CHƯƠNG XIV: MỘT BỨC THƯ MỜI

Hôm sau là ngày 9 tháng Mười một. Tôi choàng tỉnh sau một giấc ngủ say vùi suốt mười hai tiếng đồng hồ. Theo thói quen, Conseil bước vào phòng, ân cần hỏi xem "ngài ngủ có ngon không" và giúp tôi sửa soạn. Cậu cứ để mặc anh bạn người Canada của chúng tôi ngủ vùi, tựa như cả đời anh ta chẳng có việc gì khác ngoài ngủ. Chàng trai tốt bụng ấy cứ luyên thuyên hết chuyện này đến chuyện nọ, còn tôi thì để mặc cậu nói mà chẳng buồn đáp lời. Tâm trí tôi lúc này đang quẩn quanh với sự vắng mặt khó hiểu của Thuyền trưởng trong suốt buổi ngắm cảnh hôm trước, xen lẫn tia hy vọng sẽ được gặp ngài trong ngày hôm nay.

Ngay khi thay đồ xong, tôi bước ra phòng khách. Căn phòng vắng lặng, chẳng có lấy một bóng người.

Để giết thời gian, tôi đắm mình vào việc nghiên cứu bộ sưu tập vỏ ốc vô giá được cất giữ cẩn thận sau những lớp kính. Tôi cũng mải mê chiêm ngưỡng bộ sưu tập thực vật khổng lồ, nơi quy tụ những loài kỳ hoa dị thảo hiếm có nhất của đại dương. Dù đã được sấy khô, chúng vẫn giữ nguyên vẹn sắc màu rực rỡ như thuở còn lênh đênh dưới đáy biển. Giữa vô vàn những loài thủy sinh trân quý ấy, ánh mắt tôi dừng lại ở vài mẫu vorticellæ, pavonariæ, những nhánh ceramies mỏng manh vương sắc đỏ tươi, vài loại agari hình chiếc quạt xòe, và cả những cây natabuli trông tựa như đám nấm dẹt - những sinh vật mà trước đây từng bị xếp nhầm vào nhóm động vật phù du. Có thể nói, đây là một bộ sưu tập tảo biển hoàn mỹ không tì vết.

Cả ngày chậm chạp trôi qua, tôi vẫn không có vinh hạnh được đón Thuyền trưởng Nemo ghé thăm. Những tấm chắn thép ở phòng khách vẫn đóng im ỉm. Phải chăng họ e ngại chúng tôi sẽ đâm ra nhàm chán trước những tuyệt cảnh của đại dương?

Tàu Nautilus vẫn mải miết rẽ sóng theo hướng Đông - Đông Bắc. Tốc độ con tàu duy trì ở mức mười hai hải lý một giờ, êm đềm lướt đi ở độ sâu khoảng hai mươi lăm đến ba mươi sải dưới mặt nước.

Sang ngày hôm sau, mùng 10 tháng Mười một, bao trùm lên chúng tôi vẫn là sự vắng vẻ và tĩnh lặng đến nao lòng. Bặt không thấy bóng dáng một thành viên nào của thủy thủ đoàn. Ned và Conseil quẩn quanh bên tôi gần như suốt cả ngày. Hai người họ tỏ ra vô cùng ngạc nhiên trước sự biến mất đầy bí ẩn của Thuyền trưởng. Liệu người đàn ông kỳ lạ ấy có đang lâm bệnh không? Hay ngài đã thay đổi tâm tính và có ý định khác với chúng tôi?

Dẫu vậy, đúng như lời Conseil nhận định, chúng tôi vẫn được hưởng một sự tự do tuyệt đối. Ngày ngày, những bữa ăn thịnh soạn và no nê vẫn đều đặn được dọn lên. Chủ nhà dường như đang tuân thủ nghiêm ngặt từng điều khoản trong giao kèo. Chúng tôi chẳng có cớ gì để phàn nàn, và quả thực, số phận kỳ lạ đã mang đến những sự bù đắp quá đỗi tuyệt vời, đến mức chúng tôi thấy mình không có quyền buông lời oán trách.

