CHƯƠNG I: MỘT DẢI ĐÁ NGẦM DI ĐỘNG
Năm 1866 được đánh dấu bằng một sự kiện kỳ lạ, một hiện tượng bí ẩn và khó hiểu mà có lẽ đến tận bây giờ vẫn chưa ai thể quên. Không chỉ làm xôn xao cư dân miền biển hay khuấy động tâm trí công chúng chốn nội địa, sự việc này còn đặc biệt gây chấn động cả giới hàng hải. Từ các thương nhân, những gã thủy thủ bình thường cho tới các vị thuyền trưởng, người chỉ huy ở cả châu Âu và châu Mỹ; từ sĩ quan hải quân của mọi quốc gia cho đến chính phủ của vô số cường quốc trên hai lục địa, tất cả đều bị cuốn vào vòng xoáy của mối bận tâm chung này.
Một thời gian trước, các con tàu thường xuyên chạm trán với "một thứ khổng lồ," một vật thể có hình dáng thon dài, thỉnh thoảng lại phát sáng, vô cùng đồ sộ và di chuyển với tốc độ vượt xa bất kỳ loài cá voi nào.
Hàng loạt dữ kiện xoay quanh hiện tượng này (được ghi chép tỉ mỉ trong các nhật ký hải trình) đều thống nhất ở hầu hết các khía cạnh: hình dáng của vật thể hay sinh vật ấy, tốc độ bơi lội không biết mệt mỏi, khả năng vận động đến mức kinh ngạc, và cả sức sống kỳ lạ mà nó dường như được tạo hóa ban cho. Nếu nó thực sự là một loài thuộc bộ cá voi, thì kích thước của nó đã làm lu mờ mọi loài sinh vật biển từng được khoa học phân loại. Cứ thử lấy trung bình cộng từ những lần quan sát ở các thời điểm khác nhau-gạt bỏ đi ước tính dè dặt của những người cho rằng vật thể này chỉ dài hai trăm feet, và cũng bác bỏ luôn những lời đồn thổi phóng đại cho rằng nó rộng tới một dặm và dài ba dặm-chúng ta hoàn toàn có thể đi đến một kết luận thỏa đáng: sinh vật bí ẩn này, nếu có thực, chắc chắn vượt xa mọi giới hạn kích thước mà giới ngư học thời bấy giờ công nhận. Và việc nó đã tồn tại là một sự thật không thể chối cãi; xét theo bản tính luôn khao khát những điều kỳ diệu của con người, ta hoàn toàn có thể thấu hiểu sự rúng động đã bao trùm cả thế giới trước hiện tượng siêu nhiên này. Còn việc xếp nó vào chung mâm với những truyền thuyết hoang đường ư, điều đó tuyệt đối không thể xảy ra.
Vào ngày 20 tháng 7 năm 1866, tàu hơi nước Governor Higginson, thuộc Công ty Tàu thủy Calcutta và Burnach, đã đụng độ khối lượng di động này khi cách bờ đông nước Úc chỉ năm dặm. Ban đầu, thuyền trưởng Baker đinh ninh rằng mình đang phải đối mặt với một dải đá ngầm vô danh; ông thậm chí còn chuẩn bị xác định chính xác tọa độ của nó, thì từ vật thể kỳ lạ kia, hai cột nước bất thần phun vọt lên không trung cao tới cả trăm rưỡi feet, xé toạc không gian bằng một tiếng rít chói tai. Trừ phi dải đá ngầm đó là miệng của một mạch nước nóng thi thoảng lại phun trào, còn không thì tàu Governor Higginson đang thực sự đối mặt với một loài thú có vú sống dưới nước chưa từng được biết đến, đang phì phò tuôn ra từ lỗ thở của nó những cột nước hòa lẫn với không khí và hơi nước mịt mù.
