một lưỡi dao nhíp hai lưỡi. “Một thứ cám dỗ chí tử đối với một kẻ đã rơi vào bước đường cùng, đúng không? Đêm nào tôi cũng trằn trọc, luôn bị thôi thúc bởi ý định mang thứ này lên đó và thử mở cánh cửa phòng hắn. Chỉ cần một lần thấy nó hé mở thôi, đời hắn coi như xong. Lần nào tôi cũng hành động như thế, bất chấp chỉ vài phút trước đó tâm trí tôi vẫn còn viện ra hàng trăm lý do ngăn tôi lại. Phải có một ác quỷ nào đó đã len lỏi xúi giục tôi phá tan tành mọi kế hoạch của mình để tự tay bóp chết hắn. Cô cứ lấy tình yêu của mình mà che chở cho hắn, chống lại con quỷ ấy chừng nào cô còn sức; nhưng một khi thời khắc điểm, có là thiên thần trên cao cũng chẳng thể vớt vát nổi linh hồn hắn đâu!”

Tôi tò mò ngắm nghía món vũ khí. Bỗng nhiên, một ý nghĩ đáng sợ nháng lên trong tâm trí tôi: sẽ đầy quyền lực nhường nào nếu thứ công cụ này nằm trọn trong tay tôi! Tôi giằng lấy khẩu súng từ tay anh ta, ngón tay khẽ miết dọc theo lưỡi dao bén ngót. Anh ta thoáng sững sờ trước nét mặt kỳ dị hiện lên trên khuôn mặt tôi trong tích tắc: đó không phải là nỗi kinh hãi, mà là sự khao khát. Ngay lập tức, anh ta hằn học giật phắt khẩu súng lại; gập gọn lưỡi dao, rồi giấu biến nó vào chỗ cũ.

“Tôi chẳng bận tâm đâu nếu cô đem chuyện này đi mách hắn,” anh ta buông lời. “Cứ việc cảnh báo cho hắn, để rồi mà canh chừng. Trông bộ dạng cô, tôi thừa hiểu cô đã nắm rõ mối quan hệ thù địch giữa chúng tôi rồi: sự an nguy của hắn giờ chẳng còn khiến cô bận lòng nữa.”

“Heathcliff đã làm gì anh cơ chứ?” tôi gặng hỏi. “Anh ấy đã tệ bạc với anh nhường nào, để đến mức anh vin vào đó bao biện cho lòng căm phẫn tột độ này? Chẳng phải đuổi thẳng anh ấy ra khỏi nhà sẽ là một lối thoát khôn ngoan hơn sao?”

“Không bao giờ!” Earnshaw rống lên như sấm nổ; “Nếu hắn cả gan đề nghị cuốn xéo khỏi tôi, hắn sẽ bước ra khỏi cửa như một cái xác không hồn! Còn nếu cô rắp tâm xúi giục hắn làm điều đó, cô sẽ gánh tội sát nhân! Chẳng lẽ tôi phải buông xuôi mất tất cả, không còn lấy một tia hy vọng nào để đoạt lại sao? Chẳng lẽ thằng bé Hareton sẽ phải lê bước đi ăn mày? Ôi, đồ khốn kiếp! Tôi chắc chắn sẽ đòi lại mọi thứ; tôi sẽ vét cạn từng đồng vàng của hắn; và rồi tôi sẽ uống cạn máu hắn! Sau cùng, địa ngục sẽ mở rộng cửa đón lấy linh hồn hắn! Mà có khi, cõi địa ngục ấy sẽ càng tăm tối gấp mười phần khi đón chào sự hiện diện của một vị khách như hắn!”

