CHƯƠNG II: NHỮNG Ý KIẾN TRÁI CHIỀU
Vào thời điểm những sự kiện kỳ lạ này nổ ra, tôi vừa trở về từ một chuyến thám hiểm khoa học tại vùng hoang mạc khắc nghiệt Nebraska1, Hoa Kỳ. Dưới danh nghĩa Trợ lý Giáo sư tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris2, tôi được Chính phủ Pháp cử đi tháp tùng đoàn khảo sát. Sau nửa năm ròng rã ở Nebraska, tôi đặt chân đến New York vào cuối tháng Ba, mang theo mình một bộ sưu tập vô giá. Chuyến tàu đưa tôi hồi hương dự kiến khởi hành vào đầu tháng Năm. Trong lúc chờ đợi ngày nhổ neo, tôi vùi đầu vào việc phân loại mớ mẫu vật khoáng vật, thực vật và động vật đồ sộ của mình, thì thảm kịch xảy đến với chiếc tàu Scotia.
Lẽ đương nhiên, tôi nắm tường tận cái chủ đề đang làm dư luận sục sôi lúc bấy giờ. Làm sao mà đứng ngoài cuộc cho được? Tôi đã lật tung mọi tờ báo từ Mỹ chí Âu, đọc đi đọc lại đến mòn cả mắt mà vẫn chẳng thể vớt vát được một kết luận thỏa đáng nào. Bí ẩn này bủa vây lấy tôi, khiến tâm trí tôi rối bời. Đứng trước một câu đố không lời giải đáp, dòng suy tưởng của tôi cứ bồng bềnh trôi dạt từ thái cực này sang thái cực khác. Nhưng có một sự thật không thể chối cãi: một "thứ gì đó" thực sự tồn tại. Những kẻ hoài nghi cứng đầu nhất cũng đã được mời đến để tận tay sờ vào "vết thương" chí mạng của tàu Scotia.
Khi tôi đến New York, làn sóng tranh cãi đã lên đến đỉnh điểm. Cái giả thuyết nực cười về một hòn đảo nổi hay một dải đá ngầm bất khả xâm phạm, vốn chỉ được thốt ra từ những bộ óc nông cạn, đã nhanh chóng bị ném vào sọt rác. Quả thực, nếu cái dải đá ngầm ấy không giấu một cỗ máy trong bụng, thì làm thế nào nó có thể thoắt ẩn thoắt hiện với tốc độ xé gió đến thế?
Chính vì lẽ đó, cái ý tưởng gán ghép nó cho phần thân nổi của một xác tàu đắm khổng lồ cũng chịu chung số phận bị loại bỏ.
Vậy là, bản danh sách những lời giải đáp khả dĩ chỉ còn vỏn vẹn hai cái tên, kéo theo sự ra đời của hai phe phái đối lập gay gắt: một bên khăng khăng đó là một con thủy quái mang sức mạnh kinh thiên động địa; bên còn lại thì đinh ninh đó là một chiếc tàu ngầm được trang bị thứ động cơ vô song.
Thế nhưng, giả thuyết thứ hai, dẫu nghe qua có vẻ lọt tai, lại nhanh chóng sụp đổ trước những cuộc điều tra ráo riết trải dài trên cả hai bờ đại dương. Thật khó tin khi một cá nhân nào đó lại đủ sức thâu tóm một cỗ máy phi thường dường ấy. Nó được phôi thai ở đâu, vào lúc nào, và bằng cách nào? Quan trọng hơn, làm sao người ta có thể bưng bít được cả một đại công trình chế tạo vĩ đại như vậy? Chắc hẳn chỉ có một Chính phủ mới đủ tầm vóc để sở hữu một thứ vũ khí hủy diệt đáng gờm đến thế. Trong cái thời buổi nhiễu nhương này, khi trí óc con người đang không ngừng chạy đua để nhân lên gấp bội sức mạnh của những cỗ máy giết chóc, thì hoàn toàn có khả năng một quốc gia bí ẩn nào đó đã âm thầm đưa vào thử nghiệm một phát minh kinh hoàng. Hết súng trường chassepot3 lại đến ngư lôi, sau ngư lôi lại là tàu ngầm trang bị mũi nhọn đâm va, và rồi-chắc hẳn phải có một giới hạn nào đó. Ít nhất thì, tôi hy vọng là vậy.