Cũng trong ngày hôm ấy, tôi bắt đầu đặt bút viết những dòng nhật ký đầu tiên về chuyến phiêu lưu kỳ thú này. Chính cuốn sổ ấy sau này đã giúp tôi hồi tưởng và ghi chép lại mọi việc với độ chính xác và tỉ mở đến từng chi tiết. Những dòng chữ được nắn nót trên một loại giấy đặc biệt, dệt nên từ loài cỏ biển zostera marina.

Tờ mờ sáng ngày 11 tháng Mười một, một luồng không khí mát lành, tươi mới ùa vào, len lỏi khắp ngóc ngách của con tàu Nautilus. Dấu hiệu này cho tôi biết tàu đã nổi lên mặt đại dương để nạp lại dưỡng khí. Tôi men theo lối cầu thang trung tâm và rảo bước lên boong tàu.

Đồng hồ điểm sáu giờ sáng. Bầu trời âm u nhiều mây, nhuộm mặt biển thành một màu xám xịt nhưng vô cùng tĩnh lặng, dường như chẳng có lấy một gợn sóng tăn tăn. Liệu Thuyền trưởng Nemo - người mà tôi hằng mong mỏi được gặp lại, có đang đứng đó chăng? Đưa mắt nhìn quanh, tôi chẳng thấy ai ngoài người cầm lái đang thu mình trong buồng kính. Tìm một chỗ ngồi thoải mái trên phần rìa nhô ra của chiếc thuyền phụ, tôi căng lồng ngực, khoan khoái hít căng bầu không khí nhuốm vị mặn mòi của biển cả.

Dần dà, màn sương mù mờ ảo cũng bị xua tan dưới tác động của những tia nắng ban mai. Quả cầu lửa rực rỡ nhô lên từ phía chân trời phương Đông. Dưới ánh nhìn thiêu đốt ấy, mặt nước biển bừng sáng lấp lánh như một dải thuốc súng vừa bén lửa. Những cụm mây rải rác trên cao được nhuộm đủ mọi sắc độ lộng lẫy của tự nhiên, điểm xuyết vô số những vệt "đuôi ngựa" - dấu hiệu báo trước một ngày đầy gió. Nhưng gió thì có sá gì với chiếc Nautilus uy dũng này, một kỳ quan cơ khí mà ngay cả những cơn cuồng phong hung hãn nhất cũng chẳng thể khiến nó nao núng!

Khi tôi đang chìm đắm trong niềm hân hoan trước khung cảnh bình minh rạng rỡ và tràn trề sức sống, thì bỗng có tiếng bước chân vang lên, mỗi lúc một gần hơn trên boong tàu. Tôi vội vã chỉnh đốn trang phục, chuẩn bị cất lời chào Thuyền trưởng Nemo, nhưng người xuất hiện lại là vị thuyền phó (chính là người tôi đã chạm mặt trong lần đầu Thuyền trưởng ghé thăm). Anh ta bước lên boong tàu, đôi mắt dường như chẳng hề lưu tâm đến sự hiện diện của tôi. Áp sát chiếc ống nhòm uy lực vào mắt, anh ta cẩn trọng rà soát từng điểm nhỏ trên đường chân trời. Đảo mắt một vòng, anh ta tiến lại gần cửa sập và buông thõng một câu với những từ ngữ chính xác như thế này. Tôi nhớ như in, bởi sáng nào câu nói ấy cũng được cất lên trong một hoàn cảnh y hệt. Câu đó như sau:

"Nautron respoc lorni virch."

Câu nói bí ẩn ấy mang ý nghĩa gì, tôi đành chịu, chẳng thể nào tường tận.