Một hiện tượng tương tự lại được ghi nhận vào ngày 23 tháng 7 cùng năm, giữa lòng Thái Bình Dương, bởi tàu Columbus của Công ty Tàu thủy West India và Pacific. Thế nhưng, điều đáng kinh ngạc là sinh vật thuộc bộ cá voi dị thường này lại có thể băng qua đại dương với một tốc độ kinh hồn bạt vía. Bởi lẽ, chỉ trong vỏn vẹn ba ngày, tàu Governor Higginson và tàu Columbus đã lần lượt quan sát thấy nó ở hai vị trí trên hải đồ cách xa nhau tới hơn bảy trăm hải lý.
Mười lăm ngày sau, ở cách đó tới hai ngàn dặm, tàu Helvetia của Compagnie-Nationale và tàu Shannon của Royal Mail Steamship Company, trong lúc đang rẽ sóng đi ngược chiều gió trên vùng biển Đại Tây Dương nằm giữa châu Mỹ và châu Âu, đã đồng loạt phát tín hiệu báo cho nhau về sự xuất hiện của con quái vật tại vĩ độ 42° 15′ Bắc và kinh độ 60° 35′ Tây. Trong khoảnh khắc quan sát chớp nhoáng ấy, họ tin chắc rằng mình có đủ cơ sở để ước lượng chiều dài tối thiểu của loài thú có vú này phải lên tới hơn ba trăm năm mươi feet. Bởi lẽ, cả tàu Shannon lẫn Helvetia đều trông vô cùng bé nhỏ trước mặt nó, dẫu chiều dài từ mũi đến lái của chúng đã chạm mốc ba trăm feet.
Hiện nay, ngay cả những con cá voi khổng lồ nhất, những con thường hay lui tới các vùng biển quanh quần đảo Aleutian, Kulammak và Umgullich, cũng chưa một lần nào vượt quá sáu mươi yard chiều dài.
Những báo cáo này dồn dập được gửi về. Cùng với những ghi nhận mới mẻ từ con tàu xuyên Đại Tây Dương Pereire, một cú va chạm giữa tàu Etna của hãng Inman với sinh vật bí ẩn, đến biên bản chi tiết do các sĩ quan tàu hộ tống Pháp Normandie thảo ra, và cả cuộc khảo sát vô cùng chuẩn xác của đội ngũ Phó đề đốc Fitz-James trên tàu Lord Clyde - tất cả đã giáng một đòn mạnh mẽ vào dư luận. Những kẻ nông cạn thì chỉ biết lấy đó làm trò cười, nhưng các quốc gia thực tế như Anh, Mỹ và Đức lại đón nhận sự việc với thái độ vô cùng nghiêm túc.
Tại bất kỳ chốn đông người nào, sinh vật kỳ bí kia cũng trở thành chủ đề nóng hổi. Người ta ngâm nga hát về nó trong các quán cà phê, buông lời bỡn cợt trên mặt báo, và đưa hẳn lên sân khấu nhạc kịch. Hàng vạn câu chuyện kỳ đản được thêu dệt nên. Trên các tờ báo bắt đầu tràn ngập những bức biếm họa phác họa mọi loài sinh vật khổng lồ và quái đản nhất: từ con cá voi trắng "Moby Dick"1 - nỗi khiếp sợ của vùng cực bắc, cho đến loài thủy quái kraken2 khổng lồ với những chiếc xúc tu có thể siết nát con tàu năm trăm tấn rồi kéo tuột xuống vực thẳm đại dương mênh mông. Thậm chí, những huyền thoại xa xưa cũng được dịp trỗi dậy. Những luận điểm của Aristotle3 và Pliny4 về sự hiện diện của thủy quái được mang ra bàn tán. Người ta còn khơi lại cả những truyền thuyết dân gian Na Uy của Giám mục Pontoppidan5, những dòng ghi chép của Paul Heggede, và cuối cùng là báo cáo của ngài Harrington - một người nổi tiếng chính trực. Ngài đã quả quyết rằng, vào năm 1857 khi đi trên con tàu Castillan, chính mắt ngài đã trông thấy loài rắn biển khổng lồ, một sinh vật mà trước thời khắc ấy vốn dĩ chỉ bơi lội trên những trang giấy của tờ báo lâu đời "Constitutionnel"6.
