CHƯƠNG XX: TỪ VĨ ĐỘ 47° 24′ ĐẾN KINH ĐỘ 17° 28′
Do hậu quả của trận cuồng phong, chúng tôi lại bị dạt về phía đông thêm một lần nữa. Mọi hy vọng trốn thoát qua bờ biển New York hay cửa sông St. Lawrence đều đã tan thành mây khói. Anh bạn Ned tội nghiệp, trong cơn tuyệt vọng cùng cực, đã tự nhốt mình biệt lập chẳng khác nào Thuyền trưởng Nemo. Dẫu vậy, Conseil và tôi vẫn luôn kề cận bên nhau. Tôi vừa nhắc đến chuyện chiếc Nautilus chuyển hướng sang phía đông. Nhưng để chính xác hơn, lẽ ra tôi phải nói là hướng đông bắc. Trong suốt vài ngày liền, con tàu không ngừng lang thang, lúc thì lướt đi trên mặt nước, lúc lại lặn sâu xuống biển, luồn lách giữa những màn sương mù dày đặc vốn luôn gieo rắc nỗi kinh hoàng cho giới thủy thủ. Ôi, đã có biết bao nhiêu thảm kịch giáng xuống chỉ vì lớp sương mù chết chóc này! Biết bao cú va chạm kinh hồn bạt vía trên các rạn san hô, nơi tiếng gầm rít của gió bão đã át đi cả tiếng sóng gầm xé toạc mạn thuyền! Biết bao tai nạn đâm va thảm khốc giữa các con tàu, bất chấp mọi nỗ lực tuyệt vọng từ đèn báo hiệu, tiếng còi hú cho đến những hồi chuông báo động liên hồi! Và dưới đáy biển kia, quang cảnh hiện ra tựa như một bãi chiến trường hoang tàn, nơi những kẻ chiến bại của đại dương vẫn đang im lìm nằm lại. Có chiếc đã rêu phong cũ nát, bị bao bọc bởi lớp vỏ cứng ngắc của thời gian; lại có chiếc vẫn còn nguyên vẹn, hắt lên thứ ánh sáng rực rỡ từ chiếc đèn pha của chúng tôi qua những vòng sắt thép và những tấm đồng sáng loáng.
Vào ngày 15 tháng Năm, chúng tôi đã đặt chân đến điểm cực nam của Bãi ngầm Newfoundland1. Bãi ngầm này vốn được bồi đắp bởi vô vàn lớp phù sa, hay nói cách khác là những khối vật chất hữu cơ khổng lồ, bị cuốn trôi từ vùng Xích đạo bởi hải lưu Gulf Stream, hoặc bị đẩy xuống từ tận Bắc Cực bởi những dòng nước lạnh buốt chảy ngược dọc theo bờ biển America. Nơi đây còn là điểm quy tụ của vô số tảng đá lang thang, bị tách ra và cuốn theo các mảng băng vỡ; và nằm ngay kế cận đó là một hầm mộ khổng lồ của các loài nhuyễn thể, tàn lụi và chất đống với số lượng lên tới hàng triệu sinh linh. Độ sâu của biển tại Newfoundland vốn không quá lớn-chưa đến vài trăm sải; nhưng càng chếch về phía nam lại càng mở ra một vùng trũng sâu hoắm, lên tới 1.500 sải. Chính tại đây, hải lưu Gulf Stream bắt đầu phân nhánh và mở rộng ranh giới. Dù đánh mất đi một phần tốc độ cũng như nhiệt độ vốn có, dòng hải lưu này lại tự biến mình thành một vùng biển thực thụ.
Đó là ngày 17 tháng Năm, khi đang ở độ sâu hơn 1.400 sải và cách Heart’s Content2 chừng 500 dặm, tôi đã tận mắt nhìn thấy đường cáp điện ngầm nằm yên lìm dưới đáy biển. Conseil, do chưa từng nghe tôi nhắc đến chuyện này bao giờ, thoạt đầu đã hoảng hốt lầm tưởng đó là một con hải mãng xà khổng lồ. Tất nhiên, tôi đã phải đính chính lại cho cậu chàng đáng mến ấy, và để xoa dịu nỗi sợ hãi, tôi đã kể cho cậu nghe vài chi tiết thú vị xoay quanh quá trình thi công đường cáp này. Sợi cáp đầu tiên được thả xuống vào những năm 1857 và 1858; nhưng sau khi truyền tải thành công chừng 400 bức điện tín, nó đã vĩnh viễn ngừng hoạt động. Đến năm 1863, các kỹ sư lại nỗ lực chế tạo ra một đường cáp khác, có chiều dài 2.000 dặm và nặng tới 4.500 tấn, rồi cẩn thận bốc xếp lên con tàu Great Eastern3. Đáng tiếc thay, nỗ lực này cũng kết thúc trong thất bại.