Chị từng kể cho tôi nghe, chị Ellen, về những thói quen của vị chủ cũ. Anh ta rõ ràng đang ngấp nghé bên bờ vực điên loạn: ít nhất thì đêm qua anh ta là như vậy. Tôi rùng mình khi phải ở gần con người ấy, đến mức chợt nghĩ sự càu nhàu thô lỗ của lão người hầu khéo lại còn dễ chịu hơn. Thấy anh ta lại chìm vào dáng vẻ ủ rũ thường ngày, tôi liền lẳng lặng nâng chốt cửa và trốn biệt xuống bếp. Lão Joseph đang khom lưng bên đống lửa, đăm đăm nhìn vào chiếc chảo lớn vắt vẻo bên trên; cạnh đó, trên chiếc ghế dài là một bát gỗ đựng bột yến mạch. Nước trong chảo bắt đầu sôi sùng sục, lão bèn quay sang thục tay vào bát bột. Đoán chừng lão đang chuẩn bị bữa tối cho cả nhà, và bụng cũng đang cồn cào vì đói, tôi tự nhủ chí ít món này hẳn cũng nuốt trôi được. Thế nên, tôi dõng dạc cất giọng sắc lạnh: "Tôi sẽ nấu cháo!" Nói đoạn, tôi nhấc cái nồi ra khỏi tầm tay lão, rồi bắt đầu cởi bỏ áo choàng cùng mũ cưỡi ngựa. "Anh Earnshaw," tôi nói tiếp, "đã lệnh cho tôi phải tự phục vụ bản thân: Tôi sẽ làm vậy. Tôi chẳng thiết đóng vai quý phu nhân giữa những người như các người, để rồi phải chết đói đâu."

"Lạy Chúa lòng lành!" lão lầu bầu, ngồi phịch xuống và đưa tay vuốt ve đôi tất len sọc từ đầu gối xuống tận mắt cá chân. "Nếu nay lại sinh ra lắm luật lệ mới-đúng lúc lão vừa quen hầu hạ hai ông chủ, thì giờ lại có thêm một bà chủ ngồi chễm chệ trên đầu trên cổ, thì có lẽ đã đến lúc phải cuốn gói ra đi rồi. Lão chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày mình phải rời bỏ cái chốn xó xỉnh cũ kỹ này-nhưng lão e là ngày đó sắp đến nơi rồi!"

Những lời than vãn ỉ ôi ấy chẳng mảy may khiến tôi bận tâm. Tôi thoăn thoắt bắt tay vào việc, khẽ thở dài khi chạnh lòng nhớ đến một thời, lúc lẽ ra việc bếp núc thế này chỉ là một trò đùa vui nhộn; nhưng rồi tôi phải mau chóng ép mình xua tan ký ức ấy đi. Hồi tưởng về niềm hạnh phúc xa xăm chỉ tổ đày đọa tâm trí, và nỗi sợ bóng ma dĩ vãng ùa về càng lớn, thì chiếc vá trong tay tôi khuấy càng vội vã, những nắm yến mạch tuôn vào nồi nước sôi lại càng dồn dập hơn. Lão Joseph cứ thế trố mắt nhìn kiểu cách nấu nướng của tôi với nỗi bất bình ngùn ngụt dâng cao.

"Đó!" lão ré lên. "Hareton, tối nay mày nhịn cháo nhé; cạp toàn ba cái cục vón to bằng nắm tay lão cho coi. Kìa, lại thế nữa rồi! Nếu lão mà là cô, lão thà ném phăng cả cái bát lẫn mọi thứ vào nồi cho xong! Đó, cứ tống hết vào họng đi, rồi cô sẽ xong việc. Bịch, bịch. Thật phước đức là cái đáy nồi chưa bị thủng tung ra đấy!"