Rồi từ đó, một cuộc bút chiến không hồi kết nổ ra giữa hai phe tin tưởng và hoài nghi, lan rộng khắp các hiệp hội học thuật cho đến những trang tạp chí khoa học. "Vấn đề thủy quái" thực sự đã thiêu đốt mọi tâm trí. Những biên tập viên của các tờ báo khoa học đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để tranh cãi nảy lửa với những kẻ tin vào sức mạnh siêu nhiên. Thậm chí có kẻ còn phải đổ cả máu, bởi lẽ từ cuộc tranh luận về loài rắn biển, họ đã chuyển sang mạt sát cá nhân nhau.
Ròng rã suốt sáu tháng trời, cuộc chiến truyền thông đã diễn ra với đủ mọi thăng trầm. Nó lan tới tận các bài xã luận của Viện Địa lý Brazil, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Berlin, Hiệp hội Anh, hay Viện Smithsonian ở Washington. Nó hiện diện trong các cuộc tranh luận của tờ "Indian Archipelago", tạp chí Cosmos của Abbé Moigno, tờ Mittheilungen của Petermann, cùng vô số biên niên sử khoa học của những tòa soạn lớn tại Pháp và quốc tế. Các tờ báo lá cải thì đáp trả bằng một thái độ gay gắt và sự hăng hái tột độ. Những ngòi bút châm biếm đã nhại lại câu nói của Linnæus7 để phản bác những người tin vào con quái vật: "tự nhiên không tạo ra những kẻ ngốc". Họ kêu gọi người đời đừng cố dối lừa tự nhiên khi thừa nhận sự tồn tại của kraken, rắn biển, "Moby Dick", cùng những thứ hoang đường khác bước ra từ ảo mộng của bọn thủy thủ điên rồ. Và rồi cuối cùng, một bài viết sắc sảo trên một tờ báo châm biếm danh tiếng, dưới ngòi bút của vị tổng biên tập tài hoa, đã hoàn toàn kết liễu con quái vật. Hệt như người hùng Hippolytus8, ông đã tung đòn chí mạng hạ gục nó giữa muôn ngàn tiếng cười vang dội khắp chốn. Rốt cuộc, sự trào phúng đã chiến thắng khoa học.
Vào những tháng đầu năm 1867, khi câu chuyện tưởng chừng đã dần chìm vào quên lãng và vĩnh viễn bị vùi sâu dưới lớp bụi thời gian, thì những biến cố mới lại bất ngờ trỗi dậy, thu hút mọi ánh nhìn của công chúng. Giờ đây, tâm điểm của sự chú ý chẳng còn là một bài toán khoa học hóc búa chờ lời giải đáp, mà đã hiện hình thành một mối đe dọa thực sự, buộc con người phải nghiêm túc đề phòng. Cục diện đã mang một sắc thái hoàn toàn khác biệt. Con quái thú bí ẩn kia bỗng chốc hóa thành một hòn đảo nhỏ, một tảng đá mồ côi hay một dải đá ngầm, nhưng lại là một bãi ngầm khổng lồ mang hình hài bất định và không ngừng luân chuyển.
Vào ngày 5 tháng 3 năm 1867, con tàu Moravian thuộc Công ty Đại dương Montreal, khi đang băng mình rẽ sóng giữa màn đêm tĩnh mịch ở vĩ độ 27° 30′ và kinh độ 72° 15′, đã bất ngờ va mạnh phần đuôi mạn phải vào một tảng đá ngầm chưa từng được ghi nhận trên bất kỳ bản đồ hàng hải nào của vùng biển ấy. Dưới sức đẩy cuồng nộ của gió trời kết hợp cùng cỗ máy uy lực bốn trăm mã lực, con tàu đang lao đi với vận tốc mười ba knot9. Nếu chẳng may thân tàu Moravian không được chế tác bằng một độ bền vững phi thường, hẳn nó đã vỡ nát sau cú va đập kinh hoàng ấy, kéo theo cả 237 sinh mạng hành khách trên chuyến hải trình từ Canada trở về quê nhà chìm nghỉm xuống đáy biển sâu.