Ngày 25 tháng Năm, chiếc Nautilus, lúc bấy giờ đang lặn ở độ sâu hơn 1.918 sải, đã tiến đến đúng vị trí của đoạn đứt gãy từng làm tiêu tan toàn bộ công trình vĩ đại ấy. Nơi đó nằm cách bờ biển Ireland 638 dặm; và vào đúng hai giờ rưỡi chiều, người ta bàng hoàng phát hiện ra rằng mọi liên lạc với cựu lục địa Europe đã hoàn toàn bị cắt đứt. Các thợ điện trên tàu đành ngậm ngùi quyết định cắt rời sợi cáp trước khi kéo nó lên, và mãi đến tận mười một giờ đêm, họ mới thu hồi được phần bị hỏng hóc. Họ lập tức tạo một đầu nối mới, cẩn thận ghép nó lại, rồi một lần nữa thả chìm sợi cáp xuống lòng biển. Nhưng trớ trêu thay, chỉ vài ngày sau, sợi cáp lại tiếp tục đứt đoạn, và dưới sức ép khủng khiếp của đại dương sâu thẳm, họ không tài nào vớt lại được nữa. Dẫu vậy, tinh thần quật cường của những người America không hề bị khuất phục. Cyrus Field4, nhà khởi xướng táo bạo đứng sau dự án, người đã đánh cược và dốc cạn toàn bộ tài sản của mình, đã lập tức phát động một đợt quyên góp mới. Lời kêu gọi ấy đã nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt, và thế là một đường cáp khác lại ra đời, được chế tạo dựa trên những nguyên lý ưu việt hơn hẳn. Lần này, các bó dây dẫn đều được bọc kín trong lớp nhựa gutta-percha5, rồi được gia cố bằng một lớp đệm gai dầu chắc chắn, cuối cùng nằm an toàn bên trong lớp vỏ bọc bằng kim loại. Tàu Great Eastern lại nhổ neo vào ngày 13 tháng Bảy năm 1866. Ban đầu, mọi việc diễn ra vô cùng suôn sẻ. Nhưng rồi một biến cố đã xảy ra. Có vài lần, ngay trong lúc đang nhả cáp, họ kinh ngạc phát hiện ra những chiếc đinh mới toanh bị đóng ghim thẳng vào trong lõi, một minh chứng rõ ràng cho hành vi phá hoại có chủ đích. Thuyền trưởng Anderson cùng các sĩ quan và đội ngũ kỹ sư đã lập tức triệu tập một cuộc hội ý khẩn, sau đó cho niêm yết một bản thông cáo đanh thép: nếu bất kỳ kẻ gian nào bị bắt quả tang trên tàu, hắn sẽ bị ném thẳng xuống biển làm mồi cho cá mà không cần qua xét xử. Kể từ giây phút đó, âm mưu tàn độc kia không bao giờ còn dám lặp lại thêm một lần nào nữa.