Vừa dứt lời, viên thuyền phó liền quay gót bước xuống dưới. Linh cảm mách bảo tôi rằng chiếc Nautilus lại sắp sửa lặn xuống để tiếp tục hành trình bí ẩn dưới đáy đại dương. Tôi cũng xoay người hướng về phía cửa sập và chậm rãi trở về phòng mình.

Năm ngày dằng dặc trôi qua theo cách như vậy, hoàn cảnh của chúng tôi chẳng có mảy may thay đổi. Sáng nào tôi cũng đều đặn dạo bước lên boong tàu. Vẫn là người đàn ông đó, vẫn buông tiếng nói với ngữ điệu kỳ lạ đó. Nhưng bóng dáng Thuyền trưởng Nemo thì tuyệt nhiên vẫn bặt tăm.

Tôi những tưởng mình sẽ chẳng bao giờ có cơ hội gặp lại ngài nữa. Cho đến ngày 16 tháng Mười một, khi cùng Ned và Conseil quay về phòng, tôi bắt gặp một bức thư đặt ngay ngắn trên bàn. Chút sốt sắng trào dâng, tôi vội bóc thư. Những dòng chữ hiện ra qua nét mực đậm, rõ ràng; các ký tự hơi vát nhọn gợi nhớ đến kiểu chữ cổ của người Đức. Bức thư viết:

Ngày 16 tháng Mười một, 1867.

GỬI GIÁO SƯ ARONNAX, Trên tàu Nautilus.

Thuyền trưởng Nemo trân trọng kính mời Giáo sư Aronnax tham gia một chuyến đi săn, dự kiến diễn ra vào sáng mai giữa những cánh rừng trên đảo Crespo. Ngài hy vọng Giáo sư sẽ không gặp trở ngại nào để đến dự, và sẽ rất hân hạnh nếu có thêm sự góp mặt của những người bạn đồng hành cùng Giáo sư.

THUYỀN TRƯỞNG NEMO, Chỉ huy tàu Nautilus.

"Một cuộc đi săn cơ đấy!" Ned thốt lên.

"Lại còn trong những cánh rừng trên đảo Crespo nữa!" Conseil bồi thêm.

"Ồ! Vậy ra quý ngài đây định đặt chân lên đất liền sao?" Ned Land ngạc nhiên.

"Thư viết rành rành ra thế này rồi," tôi đáp, mắt vẫn lướt lại những dòng chữ.

"Chà, vậy thì chúng ta phải nhận lời thôi," người Canada gật gù. "Lên được đất liền rồi, chúng ta sẽ tự khắc biết phải làm gì. Quả thực, được thưởng thức một miếng thịt nai tươi lúc này thì tôi cũng chẳng nỡ từ chối đâu."

Tôi chẳng buồn bận tâm lý giải sự mâu thuẫn kỳ lạ này-giữa thái độ quay lưng dứt khoát của Thuyền trưởng Nemo với các hòn đảo và lục địa, và lời mời đi săn giữa rừng của ngài. Tôi chỉ điềm nhiên đáp:

"Trước tiên hãy xem đảo Crespo nằm ở phương trời nào đã."

Tôi mở bản đồ bán cầu ra tra cứu. Tại vĩ độ 32° 40′ Bắc và kinh độ 157° 50′ Tây, tôi phát hiện một hòn đảo nhỏ xíu. Nơi này do Thuyền trưởng Crespo phát hiện vào năm 1801, từng được ghi chú trên các tấm bản đồ Tây Ban Nha cổ xưa dưới cái tên Rocca de la Plata, nghĩa là "Tảng đá Bạc." Tính ra, lúc này chúng tôi đã cách điểm xuất phát chừng một ngàn tám trăm dặm. Tàu Nautilus có vẻ đã đổi hướng chút đỉnh, lẳng lặng rẽ trở lại về phía đông nam.

Tôi trỏ tay cho những người bạn đồng hành xem hòn đảo đá lẻ loi, trơ trọi giữa muôn trùng Bắc Thái Bình Dương.