Tai nạn ập đến vào khoảng năm giờ sáng, khoảnh khắc rạng đông vừa chớm hửng. Các sĩ quan trực ca trên boong tàu hốt hoảng lao vội ra phía đuôi tàu. Với sự thận trọng cao độ, họ căng mắt soi sục từng thước sóng trên mặt biển khơi. Thế nhưng, đập vào mắt họ chẳng có gì ngoài một vùng nước xoáy cuộn dữ dội cách đó chừng ba chiều dài cáp10, tựa như lòng đại dương vừa bị một thế lực bí ẩn nào đó cày xới điên cuồng. Sau khi cẩn thận ghi nhận lại tọa độ nơi xảy ra va chạm, tàu Moravian tiếp tục giương buồm vượt sóng mà dường như không chịu bất kỳ tổn thất nào rõ rệt. Liệu nó vừa lao vào một tảng đá ngầm hay vấp phải phần xác khổng lồ của một con tàu đắm? Chẳng ai dám buông lời khẳng định; nhưng mãi về sau, khi đưa con tàu vào xưởng để kiểm tra phần đáy, người ta mới bàng hoàng phát hiện một đoạn sống thuyền đã bị bẻ gãy.
Biến cố nghiêm trọng này, đáng lẽ ra cũng sẽ chịu chung số phận bị dòng thời gian gột rửa như bao sự kiện khác, nếu như đúng ba tuần sau đó, thảm kịch ấy không một lần nữa tái diễn trong những hoàn cảnh hệt như lúc ban đầu. Giờ đây, nhờ vào quốc tịch của con tàu gặp nạn, cũng như danh tiếng lẫy lừng của công ty hàng hải chủ quản, thông tin về vụ va chạm đã bùng nổ và lan truyền rộng rãi khắp mọi bến cảng.
Ngày 13 tháng 4 năm 1867, giữa khung cảnh biển xanh hiền hòa và gió thuận buồm xuôi, con tàu Scotia của hãng Cunard Company đang kiêu hãnh rẽ sóng ở kinh độ 15° 12′ và vĩ độ 45° 37′. Vận tốc của nó khi ấy đạt mức mười ba phẩy năm hải lý một giờ.
Đúng bốn giờ mười bảy phút chiều, giữa lúc các hành khách đang quây quần thưởng thức bữa lửng trong không gian sang trọng của phòng khách lớn, một chấn động nhẹ bất ngờ truyền dọc theo thân tàu Scotia. Vị trí va chạm nằm ở phần đuôi, hơi xế về phía sau guồng mái chèo bên mạn trái.
Không phải Scotia lao vào vật cản, mà chính nó đã hứng chịu một cú đâm trực diện. Kẻ thủ ác dường như là một sinh vật hay vật thể nào đó vô cùng sắc nhọn, mang sức xuyên thấu khủng khiếp chứ chẳng phải một khối tù túng hay nặng nề. Chấn động ấy thoảng qua êm ái đến độ chẳng mấy ai bận tâm, cho tới khi tiếng la thất thanh của tốp thợ mộc trực ban xé toạc bầu không khí yên bình. Họ vội vã lao lên đài chỉ huy, kinh hoàng gào thét: "Chúng ta đang chìm! Tàu đang chìm!". Nỗi khiếp đảm tức thì bao trùm lấy đám đông hành khách. Nhưng Thuyền trưởng Anderson đã nhanh chóng bước ra trấn an tất cả. Mối nguy chưa thể đoạt mạng họ ngay lập tức, bởi Scotia được thiết kế kiên cố với bảy khoang ngăn cách bằng những vách thép vững chãi, đủ sức thách thức mọi rủi ro thủng vỡ.