Vào ngày 23 tháng Bảy, khi con tàu Great Eastern chỉ còn cách Newfoundland chưa đầy 500 dặm, người ta đã đánh một bức điện tín từ Ireland, báo tin về hiệp định đình chiến vừa được ký kết giữa Prussia và Austria ngay sau trận Sadowa6 đẫm máu. Đến ngày 27, giữa lớp sương mù dày đặc như bưng lấy mắt, họ đã tiến vào cảng Heart’s Content an toàn. Dự án vĩ đại ấy cuối cùng đã kết thúc trong khúc khải hoàn; và ngay trong bức điện tín đầu tiên được gửi đi, đất nước America thanh xuân phơi phới đã gửi gắm đến cựu lục địa Europe già cỗi những lời lẽ uyên thâm mà hiếm khi nhân loại thấu hiểu được trọn vẹn: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm.7"
Tôi chưa bao giờ trông chờ sẽ được chiêm ngưỡng sợi cáp điện trong tình trạng nguyên vẹn như cái ngày nó vừa xuất xưởng. Giờ đây, con trăn khổng lồ ấy, vốn bị bao phủ bởi tàn tích của muôn vàn lớp vỏ và chi chít những loài trùng lỗ8, đã tự khoác lên mình một lớp áo giáp đá cứng cáp, tựa như một tấm khiên kiên cố bảo vệ nó trước sự đục khoét của mọi loài nhuyễn thể. Nó nằm im lìm dưới đáy sâu, được chở che khỏi mọi cơn thịnh nộ của sóng gió biển khơi, và ngoan ngoãn chịu đựng một mức áp suất lý tưởng cho phép truyền tải các tia lửa điện từ Europe đến America trong vỏn vẹn 0,32 giây. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, đường cáp này chắc chắn sẽ trường tồn với thời gian, bởi người ta đã khám phá ra một sự thật rằng: lớp bọc gutta-percha sẽ càng trở nên dẻo dai và bền chắc hơn khi được ngâm sâu trong nước biển. Thêm vào đó, ở một độ sâu đã được tính toán cẩn trọng, sợi cáp này không bao giờ bị dìm xuống quá sâu đến mức phải chịu cảnh đứt gãy gánh giữa chừng. Chiếc Nautilus cứ thế rẽ nước chạy dọc theo đường cáp cho đến tận điểm sâu nhất, chạm mốc hơn 2.212 sải. Tại chính nơi đây, con tàu nằm phơi mình phẳng lặng mà chẳng cần buông một chiếc mỏ neo nào; để rồi sau đó, chúng tôi lại tiếp tục hành trình đến đúng vị trí nơi tai nạn thảm khốc kia từng xảy ra vào năm 1863. Đáy đại dương lúc bấy giờ mở ra thành một thung lũng rộng thênh thang chừng 100 dặm, nơi mà người ta có thể bứng cả ngọn núi Mont Blanc9 khổng lồ đặt lọt thỏm vào trong mà đỉnh của nó vẫn chẳng thể nhô lên khỏi mặt sóng. Ở phía đông, thung lũng này bị khóa kín bởi một bức tường đá dựng đứng, sừng sững vươn cao hơn 2.000 thước Anh. Chúng tôi đã đặt chân đến nơi đó vào ngày 28 tháng Năm, và khi ấy, chiếc Nautilus trứ danh chỉ còn cách bờ biển Ireland chưa đầy 120 dặm.
Phải chăng Thuyền trưởng Nemo đang nhắm hướng cập bờ Quần đảo Anh? Hoàn toàn không. Trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, ông bẻ lái con tàu xuôi về phương nam, một lần nữa hướng mũi về vùng biển châu Âu. Lướt quanh Hòn đảo Ngọc Lục Bảo10, có lúc tôi chợt bắt gặp Mũi Clear sừng sững cùng quầng sáng của ngọn hải đăng đang dẫn lối cho hàng ngàn con tàu rời bến Glasgow hay Liverpool. Một câu hỏi hệ trọng bỗng lóe lên trong tâm trí tôi: Liệu chiếc Nautilus có dám đánh liều dấn thân vào eo biển Manche11 chăng? Kể từ khi rặng đất liền lấp ló phía chân trời, Ned Land lại xuất hiện và không ngừng dồn ép tôi bằng muôn vàn thắc mắc. Nhưng làm sao tôi có thể giải đáp cho anh đây? Thuyền trưởng Nemo vẫn bặt vô âm tín. Lẽ nào, sau khi ban cho anh bạn người Canada đặc ân ngắm nhìn thoáng qua bờ biển châu Mỹ, giờ đây ông lại định cho tôi chiêm ngưỡng bến bờ nước Pháp?
Thế nhưng, chiếc Nautilus vẫn lầm lũi rẽ sóng về phương nam. Ngày 30 tháng Năm, con tàu lướt qua Land’s End12, trườn đi giữa điểm cực tây của nước Anh và quần đảo Scilly, bỏ lại dải đảo mờ sương phía mạn phải. Nếu quả thực có ý định tiến vào eo biển Manche, lẽ ra thuyền trưởng phải cho tàu chạy thẳng về phía đông. Nhưng ông đã không làm thế.