"Nếu Thuyền trưởng Nemo thỉnh thoảng có nhã hứng lên bờ," tôi nói, "thì ít ra ngài ấy cũng toàn chọn những hòn đảo hoang vu thế này."

Ned Land chỉ nhún vai câm lặng, rồi cùng Conseil bước ra ngoài.

Tối hôm đó, sau bữa ăn được phục vụ bởi người quản gia kín tiếng với nét mặt vô cảm, tôi lên giường nằm, trong lòng khẽ gợn lên một nỗi âu lo phấp phỏng.

Sáng hôm sau, ngày 17 tháng Mười một, lúc tỉnh giấc, tôi cảm nhận rõ chiếc Nautilus đã hoàn toàn bất động. Tôi vội vã vận y phục rồi bước nhanh vào phòng khách.

Thuyền trưởng Nemo đã túc trực ở đó tự bao giờ. Thấy tôi, ngài đứng dậy, khẽ cúi chào rồi từ tốn hỏi xem liệu tôi có nhã hứng đồng hành cùng ngài hay không. Vì ngài tuyệt nhiên không đả động gì đến sự vắng mặt bí ẩn của mình suốt tám ngày đằng đẵng vừa qua, nên tôi cũng ý tứ không dò hỏi, chỉ đơn giản đáp lời rằng tôi cùng các bạn đồng hành đều đã sẵn sàng đi theo ngài.

Chúng tôi thong thả bước vào phòng ăn, nơi một bữa sáng thịnh soạn đã được tinh tươm bày biện.

"Thưa ngài Aronnax," Thuyền trưởng cất lời, "xin ngài cứ tự nhiên dùng bữa sáng cùng tôi; chúng ta sẽ vừa thưởng thức vừa mạn đàm. Dẫu tôi đã hứa hẹn cùng ngài một chuyến ngoạn cảnh trong rừng, nhưng tôi không dám chắc chúng ta sẽ tìm thấy một quán trọ nghỉ chân nào ở đó đâu. Thế nên, ngài hãy ăn một bữa sáng thật no nê, phòng khi chúng ta chẳng thể lót dạ bữa tối cho tới tận khuya lơ khuya lắc."

Tôi hân hoan thưởng thức bữa ăn. Thực đơn gồm có vài loại cá, những lát hải sâm tươi rói - món động vật phù du hảo hạng - cùng cơ man các loại rong biển đa dạng. Thức uống dùng kèm là làn nước tinh khiết, được Thuyền trưởng điểm xuyết thêm vài giọt rượu lên men, chiết xuất theo bí quyết của người Kamchatka từ loài tảo biển mang tên Rhodomenia palmata. Thoạt tiên, Thuyền trưởng Nemo dùng bữa trong sự tĩnh lặng trầm ngâm. Mãi một lúc sau, ngài mới thủng thẳng mở lời:

"Thưa ngài, khi tôi ngỏ lời mời ngài đi săn trong khu rừng ngầm dưới vùng biển Crespo của tôi, hẳn ngài đã đinh ninh rằng tôi là một gã điên rồ. Thưa ngài, xin đừng bao giờ vội vàng phán xét bất kỳ ai."

"Nhưng thưa Thuyền trưởng, xin ngài hãy tin tôi..."

"Xin ngài vui lòng lắng nghe, rồi ngài sẽ tự thấu tỏ xem mình có mảy may cớ gì để gán cho tôi cái mác của một kẻ điên rồ hay mâu thuẫn hay không."

"Tôi vẫn đang dỏng tai nghe đây."

"Giáo sư à, hẳn ngài cũng tường tận như tôi, rằng con người hoàn toàn có khả năng tồn tại dưới nước, miễn là mang theo lượng không khí vừa đủ để hô hấp. Trong các công trình ngầm dưới đáy biển, người thợ lặn, thân khoác bộ đồ chống thấm, đầu đội chiếc mũ chụp bằng sắt, vẫn nhận được luồng khí truyền xuống từ trên cao nhờ các máy bơm nén cùng bộ điều áp."