Ngay lập tức, Thuyền trưởng Anderson bước xuống hầm tàu. Đập vào mắt ông là cảnh nước biển đang ồ ạt tuôn vào khoang thứ năm; dòng chảy xiết và cuồn cuộn chứng tỏ áp lực bên ngoài lớn đến mức nào. Thật may mắn, đây không phải là khoang chứa nồi hơi, bằng không, toàn bộ hỏa lò sẽ bị nhấn chìm và dập tắt trong chớp mắt. Vị thuyền trưởng tức tốc ban lệnh ngưng toàn bộ động cơ, đồng thời cử người lặn xuống để đánh giá tình hình thực tế. Chỉ vài phút sau, nguyên nhân đã sáng tỏ: một lỗ thủng khổng lồ, đường kính lên tới gần hai mét, đang há hoác ngay dưới đáy tàu. Chẳng có cách nào bịt kín một vết rách tàn khốc đến vậy. Thế là, mang theo những guồng mái chèo chìm khuất một nửa dưới làn nước lạnh lẽo, Scotia buộc phải chật vật lết tiếp quãng đường còn lại. Vị trí khi ấy cách mũi Cape Clear chừng ba trăm dặm. Mãi đến ba ngày sau, giữa muôn vàn tiếng thở phào xen lẫn bất an lan truyền khắp thành phố Liverpool, con tàu mới lết được vào âu thuyền của công ty chủ quản.
Khi Scotia được kích lên ụ nổi, các kỹ sư lành nghề nhất đã lập tức có mặt để kiểm tra tình trạng con tàu. Những gì hiện ra trước mắt khiến họ sững sờ đến mức chẳng dám tin vào chính mình. Ngay dưới vạch mớn nước11 chừng hai mét rưỡi, một vết rách hoác ra với hình thù tam giác cân hoàn hảo đến gai người. Mép thép bị xé toạc sắc lẹm, phảng phất dấu ấn tinh ngót của một cỗ máy đột dập khổng lồ chứ không hề mang nét xù xì của tự nhiên. Rõ ràng, thứ vũ khí tạo ra vết thương chí mạng này vượt xa mọi hiểu biết thông thường. Lạ lùng hơn nữa, sau khi giáng một đòn sấm sét xuyên thủng lớp thép đặc dày hơn ba phân, nó đã bằng cách nào đó tự động rút ra khỏi thân tàu theo một quỹ đạo giật lùi đầy bí ẩn.
Biến cố này chính là giọt nước tràn ly, thổi bùng lên một cơn bão dư luận còn sục sôi hơn bao giờ hết. Từ thời khắc đó, mọi tai ương trên biển khơi mà không thể viện đến một nguyên cớ rành rọt nào, tất thảy đều bị giáng xuống đầu "con quái vật". Bao nhiêu tội lỗi của những vụ đắm tàu tang thương - vốn dĩ luôn chiếm một con số nhức nhối - giờ đây đồng loạt trút lên sinh vật huyền bí kia. Cần biết rằng, trong số khoảng ba ngàn con tàu được cơ quan Lloyd's12 ghi nhận gặp nạn mỗi năm, thì những chiếc tàu buồm và tàu hơi nước biến mất không để lại dù chỉ một dấu vết mỏng manh cũng đã lên tới không dưới hai trăm chiếc!
Thế là giờ đây, bằng sự gán ghép dù có lý hay chăng, chính "con quái vật" ấy phải gánh lấy bản án cho mọi sự bốc hơi bí ẩn giữa đại dương, biến những hải trình nối liền các châu lục trở thành những chuyến đi đánh cược sinh tử. Một làn sóng phẫn nộ lan rộng; công chúng kiên quyết đòi hỏi phải thanh trừng loài thủy quái đáng sợ này, trả lại sự bình yên cho những nẻo đường biển, và họ sẵn sàng đánh đổi bằng bất cứ giá nào.