Dù vậy, giả thuyết về một cỗ máy chiến tranh cũng tan thành mây khói trước những lời phủ nhận đanh thép từ các Chính phủ. Khi lợi ích chung đang bị đe dọa nghiêm trọng và mạng lưới thông tin liên lạc xuyên Đại Tây Dương bị gián đoạn, người ta chẳng có lý do gì để nghi ngờ tính xác thực trong những lời tuyên bố ấy. Hơn nữa, làm sao người ta có thể tin rằng việc đóng một chiếc tàu ngầm đồ sộ như vậy lại có thể qua mặt được con mắt tinh tường của công chúng? Giấu giếm một bí mật động trời trong hoàn cảnh như vậy đã là chuyện mò kim đáy biển với một cá nhân, còn đối với một quốc gia luôn bị các cường quốc đối thủ rình rập, dò xét từng đường đi nước bước, thì đó quả là chuyện không tưởng.
Sau những cuộc điều tra gắt gao được tiến hành từ Anh, Pháp, Nga, Phổ, Tây Ban Nha, Ý, cho đến Mỹ, và thậm chí là cả Thổ Nhĩ Kỳ, cái giả thuyết về một chiếc tàu ngầm thiết giáp bọc thép đã chính thức bị chôn vùi.
Khi tôi đặt chân đến New York, đã có vài vị khách quý mến tìm đến xin ý kiến về hiện tượng kỳ lạ này. Trước đó, tôi từng xuất bản tại Pháp một công trình đồ sộ mang tên “Những bí ẩn của đáy biển sâu”, gồm hai tập. Cuốn sách vốn được giới học thuật đánh giá cao, đã mang lại cho tôi một danh tiếng nhất định trong lĩnh vực còn khá mơ hồ này của Lịch sử Tự nhiên. Người ta đua nhau đến xin tôi một lời khuyên. Chừng nào thực tế còn cho phép, tôi vẫn khăng khăng bác bỏ mọi đồn đoán. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, khi bị dồn vào chân tường, tôi buộc phải lên tiếng giải thích cặn kẽ. Thậm chí tờ New York Herald4 cũng đăng đàn kêu gọi "Ngài Pierre Aronnax đáng kính, Giáo sư tại Bảo tàng Paris" đưa ra một nhận định xác đáng. Đã đến nước này, tôi không thể ngồi yên, bởi sự im lặng không còn là vàng nữa. Tôi đã đem vấn đề ra mổ xẻ trên mọi phương diện, từ góc độ chính trị cho đến lăng kính khoa học. Dưới đây, tôi xin trích dẫn một đoạn từ bài viết đã được nghiên cứu tường tận mà tôi đăng trên số báo ngày 30 tháng Tư. Bài báo viết như sau:-
“Sau khi cân nhắc từng giả thuyết một và gạt bỏ mọi luồng ý kiến khác, chúng ta đành phải thừa nhận sự hiện diện của một loài động vật biển mang sức mạnh vô song.
“Những vùng biển sâu thẳm xưa nay vẫn là một ẩn số hoàn toàn xa lạ. Các thiết bị đo độ sâu tiên tiến nhất cũng chẳng thể vươn tới. Dưới chốn thẳm sâu mù khơi ấy đang ẩn chứa những gì-những sinh vật nào đang cư ngụ hay có thể sinh tồn ở độ sâu mười hai đến mười lăm dặm dưới mặt nước-cấu tạo cơ thể chúng ra sao, trí óc ta khó lòng phỏng đoán. Dẫu vậy, cách tiếp cận bài toán đặt ra cho tôi có thể thay đổi cục diện của tình thế tiến thoái lưỡng nan này. Hoặc là chúng ta đã nắm tường tận mọi loài sinh vật trên hành tinh này, hoặc là chưa. Nếu thực sự chúng ta chưa biết hết-nếu Tạo hóa vẫn còn giấu giếm con người những bí ẩn của ngư học5, thì thật hợp lý khi tin rằng đang tồn tại các loài cá, hay các động vật thuộc bộ cá voi, hoặc thậm chí là những giống loài hoàn toàn mới. Cấu tạo cơ thể chúng được định hình để bám trụ ở những tầng nước sâu thẳm mà máy móc không thể với tới, và vì một sự tình cờ kỳ lạ hay thất thường nào đó, chúng lại ngoi lên vùng nước nông sau bao tháng năm dài dặc.
“Ngược lại, nếu chúng ta thực sự đã điểm mặt chỉ tên tất cả sinh vật, ta buộc phải đối chiếu con quái vật này với các loài sinh vật biển đã được phân loại; và trong trường hợp đó, tôi nghiêng về giả thuyết đây là một con kỳ lân biển6 khổng lồ.