"Đó chính là thiết bị lặn," tôi đáp lại.

"Quả thực là vậy. Thế nhưng, trong điều kiện chật vật nhường ấy, con người đánh mất đi sự tự do; họ bị trói buộc vào chiếc máy bơm tiếp khí qua một đường ống cao su dài thượt. Và nếu chúng ta cũng phải kết nối với chiếc Nautilus theo cơ chế ấy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể tiến xa hơn được."

"Vậy thì cách nào để giải phóng bản thân?" tôi tò mò gặng hỏi.

"Chính là nhờ vào thiết bị Rouquayrol1, một phát minh rực rỡ từ hai người đồng hương của ngài. Tôi đã cất công hoàn thiện nó để phục vụ cho những mục đích chuyên biệt của riêng mình. Nó sẽ cho phép ngài dấn thân vào những điều kiện sinh lý hoàn toàn mới mẻ này mà chẳng lo mảy may tổn hại đến cơ quan nội tạng. Thiết bị bao gồm một bình chứa được cấu thành từ những tấm sắt dày cộp, nơi tôi nén giữ không khí dưới áp suất lên đến năm mươi atmosphere. Chiếc bình này được thiết kế để đeo vác trên lưng bằng hệ thống dây đai chắc chắn, tựa như chiếc ba lô hành quân của người lính. Phần chóp bình định hình thành một hộp chứa, giữ lại không khí thông qua một cơ cấu dạng ống bễ, đảm bảo khí không thể thất thoát trừ phi được duy trì ở áp suất thông thường. Với thiết bị Rouquayrol phiên bản cải tiến này, hai ống cao su sẽ dẫn từ hộp chứa, nối liền vào một chiếc mặt nạ ôm khít lấy mũi và miệng; một ống phụ trách bơm luồng khí trong lành, ống còn lại đảm nhận việc tống khứ khí trọc, và chính lưỡi của người sử dụng sẽ điều tiết việc đóng mở các ống này tùy theo nhịp thở. Riêng với tôi, để đương đầu với áp suất khổng lồ nơi vực sâu đáy biển, tôi buộc lòng phải đội thêm một khối cầu bằng đồng bao trọn lấy đầu, hệt như mũ của những thợ lặn chuyên nghiệp; và ngay tại khối đồng này, hai ống hít vào và thở ra sẽ đồng thời mở thông."

"Thiết kế thật vẹn toàn, thưa Thuyền trưởng Nemo. Có điều, lượng không khí ngài mang theo ắt hẳn sẽ vơi đi nhanh chóng; một khi tỷ lệ oxy sụt giảm chỉ còn mười lăm phần trăm, nó sẽ chẳng còn giữ được sự tinh khiết cần thiết để duy trì sự sống."

"Đúng là như vậy! Thế nhưng tôi đã mạn phép thưa với ngài rồi mà, ngài Aronnax, hệ thống máy bơm của chiếc Nautilus thừa sức nén không khí dưới một áp suất cực lớn. Và trong những điều kiện lý tưởng ấy, bình chứa của thiết bị này dư sức cung cấp luồng dưỡng khí ròng rã suốt chín hoặc mười giờ đồng hồ."

"Thế thì tôi chẳng còn lý lẽ nào để bắt bẻ nữa," tôi từ tốn đáp; "tôi chỉ muốn thỉnh giáo ngài thêm một điều, thưa Thuyền trưởng-bằng cách nào ngài có thể soi tỏ lối mòn dưới màn đêm sâu thẳm của đại dương?"