-
Moby Dick là tên con cá voi trắng khổng lồ trong cuốn tiểu thuyết kinh điển cùng tên của nhà văn Mỹ Herman Melville, xuất bản năm 1851. Tác phẩm này nổi tiếng đến mức tên con cá voi trở thành biểu tượng cho những sinh vật biển khổng lồ và đáng sợ. ↩
-
Kraken là một loài thủy quái khổng lồ trong truyền thuyết Bắc Âu, thường được miêu tả giống như một con bạch tuộc hoặc mực khổng lồ có khả năng vươn xúc tu kéo chìm cả những con tàu lớn. ↩
-
Aristotle (384-322 TCN) là triết gia và nhà bách khoa toàn thư lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại. Ông là một trong những người đầu tiên trong lịch sử ghi chép và phân loại các loài động vật tự nhiên, bao gồm cả sinh vật biển. ↩
-
Pliny Lão Tướng (23-79 SCN) là nhà văn, nhà tự nhiên học người La Mã. Cuốn bách khoa toàn thư 'Lịch sử Tự nhiên' của ông chứa đựng nhiều ghi chép về các sinh vật biển kỳ lạ được dân gian lưu truyền thời bấy giờ. ↩
-
Erik Pontoppidan (1698-1764) là một giám mục và học giả người Đan Mạch. Trong cuốn 'Lịch sử Tự nhiên của Na Uy', ông đã ghi chép lại nhiều truyền thuyết vùng Scandinavia về quái vật biển khổng lồ, bao gồm cả loài kraken. ↩
-
Le Constitutionnel là một tờ báo có sức ảnh hưởng lớn tại Pháp trong thế kỷ 19, đôi khi đăng tải những tin tức giật gân, thiếu kiểm chứng khoa học. ↩
-
Carl Linnaeus (1707-1778) là nhà khoa học người Thụy Điển, được mệnh danh là 'cha đẻ của phân loại học hiện đại'. Câu nói nguyên bản bằng tiếng Latinh của ông là 'Natura non facit saltus' (Tự nhiên không có những bước nhảy vọt), nhưng ở đây bị giới báo chí cố tình xuyên tạc thành một câu châm biếm. ↩
-
Hippolytus là một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, người đã chiến đấu với một con thủy quái khổng lồ. Ở đây, tác giả dùng hình ảnh này để ví von một cách trào phúng việc vị tổng biên tập dùng ngòi bút 'tiêu diệt' con quái vật trong dư luận. ↩
-
Knot (hải lý/giờ) là đơn vị đo tốc độ phổ biến trong hàng hải. Một knot tương đương khoảng 1,852 km/h. ↩
-
Chiều dài cáp (cable length) là một đơn vị đo chiều dài trong hàng hải, thường tương đương 1/10 hải lý, tức khoảng 185 mét. ↩
-
Vạch mớn nước là đường ranh giới trên thân tàu ngăn cách phần chìm dưới nước và phần nổi trên mặt nước. Một lỗ thủng dưới vạch này sẽ khiến nước biển tràn thẳng vào trong tàu. ↩
-
Lloyd's of London là một tổ chức và thị trường bảo hiểm hàng hải danh tiếng bậc nhất thế giới có trụ sở tại Anh, chuyên thống kê và phân tích các rủi ro tổn thất tàu thuyền. ↩
CHAPTER I A SHIFTING REEF
The year 1866 was signalised by a remarkable incident, a mysterious and puzzling phenomenon, which doubtless no one has yet forgotten. Not to mention rumours which agitated the maritime population and excited the public mind, even in the interior of continents, seafaring men were particularly excited. Merchants, common sailors, captains of vessels, skippers, both of Europe and America, naval officers of all countries, and the Governments of several states on the two continents, were deeply interested in the matter.
For some time past, vessels had been met by “an enormous thing,” a long object, spindle-shaped, occasionally phosphorescent, and infinitely larger and more rapid in its movements than a whale.
The facts relating to this apparition (entered in various log-books) agreed in most respects as to the shape of the object or creature in question, the untiring rapidity of its movements, its surprising power of locomotion, and the peculiar life with which it seemed endowed. If it was a cetacean, it surpassed in size all those hitherto classified in science. Taking into consideration the mean of observations made at divers times,-rejecting the timid estimate of those who assigned to this object a length of two hundred feet, equally with the exaggerated opinions which set it down as a mile in width and three in length,-we might fairly conclude that this mysterious being surpassed greatly all dimensions admitted by the ichthyologists of the day, if it existed at all. And that it did exist was an undeniable fact; and, with that tendency which disposes the human mind in favour of the marvellous, we can understand the excitement produced in the entire world by this supernatural apparition. As to classing it in the list of fables, the idea was out of the question.