Suốt cả ngày 31 tháng Năm, chiếc Nautilus cứ mải miết vẽ những vòng tròn kì lạ trên mặt biển, khơi dậy trong tôi bao nỗi tò mò. Trông nó như thể đang chật vật dò tìm một tọa độ ẩn khuất nào đó giữa đại dương bao la. Giữa trưa, đích thân Thuyền trưởng Nemo hiện diện để đo đạc vị trí. Ông chẳng buồn cất lời với tôi, gương mặt phủ một nét u sầu, trầm mặc hơn bao giờ hết. Điều gì đã giăng mắc nỗi muộn phiền nhường ấy lên người đàn ông này? Phải chăng do bóng dáng châu Âu đang ở quá gần? Hay bởi tâm trí ông đang ngược dòng hồi tưởng về quê hương mà chính ông đã lạnh lùng rũ bỏ? Nếu không phải thế, thì thứ cảm xúc nào đang giằng xé tâm can ông? Nỗi cắn rứt hay niềm hối tiếc? Mãi rất lâu về sau, những câu hỏi ấy vẫn không thôi ám ảnh tâm trí tôi; và tự sâu thẳm, tôi mơ hồ dự cảm rằng chỉ nay mai thôi, định mệnh sẽ vô tình vén bức màn nhung che giấu những bí mật sâu kín nhất của vị thuyền trưởng.
Ngày hôm sau, mùng một tháng Sáu, con tàu Nautilus vẫn tiếp tục hành trình tương tự. Rõ ràng, nó đang kiếm tìm một tọa độ cụ thể nào đó giữa muôn trùng khơi. Thuyền trưởng Nemo tiến hành đo cao độ của mặt trời y như cung cách ông đã làm ngày hôm trước. Mặt biển phẳng lặng như gương, bầu trời quang đãng không một gợn mây. Về phía đông, cách chừng tám dặm, bóng dáng một con tàu hơi nước đồ sộ mờ ảo hiện lên nơi chân trời. Chẳng có lấy một lá cờ tung bay trên đỉnh cột buồm, khiến tôi hoàn toàn không thể nhận diện được quốc tịch của nó. Vài phút trước khi mặt trời vắt ngang đường kinh tuyến, thuyền trưởng Nemo cầm chiếc kính lục phân lên, chăm chú quan sát với một sự tập trung cao độ. Mặt nước êm đềm tĩnh lặng đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho thao tác này. Chiếc Nautilus nằm im lìm bất động; không hề có một sự tròng trành hay nhồi lắc nhỏ nhoi nào.
Tôi đang đứng nán lại trên boong khi việc đo đạc vừa dứt, bỗng nghe Thuyền trưởng buông một câu trầm mặc: "Chính là ở đây."
Ông xoay lưng, lẳng lặng bước xuống khoang dưới. Liệu ông có nhận ra con tàu kia đang chuyển hướng và dường như đang xé sóng lao về phía chúng tôi không? Tôi chẳng thể nào đoán định được. Tôi đành bước trở về phòng khách. Những tấm ván bọc thép khép kín lại, và tôi bắt đầu nghe thấy tiếng nước rít réo tràn vào các khoang chứa. Tàu Nautilus bắt đầu chìm xuống theo một phương thẳng đứng, bởi chân vịt lúc này chẳng hề tạo ra một lực đẩy nào. Vài phút sau, nó chững lại ở độ sâu hơn bốn trăm hai mươi sải, nằm bất động dưới tận cùng đáy biển. Ánh sáng dịu nhẹ trên trần phòng khách dần vụt tắt, rồi những tấm ván thép bảo vệ cửa sổ từ từ trượt mở. Qua lớp kính trong suốt, tôi chiêm ngưỡng cả một vùng biển khơi bừng sáng, lung linh dưới những tia sáng rực rỡ từ ngọn đèn pha của chúng tôi, trải dài và xuyên thấu màn sương nước ít nhất nửa dặm xung quanh.