“Loài kỳ lân biển thông thường, hay còn gọi là kỳ lân của đại dương, có thể đạt tới chiều dài sáu mươi feet. Cứ thử phóng to nó lên gấp năm, gấp mười lần, ban cho nó một sức mạnh tương xứng, kéo dài vũ khí hủy diệt ra, bạn sẽ có ngay con quái thú đang làm xôn xao dư luận. Nó sẽ mang đúng tỷ lệ mà các sĩ quan trên tàu Shannon đã ghi nhận, sở hữu thứ vũ khí đủ sức xuyên thủng thân tàu Scotia, và mang trong mình sức mạnh đâm toạc vỏ thép của chiếc tàu hơi nước nọ.
“Thực vậy, kỳ lân biển được vũ trang bằng một thứ kiếm ngà, hay một thanh kích7, theo cách gọi của giới tự nhiên học. Chiếc ngà chính của nó rắn chắc tựa thép nguội. Người ta từng tìm thấy những chiếc ngà như thế cắm phập vào mình bầy cá voi-con mồi yếu ớt thường xuyên bị chúng săn lùng. Lại có những chiếc ngà khác từng được chật vật nhổ ra từ đáy các con tàu, nơi chúng đâm xuyên qua ván gỗ ngọt xớt như chiếc dùi khoan xuyên qua thùng rượu. Bảo tàng Khoa Y học Paris8 hiện đang lưu giữ một thứ vũ khí phòng vệ như thế, dài chừng hai thước một phần tư và đường kính phần gốc lên đến mười lăm inch.
“Rất tốt! Vậy hãy cứ giả sử thứ vũ khí này cứng gấp sáu, còn con vật mạnh gấp mười; lao đi với vận tốc hai mươi dặm một giờ, bạn sẽ chứng kiến một cú va chạm dư sức gây ra thảm họa tàn khốc vừa qua. Vì thế, cho đến khi có thêm những manh mối mới, tôi vẫn bảo lưu quan điểm: đây là một con kỳ lân biển có kích thước khổng lồ. Nó không chỉ được trang bị một thanh kích thông thường, mà là một mũi giáp chiến thực thụ, tựa như những chiếc khinh hạm bọc thép hay mũi giáo đâm của tàu chiến, hội tụ cả khối lượng đồ sộ lẫn sức mạnh động cơ kinh hồn. Vậy nên, hiện tượng bí ẩn này hoàn toàn có thể được giải thích theo hướng ấy, trừ phi có một thế lực nào đó vượt xa mọi phỏng đoán, hiểu biết hay trải nghiệm của con người; một điều chỉ tồn tại trong ranh giới của sự khả thi.”
Những lời cuối cùng này chẳng qua chỉ là sự hèn nhát của tôi; dẫu sao, tôi cũng muốn vớt vát chút phẩm giá của một vị Giáo sư, và chẳng dại gì mà tạo cớ cho những người Mỹ chê cười-bởi một khi đã cười, họ cười khoái trá lắm.
Tôi tự dọn sẵn cho mình một lối thoát. Nhưng nhìn nhận một cách thực tế, tôi đã thừa nhận sự hiện diện của con “quái vật”. Bài báo của tôi trở thành tâm điểm bàn tán sôi nổi, mang về một tiếng vang lẫy lừng, và quy tụ được không ít người ủng hộ. Dù sao đi nữa, cách lý giải tôi đưa ra cũng đã chắp cánh cho trí tưởng tượng được tự do bay bổng. Tâm trí con người vốn luôn say mê những khái niệm hùng tráng về các sinh vật siêu nhiên. Và đại dương chính là cái nôi dung dưỡng hoàn hảo nhất, là môi trường duy nhất để những sinh vật khổng lồ ấy-những con thủy quái mà voi hay tê giác trên cạn chỉ là đồ nhỏ bé-có thể sinh sôi và vùng vẫy.