On the 20th of July, 1866, the steamer Governor Higginson, of the Calcutta and Burnach Steam Navigation Company, had met this moving mass five miles off the east coast of Australia. Captain Baker thought at first that he was in the presence of an unknown sandbank; he even prepared to determine its exact position, when two columns of water, projected by the inexplicable object, shot with a hissing noise a hundred and fifty feet up into the air. Now, unless the sandbank had been submitted to the intermittent eruption of a geyser, the Governor Higginson had to do neither more nor less than with an aquatic mammal, unknown till then, which threw up from its blow-holes columns of water mixed with air and vapour.
Similar facts were observed on the 23rd of July in the same year, in the Pacific Ocean, by the Columbus, of the West India and Pacific Steam Navigation Company. But this extraordinary cetaceous creature could transport itself from one place to another with surprising velocity; as, in an interval of three days, the Governor Higginson and the Columbus had observed it at two different points of the chart, separated by a distance of more than seven hundred nautical leagues.
Fifteen days later, two thousand miles farther off, the Helvetia, of the Compagnie-Nationale, and the Shannon, of the Royal Mail Steamship Company, sailing to windward in that portion of the Atlantic lying between the United States and Europe, respectively signalled the monster to each other in 42° 15′ N. lat. and 60° 35′ W. long. In these simultaneous observations they thought themselves justified in estimating the minimum length of the mammal at more than three hundred and fifty feet, as the Shannon and Helvetia were of smaller dimensions than it, though they measured three hundred feet over all.
Now the largest whales, those which frequent those parts of the sea round the Aleutian, Kulammak, and Umgullich islands, have never exceeded the length of sixty yards, if they attain that.
These reports arriving one after the other, with fresh observations made on board the transatlantic ship Pereire, a collision which occurred between the Etna of the Inman line and the monster, a procès verbal directed by the officers of the French frigate Normandie, a very accurate survey made by the staff of Commodore Fitz-James on board the Lord Clyde, greatly influenced public opinion. Light-thinking people jested upon the phenomenon, but grave practical countries, such as England, America, and Germany, treated the matter more seriously.
In every place of great resort the monster was the fashion. They sang of it in the cafés, ridiculed it in the papers, and represented it on the stage. All kinds of stories were circulated regarding it. There appeared in the papers caricatures of every gigantic and imaginary creature, from the white whale, the terrible “Moby Dick” of hyperborean regions, to the immense kraken whose tentacles could entangle a ship of five hundred tons, and hurry it into the abyss of the ocean. The legends of ancient times were even resuscitated, and the opinions of Aristotle and Pliny revived, who admitted the existence of these monsters, as well as the Norwegian tales of Bishop Pontoppidan, the accounts of Paul Heggede, and, last of all, the reports of Mr. Harrington (whose good faith no one could suspect), who affirmed that, being on board the Castillan, in 1857, he had seen this enormous serpent, which had never until that time frequented any other seas but those of the ancient “Constitutionnel.”
Then burst forth the interminable controversy between the credulous and the incredulous in the societies of savants and the scientific journals. “The question of the monster” inflamed all minds. Editors of scientific journals, quarrelling with believers in the supernatural, spilled seas of ink during this memorable campaign, some even drawing blood; for, from the sea-serpent they came to direct personalities.
For six months war was waged with various fortune in the leading articles of the Geographical Institution of Brazil, the Royal Academy of Science of Berlin, the British Association, the Smithsonian Institution of Washington, in the discussions of the “Indian Archipelago,” of the Cosmos of the Abbé Moigno, in the Mittheilungen of Petermann, in the scientific chronicles of the great journals of France and other countries. The cheaper journals replied keenly and with inexhaustible zest. These satirical writers parodied a remark of Linnæus, quoted by the adversaries of the monster, maintaining “that nature did not make fools,” and adjured their contemporaries not to give the lie to nature, by admitting the existence of krakens, sea-serpents, “Moby Dicks,” and other lucubrations of delirious sailors. At length an article in a well-known satirical journal by a favourite contributor, the chief of the staff, settled the monster, like Hippolytus, giving it the death-blow amidst an universal burst of laughter. Wit had conquered science.