Tôi thừa nhận, thứ cháo ấy quả thực là một mớ hỗn độn lổn nhổn khi được múc ra bát. Bốn phần ăn đã bày sẵn, cùng một bình sữa tươi vắt đầy ắp cả gallon5 vừa được mang từ phòng vắt sữa ra, Hareton liền chồm tới vồ lấy bình và tu ừng ực, mặc cho sữa trào lênh láng quanh cái miệng rộng hoác của nó. Tôi lập tức phản đối, yêu cầu nó phải rót phần của mình ra cốc; và cương quyết rằng tôi không đời nào đụng môi vào thứ thức uống bị bôi bẩn tởm lợm đến thế. Lão già yếm thế kia lại làm ra vẻ vô cùng tự ái trước sự kỹ tính của tôi; lão sa sả cam đoan rằng "thằng bé hoàn toàn sạch sẽ" chẳng kém gì tôi, "và hoàn toàn khỏe mạnh," rồi cạnh khóe không hiểu sao tôi lại có thể làm mình làm mẩy, kiêu kỳ đến thế. Trong lúc ấy, thằng quỷ sứ nhỏ vẫn thản nhiên mút mát; nó trừng mắt nhìn tôi đầy thách thức, trong khi dãi rớt vẫn nhỏ ròng ròng vào trong bình sữa.

"Tôi sẽ dùng bữa tối ở phòng khác," tôi gắt lên. "Các người không có chỗ nào gọi là phòng khách sao?"

"Phòng khách!" lão nhại lại, với điệu bộ giễu cợt, "phòng khách! Không, chúng tôi chả có phòng khách phòng khứa nào sất. Nếu cô không ưng mặt chúng tôi, thì xin mời lên hầu ông chủ; còn nếu cô chê ông chủ, thì đành chịu mặt chúng tôi thôi."

"Vậy thì tôi sẽ lên lầu," tôi đáp trả; "hãy chỉ cho tôi một căn phòng."

Tôi đặt bát cháo lên chiếc khay rồi tự mình đi lấy thêm sữa. Kèm theo những tiếng càu nhàu thô lỗ, gã đàn ông đứng dậy và đi trước dẫn tôi lên lầu. Chúng tôi leo lên tận gác xép; thỉnh thoảng, lão lại mở tung một cánh cửa để liếc vào những căn phòng chúng tôi đi ngang qua.

"Đây là một căn phòng," cuối cùng lão lên tiếng, xô mạnh cánh cửa ọp ẹp trên bản lề. "Nó cũng đủ tốt để húp vài ngụm cháo. Có một bao ngô ở trong góc đằng kia, khá sạch sẽ; nếu cô sợ làm bẩn bộ váy lụa lộng lẫy của mình, thì cứ trải cái khăn tay lên trên đó."

Cái gọi là "căn phòng" ấy thực chất chỉ là một kho chứa nồng nặc mùi mạch nha và ngũ cốc; những bao tải chứa đồ được chất đống xung quanh, để chừa lại một khoảng trống hoác, trơ trọi ở chính giữa.

"Này ông,” tôi kêu lên, tức giận trừng mắt nhìn lão. “Đây đâu phải là nơi để ngủ. Tôi muốn xem phòng ngủ của mình."

"Phòng ngủ!" lão nhắc lại, buông giọng mỉa mai cay độc. "Cô đã xem qua toàn bộ phòng ngủ ở cái chốn này rồi đấy-kia là phòng của lão."

Lão hất hàm về phía căn gác xép thứ hai, nơi chẳng khác biệt gì so với căn thứ nhất ngoại trừ những bức tường trơ khấc bần hàn, và ở góc phòng là một chiếc giường thấp lè tè, rộng thênh, chẳng có rèm che chắn, chỉ trải độc một tấm chăn chần màu chàm phai cũ.

"Tôi cần phòng của lão để làm gì chứ?" tôi vặn lại bực dọc. "Tôi cho rằng anh Heathcliff chẳng đời nào lại trọ ở cái tầng trên cùng của ngôi nhà này, phải không?"

"Ồ! Hóa ra cô đang đòi ở phòng của Ông chủ Heathcliff sao?" lão thốt lên, cứ như thể vừa phát hiện ra một điều gì đó mới mẻ lắm. "Sao cô không nói toẹt ra ngay từ đầu? Nếu thế, lão đã bảo cho cô biết luôn, để khỏi phải mất công lôi thôi thế này, rằng đó chính là căn phòng duy nhất cô không bao giờ được đặt mắt tới-cậu ấy luôn khóa chặt nó lại, và ngoại trừ cậu ấy ra, chẳng có sinh linh nào được phép lai vãng vào đó."