Tôi đảo mắt sang mạn trái, chỉ thấy một vùng nước tĩnh lặng mênh mông. Nhưng ở mạn phải, một khối vật thể khổng lồ nhô lên dưới đáy biển đã lập tức thu hút ánh nhìn của tôi. Trông nó hệt như một tàn tích nằm vùi dưới lớp vỏ sò trắng muốt, tựa hồ đang được đắp lên một tấm chăn tuyết. Chăm chú nhìn kỹ hơn, tôi dần nhận ra hình dáng của một thân tàu trơ trọi, chẳng còn lấy một chiếc cột buồm. Chắc chắn đây là xác của một con tàu đắm. Hiển nhiên, nó thuộc về một thời đại đã lùi xa vào quá khứ. Lớp vỏ canxi của nước biển đã đóng cứng quanh xác tàu, minh chứng cho việc nó đã yên nghỉ dưới đáy đại dương từ biết bao năm tháng qua.
Đây là con tàu nào? Tại sao chiếc Nautilus lại ghé thăm nấm mồ này? Phải chăng một vụ đắm tàu đã kéo nó chìm xuống tận nơi đây? Giữa lúc tôi còn đang mải suy đoán, Thuyền trưởng Nemo tiến lại gần. Bằng một chất giọng trầm mặc và chậm rãi, ông lên tiếng:
"Đã từng có thời, con tàu này mang tên Marseillais. Nó được trang bị bảy mươi tư khẩu pháo và chính thức hạ thủy vào năm 1762. Ngày 13 tháng Tám năm 1778, dưới sự chỉ huy của La Poype-Vertrieux, nó đã anh dũng chiến đấu với tàu Preston. Đến ngày 4 tháng Bảy năm 1779, nó sát cánh cùng hạm đội của Đô đốc Estaing trong trận đánh chiếm Grenada13. Ngày 5 tháng Chín năm 1781, nó tiếp tục góp mặt trong trận hải chiến của Comte de Grasse tại Vịnh Chesapeake14. Tới năm 1794, nền Cộng hòa Pháp đã khoác lên cho nó một cái tên mới. Cũng vào ngày 16 tháng Tư năm đó, nó rời Brest để gia nhập hạm đội của Villaret Joyeuse, nhận trọng trách hộ tống một chuyến hàng ngô từ châu Mỹ dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Van Stebel. Ngày 11 và 12 tháng Prairal15 của năm thứ hai, hạm đội này đã đụng độ với một chiến hạm của Anh. Thưa ngài, hôm nay chính là ngày 13 tháng Prairal, tức mùng 1 tháng Sáu năm 1868. Cách đây đúng bảy mươi tư năm, trọn vẹn không sai một ngày, ngay tại chính tọa độ này: vĩ độ 47° 24′ và kinh độ 17° 28′, con tàu này đã chiến đấu đến kiệt cùng sức lực. Cả ba cột buồm đều gãy nát, nước biển cuồn cuộn tuôn vào khoang, và một phần ba thủy thủ đoàn đã sức tàn lực kiệt. Thay vì chịu đầu hàng, nó đã chọn cách chìm xuống đáy sâu cùng 356 người thủy thủ. Họ ghim chặt lá cờ lên boong tàu, rồi biến mất dưới những ngọn sóng muôn trùng giữa tiếng hô vang vọng: ‘Cộng hòa muôn năm!’"
"Tàu Avenger16!" tôi thốt lên.
"Đúng vậy, thưa ngài. Tàu Avenger! Một cái tên thật kiêu hùng!" Thuyền trưởng Nemo khẽ thì thầm, đôi tay khoanh lại đầy suy nghiệm.