Các tờ báo chuyên ngành công nghiệp và thương mại xem xét vấn đề chủ yếu từ góc độ này. Những tờ như Shipping and Mercantile Gazette, Lloyd’s List9, Packet-Boat, và Maritime and Colonial Review - vốn là tiếng nói của các công ty bảo hiểm đang dọa tăng phí - đều đồng loạt nhất trí. Dư luận đã lên tiếng. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chính là quốc gia tiên phong; ngay tại New York, người ta khẩn trương ráo riết chuẩn bị cho một chuyến thám hiểm hòng truy lùng bằng được con kỳ lân biển này. Chiếc Abraham Lincoln, một khinh hạm vũ trang sở hữu tốc độ đáng gờm, đã được đưa vào trạng thái sẵn sàng xuất kích sớm nhất có thể. Toàn bộ kho vũ khí được mở toang để phục vụ Thuyền trưởng Farragut, người đang tất bật trang bị hỏa lực cho chiến hạm của mình. Thế nhưng, trớ trêu thay, như một lẽ thường tình, đúng vào thời điểm người ta hạ quyết tâm săn lùng thì con quái vật lại lặn mất tăm. Suốt hai tháng ròng rã, không một ai hay biết tin tức gì về nó. Tuyệt nhiên chẳng có con tàu nào chạm trán nó. Dường như con kỳ lân biển ma mãnh ấy thừa biết những mưu đồ giăng sẵn đang bủa vây quanh mình. Người ta đã bàn tán về nó quá nhiều, tin tức truyền đi liên tục qua cả tuyến cáp ngầm dưới đáy Đại Tây Dương10, đến mức những kẻ thích đùa còn kháo nhau rằng hẳn sinh vật quái quỷ kia đã chặn thu được một bức điện báo trên đường bơi của nó và đang tận dụng triệt để thông tin ấy.
Thế nên, khi chiến hạm đã trang bị tận răng, sẵn sàng cho một chiến dịch dài hơi cùng hàng loạt khí tài săn bắt tối tân, thì lại chẳng một ai dám chắc phải nhắm mũi tàu về hướng nào. Sự sốt ruột ngày một leo thang, cho đến mãi ngày 2 tháng Bảy, người ta mới nhận được tin báo: một con tàu hơi nước chạy tuyến San Francisco, trên đường từ California tới Thượng Hải, đã giáp mặt sinh vật này cách đó ba tuần ngay tại vùng biển Bắc Thái Bình Dương. Tin tức ấy lập tức làm bùng nổ một cơn phấn khích tột độ. Chiến hạm nhanh chóng được tiếp tế đầy đủ nhu yếu phẩm và nạp than đầy ắp các hầm chứa.
Đúng ba giờ trước khi con tàu Abraham Lincoln nhổ neo rời bến Brooklyn, tôi nhận được một bức thư với nội dung như sau:-
“Kính gửi ngài ARONNAX, Giáo sư tại Bảo tàng Paris, Khách sạn Fifth Avenue, New York.
“THƯA NGÀI,-Nếu ngài nhận lời đồng hành cùng chiến hạm Abraham Lincoln trong chuyến thám hiểm này, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ vô cùng hân hạnh được thấy sự hiện diện của nước Pháp trong cuộc hành trình. Thuyền trưởng Farragut đã cho chuẩn bị sẵn một phòng riêng trên tàu để đón tiếp ngài.
“Trân trọng,
“J.B. HOBSON,
“Bộ trưởng Hải quân.”
-
Một tiểu bang nằm ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ. Vào thế kỷ 19, nơi đây phần lớn vẫn là những vùng bình nguyên hoang sơ và ít người sinh sống, thu hút nhiều nhà thám hiểm, nghiên cứu. ↩
-
Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp (Muséum national d'Histoire naturelle), một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học và bảo tồn động thực vật lâu đời, danh giá nhất thế giới được thành lập từ thế kỷ 18. ↩
-
Loại súng trường nạp đạn từ khóa nòng do quân đội Pháp sử dụng ở nửa cuối thế kỷ 19, được coi là một trong những vũ khí bộ binh tiên tiến và uy lực nhất thời bấy giờ. ↩
-
Một tờ báo phát hành hàng ngày có lượng độc giả lớn và sức ảnh hưởng mạnh mẽ tại Mỹ vào thế kỷ 19, nổi tiếng với việc thường xuyên tài trợ kinh phí cho các cuộc thám hiểm khoa học và địa lý lớn. ↩
-
Ngành khoa học nghiên cứu chuyên sâu về các loài cá (Ichthyology), một phân nhánh quan trọng của động vật học. ↩
-
Narwhal, một loài động vật có vú ở biển thuộc bộ cá voi sống tại vùng biển Bắc Cực. Con đực có một chiếc răng nanh dài, xoắn ốc nhô ra phía trước giống hệt sừng của loài kỳ lân trong thần thoại. ↩
-
Kích là một loại binh khí cổ xưa có thân dài, mang mũi nhọn để đâm và phần lưỡi phụ để chém. Ở đây tác giả dùng từ này để hình tượng hóa chiếc ngà dài, sắc nhọn của loài kỳ lân biển. ↩
-
Ám chỉ các bộ sưu tập giải phẫu học và y khoa tại Paris thế kỷ 19, nơi chuyên lưu trữ, trưng bày các mẫu vật sinh học quý hiếm phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy. ↩
-
Một trong những ấn phẩm chuyên ngành hàng hải lâu đời nhất thế giới được thành lập tại London (Anh), đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tin tức tàu bè cho ngành bảo hiểm thương mại. ↩
-