"Lão có một cơ ngơi thật tuyệt mỹ đấy, Joseph," tôi không kìm được buông lời mỉa mai, "và những người bạn cùng nhà cũng thật dễ mến làm sao; tôi thiết nghĩ bản chất cô đặc của mọi sự điên rồ trên thế gian này đã chui tọt vào não tôi cái ngày mà tôi quyết định gắn kết số phận đời mình với bọn họ! Tuy nhiên, giờ không phải lúc để bàn chuyện đó-chắc chắn còn có những căn phòng khác. Vì Chúa, hãy nhanh chân lên, và để tôi được ổn định ở một nơi nào đó đàng hoàng!"

Lão bỏ ngoài tai lời tôi thỉnh cầu, chỉ lầm lì bước xuống những bậc thang gỗ, và dừng bước trước một căn phòng mà, căn cứ vào sự ngập ngừng của lão cùng với chất lượng cao cấp của đống đồ nội thất, tôi phỏng đoán là căn phòng tươm tất nhất trong nhà. Dưới sàn trải một tấm thảm-một tấm thảm hảo hạng nhưng hoa văn đã bị lớp bụi bặm làm cho phai mờ; một lò sưởi trang trí đầy giấy cắt6, nay đã rách bươm thành từng mảnh tả tơi; một chiếc giường gỗ sồi tuyệt mỹ buông rủ những tấm rèm lụa đỏ thẫm rộng rãi, dệt từ thứ chất liệu đắt tiền và được may theo lối thời thượng. Dẫu vậy, chúng rõ ràng đã phải chịu đựng những sự giày vò thô bạo: những dải viền rèm treo rủ xuống thành từng vòng hoa, bị xé toạc khỏi khuyên treo, và thanh sắt nâng đỡ chúng bị uốn cong gập lại ở một bên, khiến cho mớ rèm nhung lụa kia rủ rượi lê lết trên mặt sàn. Những chiếc ghế cũng chịu chung số phận tàn tạ, nhiều chiếc hỏng hóc nặng nề; và những vết lõm sâu hoắm làm biến dạng cả các tấm ván ốp tường. Tôi đang cố gắng thu vén chút can đảm cuối cùng để bước vào và chiếm lấy quyền sử dụng căn phòng, thì tên ngốc dẫn đường của tôi thình lình thông báo,-"Đây là phòng của ông chủ." Bữa tối của tôi lúc này đã lạnh ngắt như băng, sự thèm ăn đã bay biến sạch sành sanh, và lòng kiên nhẫn của tôi cũng cạn kiệt đến tận cùng. Tôi khăng khăng đòi được cung cấp ngay lập tức một chốn dung thân, cùng những phương tiện tối thiểu để ngả lưng.

"Cái quỷ quái gì thế này?" vị trưởng lão mộ đạo bắt đầu rủa xả. "Xin Chúa rủ lòng ban phước cho chúng con! Xin Chúa tha thứ cho chúng con! Cô còn muốn chui rúc vào cái địa ngục nào nữa đây? Đồ vô dụng, rắc rối, hư hỏng kia! Cô đã dòm ngó tất thảy mọi ngóc ngách rồi, ngoại trừ cái buồng ngủ tí hin của thằng nhãi Hareton. Chẳng còn cái lỗ nẻ nào khác để cho cô ngả lưng trong cái nhà này đâu!"

Cơn tức giận trong tôi bùng nổ tột độ, tôi ném phăng cái khay cùng toàn bộ đồ đạc trên đó xuống mặt sàn; và rồi ngồi thụp xuống ngay đầu bậc thang, úp mặt vào đôi bàn tay mà nức nở.