"Nhờ vào thiết bị Ruhmkorff2, thưa ngài Aronnax. Một bộ phận của nó sẽ được neo lại trên lưng, phần còn lại được nịt chặt quanh thắt lưng. Nó hoạt động dựa trên một khối pin Bunsen3, nơi tôi thay thế kali bicromat bằng natri để cung cấp năng lượng. Một cuộn dây chuyên dụng sẽ được chèn vào để thu nạp dòng điện phát sinh, rồi hướng thẳng nó về phía một chiếc đèn lồng với kết cấu đặc biệt. Cốt lõi của chiếc đèn lồng này là một ống thủy tinh uốn lượn hình xoắn ốc, giam giữ bên trong một lượng nhỏ khí carbonic. Khi thiết bị được kích hoạt, chất khí này sẽ bừng sáng rực rỡ, tỏa ra một quầng sáng trắng muốt và bền bỉ. Với trang bị tối tân nhường ấy, tôi không những có thể hít thở tự do mà còn có thể phóng tầm mắt xuyên thấu bóng tối."

"Thưa Thuyền trưởng Nemo, trước muôn vàn trăn trở của tôi, ngài đều đưa ra những lời giải đáp vô cùng thấu đáo, khiến tôi chẳng dám hoài nghi thêm nửa lời. Nhưng dù tôi có buộc lòng phải quy phục trước những ưu việt của thiết bị Rouquayrol và Ruhmkorff, xin ngài hãy cho phép tôi giữ lại đôi chút dè dặt đối với khẩu súng mà tôi sắp sửa mang theo."

"Nhưng đó tuyệt nhiên không phải là một khẩu súng nhồi thuốc súng đâu," Thuyền trưởng điềm nhiên đáp trả.

"Vậy ắt hẳn nó phải là một khẩu súng hơi."

"Chắc chắn là vậy rồi! Ngài nghĩ làm thế nào tôi có thể chế tạo thuốc nổ ngay trên khoang tàu, khi mà chẳng có lấy một mẩu diêm tiêu, lưu huỳnh hay than củi?"

"Hơn thế nữa," tôi bồi thêm, "để khai hỏa dưới nước, trong một môi trường đậm đặc gấp tám trăm năm mươi lăm lần so với không khí bình thường, chúng ta sẽ phải chinh phục một lực cản khổng lồ."

"Điều đó chẳng hề hấn gì. Hiện hữu những khẩu súng, khởi nguồn từ phát kiến của Fulton4, sau đó được dày công hoàn thiện tại Anh quốc bởi Philip Coles và Burley, tại Pháp bởi Furcy, và tại Ý bởi Landi; chúng được trang bị một hệ thống nòng kín chuyên dụng, thừa sức nhả đạn trong những điều kiện khắc nghiệt nhường ấy. Thế nhưng tôi xin nhắc lại, bởi thiếu vắng thuốc nổ, tôi đã chuyển sang sử dụng không khí bị nén dưới áp suất cực lớn, thứ mà các máy bơm của tàu Nautilus có thể chu cấp vô cùng dư dả."

"Nhưng lượng không khí này hẳn sẽ cạn kiệt trong chớp mắt?"

"Chà, ngài quên mất rằng tôi đã có chiếc bình chứa Rouquayrol sẵn sàng tiếp ứng mỗi khi cần thiết sao? Chỉ một cái vặn vòi nhẹ nhàng là đủ. Xa hơn nữa, ngài Aronnax hẳn cũng mường tượng ra, trong suốt chuyến đi săn dưới lòng đại dương của chúng ta, lượng không khí hao hụt và số đạn dược được sử dụng sẽ vô cùng khiêm tốn."

"Nhưng tôi thầm e ngại rằng, giữa cái không gian tranh tối tranh sáng này, lại đắm chìm trong môi trường chất lỏng sệt đặc hơn rất nhiều so với bầu khí quyển, những phát đạn sẽ chẳng thể xé nước đi xa, và cũng khó lòng tước đoạt mạng sống của con mồi một cách dễ dàng."

"Thưa ngài, thực tế lại trái ngược hoàn toàn. Với cỗ vũ khí này, mỗi phát súng vút đi đều mang theo án tử; dẫu con vật có bị sượt nhẹ qua mảy may, nó cũng sẽ gục ngã tức thì hệt như bị giáng một đòn sấm sét."