-
Bãi ngầm Newfoundland (Grand Banks of Newfoundland) là một vùng thềm lục địa ngầm ở đông nam đảo Newfoundland, Canada. Nơi đây là một trong những ngư trường lớn và màu mỡ nhất thế giới nhờ sự giao thoa giữa dòng hải lưu lạnh Labrador và dòng hải lưu ấm Gulf Stream. ↩
-
Heart's Content là một thị trấn cảng nhỏ thuộc tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada. Nơi đây đi vào lịch sử khi trở thành trạm tiếp nhận thành công đường cáp điện tín ngầm xuyên Đại Tây Dương đầu tiên nối với châu Âu vào năm 1866. ↩
-
SS Great Eastern là một con tàu chạy bằng hơi nước khổng lồ của Anh được hạ thủy năm 1858. Nó là con tàu lớn nhất thế giới vào thời điểm đó và đã đóng vai trò then chốt trong việc chuyên chở và rải thành công đường cáp điện tín ngầm xuyên Đại Tây Dương. ↩
-
Cyrus West Field (1819-1892) là một doanh nhân và nhà tài chính người Mỹ. Ông là người có tầm nhìn xa và dẫn dắt dự án khổng lồ rải cáp điện tín ngầm xuyên Đại Tây Dương để kết nối liên lạc giữa Bắc Mỹ và châu Âu. ↩
-
Gutta-percha là một loại nhựa nhiệt dẻo tự nhiên chiết xuất từ cây Palaquium ở khu vực Đông Nam Á. Trước khi nhựa tổng hợp ra đời, vật liệu này được sử dụng rộng rãi làm chất cách điện để bọc bảo vệ các đường cáp ngầm dưới biển. ↩
-
Trận Sadowa (còn gọi là trận Königgrätz) diễn ra vào tháng 7 năm 1866, là trận đánh mang tính quyết định trong chiến tranh Áo - Phổ. Chiến thắng của Vương quốc Phổ (Prussia) đã định hình lại bản đồ quyền lực tại châu Âu thế kỷ 19. ↩
-
Đây là câu trích dẫn nổi tiếng từ Kinh Thánh Tân Ước (Phúc âm Lu-ca 2:14). Thông điệp mang ý nghĩa hòa bình này được sử dụng trong bức điện tín xuyên Đại Tây Dương đầu tiên (1858) trao đổi giữa Nữ hoàng Anh Victoria và Tổng thống Mỹ James Buchanan. ↩
-
Trùng lỗ (Foraminifera) là những sinh vật đơn bào nhỏ bé sống ở đại dương, thường có lớp vỏ cứng bằng canxi cacbonat. Qua hàng triệu năm, xác của chúng tích tụ dưới đáy biển, tạo thành những lớp trầm tích đá vôi dày đặc. ↩
-
Mont Blanc (nghĩa là 'Núi Trắng') là ngọn núi cao nhất dãy Alps và khu vực Tây Âu, nằm giữa biên giới Pháp và Ý với độ cao khoảng 4.809 mét. Nó thường được dùng làm chuẩn mực để minh họa cho sự đồ sộ, kỳ vĩ của thiên nhiên. ↩
-
Hòn đảo Ngọc Lục Bảo (Emerald Isle) là một danh xưng đậm chất thi ca dành cho đất nước Ireland. Tên gọi này bắt nguồn từ cảnh quan xanh tươi, mướt mát bạt ngàn của thảm cỏ và cây cối nơi đây do khí hậu mưa nhiều mang lại. ↩
-
Eo biển Manche (English Channel) là tuyến đường biển dài hẹp nối liền Đại Tây Dương với Biển Bắc, đồng thời ngăn cách miền nam nước Anh với miền bắc nước Pháp. Nơi đây là một trong những eo biển tấp nập thuyền bè bậc nhất thế giới. ↩
-
Land's End (nghĩa là 'Điểm tận cùng của mặt đất') là một mũi đất hiểm trở nằm ở cực tây nam của nước Anh. Tên gọi này mang ý nghĩa biểu tượng, chỉ điểm mốc cuối cùng của lục địa trước khi mở ra Đại Tây Dương bao la. ↩
-
Trận đánh chiếm đảo Grenada (1779) là một trận hải chiến trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Khi đó, hạm đội Pháp dưới quyền Đô đốc d'Estaing đã đánh bại quân Anh và giành quyền kiểm soát hòn đảo Grenada ở vùng biển Caribê. ↩
-
Trận hải chiến vịnh Chesapeake (1781) là một cột mốc lịch sử quan trọng trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Thắng lợi của hạm đội Pháp đã ngăn cản quân Anh tiếp viện, góp phần quyết định vào chiến thắng của liên quân Mỹ-Pháp tại Yorktown. ↩
-
Tháng Prairial (Tháng Đồng Cỏ) là tháng thứ chín trong Lịch Cộng hòa Pháp (rơi vào khoảng từ 20 tháng 5 đến 18 tháng 6). Hệ thống lịch độc đáo này được nước Pháp áp dụng sau Cách mạng Pháp nhằm xóa bỏ tàn tích của chế độ phong kiến và tôn giáo. ↩
-
Tàu Avenger (nguyên bản tiếng Pháp: Le Vengeur du Peuple - 'Người trả thù của nhân dân') là một chiến hạm huyền thoại của Hải quân Pháp. Sự kiện con tàu chìm trong trận hải chiến năm 1794 cùng tiếng hô vang của các thủy thủ thà chết không hàng đã trở thành biểu tượng bất diệt cho chủ nghĩa anh hùng Pháp. ↩
CHAPTER XX FROM LATITUDE 47° 24′ TO LONGITUDE 17° 28′
In consequence of the storm, we had been thrown eastward once more. All hope of escape on the shores of New York or St. Lawrence had faded away; and poor Ned, in despair, had isolated himself like Captain Nemo. Conseil and I, however, never left each other. I said that the Nautilus had gone aside to the east. I should have said (to be more exact) the north-east. For some days, it wandered first on the surface, and then beneath it, amid those fogs so dreaded by sailors. What accidents are due to these thick fogs! What shocks upon these reefs when the wind drowns the breaking of the waves! What collisions between vessels, in spite of their warning lights, whistles, and alarm bells! And the bottoms of these seas look like a field of battle, where still lie all the conquered of the ocean; some old and already encrusted, others fresh and reflecting from their iron bands and copper plates the brilliancy of our lantern.