"Ái chà! ái chà!" lão Joseph rú lên. "Làm tốt lắm, cô Cathy! Làm tốt lắm, cô Cathy! Dù sao đi nữa, ông chủ rồi sẽ vấp phải mớ nồi niêu sứt mẻ đó thôi; và rồi chúng ta sẽ được nghe ngóng đôi điều; chúng ta sẽ được chống mắt lên mà xem cơ sự rồi sẽ ra sao. Con điên vô tích sự! Cô đáng bị bỏ đói nhăn răng từ giờ cho đến tận Lễ Giáng Sinh, dám cả gan chà đạp những món quà quý giá của Chúa dưới chân trong cơn thịnh nộ kinh tởm của mình! Nhưng lão sẽ nhầm to nếu như cô có thể giữ mãi được cái nhuệ khí đó. Liệu Heathcliff có chịu đựng nổi những lối hành xử 'hay ho' dường ấy không, cô thử nghĩ xem? Lão mong sao cậu ấy tóm được cô trong lúc cô đang giở cái thói làm loạn này. Lão đây chỉ mong cậu ấy làm như vậy."

Và thế là lão tiếp tục càu nhàu, lần bước về cái hang ổ của mình bên dưới, mang theo luôn cả ngọn nến; bỏ mặc tôi lại trong bóng tối. Khoảng thời gian suy ngẫm ngắn ngủi sau hành động bốc đồng ngớ ngẩn đó đã khiến tôi nhận ra mình cần bóp nghẹt lòng kiêu hãnh và kìm nén cơn thịnh nộ, để nhanh chóng dọn dẹp hậu quả do chính mình gây ra. Một vị cứu tinh bất ngờ chợt xuất hiện dưới hình dáng của Throttler, con chó mà giờ đây tôi mới nhận ra là hậu duệ của con Skulker cũ kỹ nhà chúng tôi. Nó từng trải qua thời kỳ chó con tại ấp Grange, và được cha tôi mang tặng cho anh Hindley. Tôi có cảm giác nó nhận ra mình: nó húc mõm vào mũi tôi như một lời chào hỏi, rồi háu đói xơi sạch vũng cháo vương vãi trên sàn. Trong lúc đó, tôi lóng ngóng dò dẫm từ bậc thang này sang bậc thang khác, nhặt nhạnh những mảnh sành vỡ vụn và dùng chiếc khăn tay lau sạch những vệt sữa bắn tung tóe trên tay vịn cầu thang. Công việc dọn dẹp chưa kịp hoàn tất thì tôi đã nghe thấy tiếng bước chân của Earnshaw vang lên ngoài hành lang. Vị "phụ tá" của tôi hoảng hốt cụp đuôi lại, thu mình nép sát vào tường, còn tôi vội vã lẻn vào ô cửa gần nhất. Nỗ lực lẩn trốn của con chó đã thất bại; tôi có thể đoán được điều đó qua tiếng móng vuốt chạy lạch cạch trượt dài xuống lầu, và một tiếng tru thảm thiết, rên rỉ kéo dài. Tôi thì may mắn hơn: anh ta chỉ đi ngang qua, bước vào phòng và đóng sầm cửa lại. Ngay sau đó, lão Joseph đi lên lầu cùng với Hareton để đưa thằng bé đi ngủ. Lúc bấy giờ, tôi đã tìm được một chỗ trú ẩn tạm bợ trong phòng của Hareton, và ông lão, khi nhìn thấy tôi, liền mỉa mai, - "Bây giờ, lão nghĩ trong cái nhà này có đủ chỗ cho cả cô và sự kiêu ngạo của cô đấy. Căn phòng trống trơn; cô có thể độc chiếm tất cả, cùng với cả Ác quỷ - kẻ luôn chực chờ làm người thứ ba trong một bầu bạn tồi tệ như thế!"