During the first months of the year 1867 the question seemed buried, never to revive, when new facts were brought before the public. It was then no longer a scientific problem to be solved, but a real danger seriously to be avoided. The question took quite another shape. The monster became a small island, a rock, a reef, but a reef of indefinite and shifting proportions.
On the 5th of March, 1867, the Moravian, of the Montreal Ocean Company, finding herself during the night in 27° 30′ lat. and 72° 15′ long., struck on her starboard quarter a rock, marked in no chart for that part of the sea. Under the combined efforts of the wind and its four hundred horse-power, it was going at the rate of thirteen knots. Had it not been for the superior strength of the hull of the Moravian, she would have been broken by the shock and gone down with the 237 passengers she was bringing home from Canada.
The accident happened about five o’clock in the morning, as the day was breaking. The officers of the quarter-deck hurried to the after-part of the vessel. They examined the sea with the most scrupulous attention. They saw nothing but a strong eddy about three cables’ length distant, as if the surface had been violently agitated. The bearings of the place were taken exactly, and the Moravian continued its route without apparent damage. Had it struck on a submerged rock, or on an enormous wreck? they could not tell; but on examination of the ship’s bottom when undergoing repairs, it was found that part of her keel was broken.
This fact, so grave in itself, might perhaps have been forgotten like many others if, three weeks after, it had not been re-enacted under similar circumstances. But, thanks to the nationality of the victim of the shock, thanks to the reputation of the company to which the vessel belonged, the circumstance became extensively circulated.
The 13th of April, 1867, the sea being beautiful, the breeze favourable, the Scotia, of the Cunard Company’s line, found herself in 15° 12′ long. and 45° 37′ lat. She was going at the speed of thirteen knots and a half.
At seventeen minutes past four in the afternoon, whilst the passengers were assembled at lunch in the great saloon, a slight shock was felt on the hull of the Scotia, on her quarter, a little aft of the port-paddle.
The Scotia had not struck, but she had been struck, and seemingly by something rather sharp and penetrating than blunt. The shock had been so slight that no one had been alarmed, had it not been for the shouts of the carpenter’s watch, who rushed on to the bridge, exclaiming, “We are sinking! we are sinking!” At first the passengers were much frightened, but Captain Anderson hastened to reassure them. The danger could not be imminent. The Scotia, divided into seven compartments by strong partitions, could brave with impunity any leak. Captain Anderson went down immediately into the hold. He found that the sea was pouring into the fifth compartment; and the rapidity of the influx proved that the force of the water was considerable. Fortunately this compartment did not hold the boilers, or the fires would have been immediately extinguished. Captain Anderson ordered the engines to be stopped at once, and one of the men went down to ascertain the extent of the injury. Some minutes afterwards they discovered the existence of a large hole, of two yards in diameter, in the ship’s bottom. Such a leak could not be stopped; and the Scotia, her paddles half submerged, was obliged to continue her course. She was then three hundred miles from Cape Clear, and after three days’ delay, which caused great uneasiness in Liverpool, she entered the basin of the company.
The engineers visited the Scotia, which was put in dry dock. They could scarcely believe it possible; at two yards and a half below water-mark was a regular rent, in the form of an isosceles triangle. The broken place in the iron plates was so perfectly defined that it could not have been more neatly done by a punch. It was clear, then, that the instrument producing the perforation was not of a common stamp; and after having been driven with prodigious strength, and piercing an iron plate 1-3/8 inches thick, had withdrawn itself by a retrograde motion truly inexplicable.
Such was the last fact, which resulted in exciting once more the torrent of public opinion. From this moment all unlucky casualties which could not be otherwise accounted for were put down to the monster. Upon this imaginary creature rested the responsibility of all these shipwrecks, which unfortunately were considerable; for of three thousand ships whose loss was annually recorded at Lloyd’s, the number of sailing and steam ships supposed to be totally lost, from the absence of all news, amounted to not less than two hundred!
Now, it was the “monster” who, justly or unjustly, was accused of their disappearance, and, thanks to it, communication between the different continents became more and more dangerous. The public demanded peremptorily that the seas should at any price be relieved from this formidable cetacean.