On the 15th of May we were at the extreme south of the Bank of Newfoundland. This bank consists of alluvia, or large heaps of organic matter, brought either from the Equator by the Gulf Stream, or from the North Pole by the counter-current of cold water which skirts the American coast. There also are heaped up those erratic blocks which are carried along by the broken ice; and close by, a vast charnel-house of molluscs, which perish here by millions. The depth of the sea is not great at Newfoundland-not more than some hundreds of fathoms; but towards the south is a depression of 1,500 fathoms. There the Gulf Stream widens. It loses some of its speed and some of its temperature, but it becomes a sea.
It was on the 17th of May, about 500 miles from Heart’s Content, at a depth of more than 1,400 fathoms, that I saw the electric cable lying on the bottom. Conseil, to whom I had not mentioned it, thought at first that it was a gigantic sea-serpent. But I undeceived the worthy fellow, and by way of consolation related several particulars in the laying of this cable. The first one was laid in the years 1857 and 1858; but, after transmitting about 400 telegrams, would not act any longer. In 1863 the engineers constructed an other one, measuring 2,000 miles in length, and weighing 4,500 tons, which was embarked on the Great Eastern. This attempt also failed.
On the 25th of May the Nautilus, being at a depth of more than 1,918 fathoms, was on the precise spot where the rupture occurred which ruined the enterprise. It was within 638 miles of the coast of Ireland; and at half-past two in the afternoon they discovered that communication with Europe had ceased. The electricians on board resolved to cut the cable before fishing it up, and at eleven o’clock at night they had recovered the damaged part. They made another point and spliced it, and it was once more submerged. But some days after it broke again, and in the depths of the ocean could not be recaptured. The Americans, however, were not discouraged. Cyrus Field, the bold promoter of the enterprise, as he had sunk all his own fortune, set a new subscription on foot, which was at once answered, and another cable was constructed on better principles. The bundles of conducting wires were each enveloped in gutta-percha, and protected by a wadding of hemp, contained in a metallic covering. The Great Eastern sailed on the 13th of July, 1866. The operation worked well. But one incident occurred. Several times in unrolling the cable they observed that nails had recently been forced into it, evidently with the motive of destroying it. Captain Anderson, the officers, and engineers consulted together, and had it posted up that, if the offender was surprised on board, he would be thrown without further trial into the sea. From that time the criminal attempt was never repeated.
On the 23rd of July the Great Eastern was not more than 500 miles from Newfoundland, when they telegraphed from Ireland the news of the armistice concluded between Prussia and Austria after Sadowa. On the 27th, in the midst of heavy fogs, they reached the port of Heart’s Content. The enterprise was successfully terminated; and for its first despatch, young America addressed old Europe in these words of wisdom, so rarely understood: “Glory to God in the highest, and on earth peace, goodwill towards men.”