Tôi chớp lấy lời gợi ý ấy một cách mừng rỡ; và ngay cái khoảnh khắc gieo mình xuống chiếc ghế bên lò sưởi, tôi đã gật gù rồi thiếp đi. Giấc ngủ bủa vây tôi thật sâu và ngọt ngào, dẫu nó trôi qua quá đỗi chóng vánh. Anh Heathcliff đã đánh thức tôi dậy; anh ta vừa mới bước vào và tra hỏi tôi, với cái phong thái "đáng yêu" thường thấy, rằng tôi đang làm cái quái gì ở đây. Tôi nói cho anh ta biết lý do khiến mình phải thức khuya đến tận lúc này - rằng anh ta đang giữ chìa khóa phòng của chúng tôi trong túi. Tính từ của chúng tôi dường như là một sự xúc phạm chí mạng. Anh ta thề độc rằng căn phòng đó không phải, và sẽ không bao giờ là của tôi; và anh ta sẽ - nhưng tôi chẳng buồn lặp lại những lời lẽ thô bỉ ấy, cũng chẳng muốn miêu tả lại cái cách hành xử man rợ thường ngày của anh ta: anh ta dường như rất tài tình và không biết mệt mỏi trong việc tìm mọi cách chuốc lấy sự ghê tởm từ tôi! Đôi khi, tôi sững sờ trước anh ta với một cường độ áp đảo làm tê liệt cả nỗi sợ hãi của chính mình. Tuy nhiên, tôi dám cam đoan với chị, ngay cả một con hổ hay một con rắn độc cũng chẳng thể nào khơi dậy trong tôi nỗi kinh hoàng ngang bằng với những gì anh ta mang lại. Anh ta kể cho tôi nghe về căn bệnh của Catherine, rồi lớn tiếng đổ lỗi cho anh trai tôi là nguyên nhân gây ra cớ sự; gằn giọng hứa hẹn rằng tôi sẽ phải làm kẻ thế thân, gánh chịu mọi đớn đau thay cho Edgar, cho đến khi anh ta có thể tóm cổ được anh ấy.

Tôi thực sự căm thù anh ta - Tôi thật khốn khổ - Tôi quả là một kẻ ngu ngốc! Chị hãy cẩn trọng, đừng hé răng nửa lời về chuyện này cho bất kỳ ai ở ấp Grange. Tôi sẽ khắc khoải ngóng chờ chị mỗi ngày - đừng làm tôi thất vọng! - ISABELLA.



  1. Thuật ngữ y khoa 'brain fever' phổ biến trong văn học châu Âu thế kỷ 19, thường dùng để chỉ tình trạng suy sụp thể chất và tinh thần trầm trọng do cú sốc tâm lý hoặc căng thẳng thần kinh tột độ, không hẳn là một căn bệnh cụ thể theo y học hiện đại. ↩

  2. Dịch từ 'dip candle' (nến nhúng), một loại nến rẻ tiền thời xưa được làm bằng cách nhúng sợi bấc nhiều lần vào mỡ động vật đun chảy. ↩

  3. Nguyên gốc 'Christian' (người theo đạo Cơ Đốc). Trong giao tiếp của người phương Tây xưa, từ này đôi khi được dùng với hàm ý chỉ 'một người đàng hoàng, tử tế' hoặc 'người văn minh có giáo dục', đối lập với kẻ dã man. ↩

  4. Dịch sát nghĩa từ thành ngữ tiếng Anh 'lantern jaws', dùng để miêu tả khuôn mặt hẹp dài, hốc hác với phần xương hàm nhô ra và gò má lõm sâu, trông giống hình dáng của những chiếc đèn lồng khung kim loại thời xưa. ↩

  5. Đơn vị đo lường thể tích truyền thống của Anh. Một gallon Anh tương đương khoảng 4,5 lít. ↩

  6. Dịch từ 'cut-paper chimney boards'. Đây là phong tục trang trí tấm chắn lò sưởi bằng nghệ thuật cắt giấy vào mùa hè khi không đốt lửa, rất thịnh hành ở các gia đình khá giả tại Anh thời bấy giờ. ↩