"Tại sao lại như vậy?"

"Bởi lẽ, những đầu đạn lao ra từ nòng súng này hoàn toàn khác biệt so với đạn dược thông thường. Chúng là những vỏ đạn thủy tinh bé nhỏ - một tuyệt tác của Leniebroek, nhà hóa học tài ba người Áo - mà hiện tại tôi đang sở hữu một kho dự trữ khổng lồ. Những vỏ đạn thủy tinh mỏng manh ấy được bọc kín bởi một lớp áo giáp thép, rồi được gia tăng trọng lượng bằng một viên chì nhỏ bé. Về bản chất, chúng hoạt động như những chiếc bình Leyden5, nơi dòng điện được nén chặt với điện áp kinh hồn. Chỉ cần một cú va chạm khẽ khàng nhất, chúng sẽ phóng luồng điện chết chóc, và con vật, dẫu có khỏe mạnh vạm vỡ đến đâu, cũng sẽ mất mạng ngay tắp lự. Tôi cũng xin nói thêm với ngài rằng, những viên đạn này mang kích cỡ số bốn, nhưng sức công phá của chúng lại khủng khiếp tương đương với mười viên đạn từ một khẩu súng trường thông thường."

"Tôi xin chịu thua và chẳng buồn tranh luận thêm nữa," tôi buông lời đáp, chậm rãi đứng dậy khỏi bàn ăn; "tôi không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc cầm chắc lấy khẩu súng của mình. Cho dù thế nào đi chăng nữa, ngài bước đi đâu, tôi sẽ nối gót theo đó."

Thuyền trưởng Nemo sau đó dẫn lối tôi tiến về phía đuôi tàu. Lúc ngang qua cabin của Ned và Conseil, tôi cất tiếng gọi hai người bạn đồng hành trung thành; họ không chần chừ một giây, lập tức bám theo. Ngay sau đó, chúng tôi đặt chân đến một buồng nhỏ sát vách phòng máy, nơi cả nhóm sẽ khoác lên mình bộ trang phục dành riêng cho những bước dạo ngoạn dưới đáy đại dương.



  1. Bộ điều áp Rouquayrol-Denayrouze, phát minh năm 1864 bởi hai người Pháp là Benoît Rouquayrol và Auguste Denayrouze. Đây là thiết bị lặn đầu tiên cho phép thợ lặn thở tự nhiên theo nhu cầu mà không cần bơm khí liên tục, là tiền thân của bình dưỡng khí SCUBA hiện đại. 

  2. Cuộn cảm Ruhmkorff do nhà vật lý người Đức Heinrich Daniel Ruhmkorff phát minh năm 1851. Đây là loại máy biến áp có khả năng tạo ra điện áp rất cao từ nguồn điện áp thấp, được ứng dụng rộng rãi trong các thiết bị chiếu sáng và thí nghiệm khoa học thế kỷ 19. 

  3. Một loại pin hóa học sơ cấp do nhà hóa học người Đức Robert Bunsen phát minh năm 1841, sử dụng điện cực kẽm và carbon. Loại pin này từng được dùng phổ biến để cung cấp dòng điện cho các thiết bị khoa học thời bấy giờ. 

  4. Robert Fulton (1765-1815), kỹ sư và nhà phát minh người Mỹ. Ông là người đi tiên phong trong việc thiết kế tàu ngầm (chiếc Nautilus đầu tiên năm 1800) và phát triển các loại vũ khí dưới nước sơ khai cho hải quân. 

  5. Một thiết bị lưu trữ điện tích tĩnh điện sơ khai (tương tự tụ điện ngày nay), được phát minh vào thế kỷ 18 tại thành phố Leiden, Hà Lan. Bình có cấu tạo là một lọ thủy tinh được bọc kim loại, có khả năng tích tụ và phóng ra dòng điện có sức giật rất mạnh.