Tuyến cáp điện báo xuyên đại dương đầu tiên được đưa vào hoạt động ổn định từ năm 1866. Đây là một kỳ tích kỹ thuật thời bấy giờ giúp việc liên lạc giữa châu Âu và Bắc Mỹ diễn ra gần như tức thời thay vì phải mất nhiều tuần di chuyển bằng tàu. ↩
CHAPTER II PRO AND CON
At the period when these events took place, I had just returned from a scientific research in the disagreeable territory of Nebraska, in the United States. In virtue of my office as Assistant Professor in the Museum of Natural History in Paris, the French Government had attached me to that expedition. After six months in Nebraska, I arrived in New York towards the end of March, laden with a precious collection. My departure for France was fixed for the first days in May. Meanwhile, I was occupying myself in classifying my mineralogical, botanical, and zoological riches, when the accident happened to the Scotia.
I was perfectly up in the subject which was the question of the day. How could I be otherwise? I had read and re-read all the American and European papers without being any nearer a conclusion. This mystery puzzled me. Under the impossibility of forming an opinion, I jumped from one extreme to the other. That there really was something could not be doubted, and the incredulous were invited to put their finger on the wound of the Scotia.
On my arrival at New York the question was at its height. The hypothesis of the floating island, and the unapproachable sandbank, supported by minds little competent to form a judgment, was abandoned. And, indeed, unless this shoal had a machine in its stomach, how could it change its position with such astonishing rapidity?
From the same cause, the idea of a floating hull of an enormous wreck was given up.
There remained then only two possible solutions of the question, which created two distinct parties: on one side, those who were for a monster of colossal strength; on the other, those who were for a submarine vessel of enormous motive power.
But this last hypothesis, plausible as it was, could not stand against inquiries made in both worlds. That a private gentleman should have such a machine at his command was not likely. Where, when, and how was it built? and how could its construction have been kept secret? Certainly a Government might possess such a destructive machine. And in these disastrous times, when the ingenuity of man has multiplied the power of weapons of war, it was possible that, without the knowledge of others, a state might try to work such a formidable engine. After the chassepots came the torpedoes, after the torpedoes the submarine rams, then-the reaction. At least, I hope so.
But the hypothesis of a war machine fell before the declaration of Governments. As public interest was in question, and transatlantic communications suffered, their veracity could not be doubted. But, how admit that the construction of this submarine boat had escaped the public eye? For a private gentleman to keep the secret under such circumstances would be very difficult, and for a state whose every act is persistently watched by powerful rivals, certainly impossible.
After inquiries made in England, France, Russia, Prussia, Spain, Italy, and America, even in Turkey, the hypothesis of a submarine monitor was definitely rejected.
Upon my arrival in New York several persons did me the honour of consulting me on the phenomenon in question. I had published in France a work in quarto, in two volumes, entitled “Mysteries of the Great Submarine Grounds.” This book, highly approved of in the learned world, gained for me a special reputation in this rather obscure branch of Natural History. My advice was asked. As long as I could deny the reality of the fact, I confined myself to a decided negative. But soon, finding myself driven into a corner, I was obliged to explain myself categorically. And even “the Honourable Pierre Aronnax, Professor in the Museum of Paris,” was called upon by the New York Herald to express a definite opinion of some sort. I did something. I spoke, for want of power to hold my tongue. I discussed the question in all its forms, politically and scientifically; and I give here an extract from a carefully-studied article which I published in the number of the 30th of April. It ran as follows:-
“After examining one by one the different hypotheses, rejecting all other suggestions, it becomes necessary to admit the existence of a marine animal of enormous power.
“The great depths of the ocean are entirely unknown to us. Soundings cannot reach them. What passes in those remote depths-what beings live, or can live, twelve or fifteen miles beneath the surface of the waters-what is the organisation of these animals, we can scarcely conjecture. However, the solution of the problem submitted to me may modify the form of the dilemma. Either we do know all the varieties of beings which people our planet, or we do not. If we do not know them all-if Nature has still secrets in ichthyology for us, nothing is more conformable to reason than to admit the existence of fishes, or cetaceans of other kinds, or even of new species, of an organisation formed to inhabit the strata inaccessible to soundings, and which an accident of some sort, either fatastical or capricious, has brought at long intervals to the upper level of the ocean.
“If, on the contrary, we do know all living kinds, we must necessarily seek for the animal in question amongst those marine beings already classed; and, in that case, I should be disposed to admit the existence of a gigantic narwhal.
“The common narwhal, or unicorn of the sea, often attains a length of sixty feet. Increase its size fivefold or tenfold, give it strength proportionate to its size, lengthen its destructive weapons, and you obtain the animal required. It will have the proportions determined by the officers of the Shannon, the instrument required by the perforation of the Scotia, and the power necessary to pierce the hull of the steamer.
“Indeed, the narwhal is armed with a sort of ivory sword, a halberd, according to the expression of certain naturalists. The principal tusk has the hardness of steel. Some of these tusks have been found buried in the bodies of whales, which the unicorn always attacks with success. Others have been drawn out, not without trouble, from the bottoms of ships, which they had pierced through and through, as a gimlet pierces a barrel. The Museum of the Faculty of Medicine of Paris possesses one of these defensive weapons, two yards and a quarter in length, and fifteen inches in diameter at the base.
“Very well! suppose this weapon to be six times stronger and the animal ten times more powerful; launch it at the rate of twenty miles an hour, and you obtain a shock capable of producing the catastrophe required. Until further information, therefore, I shall maintain it to be a sea-unicorn of colossal dimensions, armed not with a halberd, but with a real spur, as the armoured frigates, or the ‘rams’ of war, whose massiveness and motive power it would possess at the same time. Thus may this puzzling phenomenon be explained, unless there be something over and above all that one has ever conjectured, seen, perceived, or experienced; which is just within the bounds of possibility.”
These last words were cowardly on my part; but, up to a certain point, I wished to shelter my dignity as Professor, and not give too much cause for laughter to the Americans, who laugh well when they do laugh.
I reserved for myself a way of escape. In effect, however, I admitted the existence of the “monster.” My article was warmly discussed, which procured it a high reputation. It rallied round it a certain number of partisans. The solution it proposed gave, at least, full liberty to the imagination. The human mind delights in grand conceptions of supernatural beings. And the sea is precisely their best vehicle, the only medium through which these giants (against which terrestrial animals, such as elephants or rhinoceroses, are as nothing) can be produced or developed.
The industrial and commercial papers treated the question chiefly from this point of view. The Shipping and Mercantile Gazette, the Lloyd’s List, the Packet-Boat, and the Maritime and Colonial Review, all papers devoted to insurance companies which threatened to raise their rates of premium, were unanimous on this point. Public opinion had been pronounced. The United States were the first in the field; and in New York they made preparations for an expedition destined to pursue this narwhal. A frigate of great speed, the Abraham Lincoln, was put in commission as soon as possible. The arsenals were opened to Commander Farragut, who hastened the arming of his frigate; but, as it always happens, the moment it was decided to pursue the monster, the monster did not appear. For two months no one heard it spoken of. No ship met with it. It seemed as if this unicorn knew of the plots weaving around it. It had been so much talked of, even through the Atlantic cable, that jesters pretended that this slender fly had stopped a telegram on its passage and was making the most of it.
So when the frigate had been armed for a long campaign, and provided with formidable fishing apparatus, no one could tell what course to pursue. Impatience grew apace, when, on the 2nd of July, they learned that a steamer of the line of San Francisco, from California to Shanghai, had seen the animal three weeks before in the North Pacific Ocean. The excitement caused by this news was extreme. The ship was revictualled and well stocked with coal.
Three hours before the Abraham Lincoln left Brooklyn pier, I received a letter worded as follows:-
“To M. ARONNAX, Professor in the Museum of Paris, Fifth Avenue Hotel, New York.
“SIR,-If you will consent to join the Abraham Lincoln in this expedition, the Government of the United States will with pleasure see France represented in the enterprise. Commander Farragut has a cabin at your disposal.
“Very cordially yours,
“J.B. HOBSON,
“Secretary of Marine.”