I did not expect to find the electric cable in its primitive state, such as it was on leaving the manufactory. The long serpent, covered with the remains of shells, bristling with foraminiferae, was encrusted with a strong coating which served as a protection against all boring molluscs. It lay quietly sheltered from the motions of the sea, and under a favourable pressure for the transmission of the electric spark which passes from Europe to America in .32 of a second. Doubtless this cable will last for a great length of time, for they find that the gutta-percha covering is improved by the sea-water. Besides, on this level, so well chosen, the cable is never so deeply submerged as to cause it to break. The Nautilus followed it to the lowest depth, which was more than 2,212 fathoms, and there it lay without any anchorage; and then we reached the spot where the accident had taken place in 1863. The bottom of the ocean then formed a valley about 100 miles broad, in which Mont Blanc might have been placed without its summit appearing above the waves. This valley is closed at the east by a perpendicular wall more than 2,000 yards high. We arrived there on the 28th of May, and the Nautilus was then not more than 120 miles from Ireland.
Was Captain Nemo going to land on the British Isles? No. To my great surprise he made for the south, once more coming back towards European seas. In rounding the Emerald Isle, for one instant I caught sight of Cape Clear, and the light which guides the thousands of vessels leaving Glasgow or Liverpool. An important question then arose in my mind. Did the Nautilus dare entangle itself in the Manche? Ned Land, who had re-appeared since we had been nearing land, did not cease to question me. How could I answer? Captain Nemo remained invisible. After having shown the Canadian a glimpse of American shores, was he going to show me the coast of France?
But the Nautilus was still going southward. On the 30th of May, it passed in sight of Land’s End, between the extreme point of England and the Scilly Isles, which were left to starboard. If we wished to enter the Manche, he must go straight to the east. He did not do so.
During the whole of the 31st of May, the Nautilus described a series of circles on the water, which greatly interested me. It seemed to be seeking a spot it had some trouble in finding. At noon, Captain Nemo himself came to work the ship’s log. He spoke no word to me, but seemed gloomier than ever. What could sadden him thus? Was it his proximity to European shores? Had he some recollections of his abandoned country? If not, what did he feel? Remorse or regret? For a long while this thought haunted my mind, and I had a kind of presentiment that before long chance would betray the captain’s secrets.
The next day, the 1st of June, the Nautilus continued the same process. It was evidently seeking some particular spot in the ocean. Captain Nemo took the sun’s altitude as he had done the day before. The sea was beautiful, the sky clear. About eight miles to the east, a large steam vessel could be discerned on the horizon. No flag fluttered from its mast, and I could not discover its nationality. Some minutes before the sun passed the meridian, Captain Nemo took his sextant, and watched with great attention. The perfect rest of the water greatly helped the operation. The Nautilus was motionless; it neither rolled nor pitched.
I was on the platform when the altitude was taken, and the Captain pronounced these words: “It is here.”
He turned and went below. Had he seen the vessel which was changing its course and seemed to be nearing us? I could not tell. I returned to the saloon. The panels closed, I heard the hissing of the water in the reservoirs. The Nautilus began to sink, following a vertical line, for its screw communicated no motion to it. Some minutes later it stopped at a depth of more than 420 fathoms, resting on the ground. The luminous ceiling was darkened, then the panels were opened, and through the glass I saw the sea brilliantly illuminated by the rays of our lantern for at least half a mile round us.
I looked to the port side, and saw nothing but an immensity of quiet waters. But to starboard, on the bottom appeared a large protuberance, which at once attracted my attention. One would have thought it a ruin buried under a coating of white shells, much resembling a covering of snow. Upon examining the mass attentively, I could recognise the ever-thickening form of a vessel bare of its masts, which must have sunk. It certainly belonged to past times. This wreck, to be thus encrusted with the lime of the water, must already be able to count many years passed at the bottom of the ocean.
What was this vessel? Why did the Nautilus visit its tomb? Could it have been aught but a shipwreck which had drawn it under the water? I knew not what to think, when near me in a slow voice I heard Captain Nemo say:
“At one time this ship was called the Marseillais. It carried seventy-four guns, and was launched in 1762. In 1778, the 13th of August, commanded by La Poype-Vertrieux, it fought boldly against the Preston. In 1779, on the 4th of July, it was at the taking of Grenada, with the squadron of Admiral Estaing. In 1781, on the 5th of September, it took part in the battle of Comte de Grasse, in Chesapeake Bay. In 1794, the French Republic changed its name. On the 16th of April, in the same year, it joined the squadron of Villaret Joyeuse, at Brest, being entrusted with the escort of a cargo of corn coming from America, under the command of Admiral Van Stebel. On the 11th and 12th Prairal of the second year, this squadron fell in with an English vessel. Sir, to-day is the 13th Prairal, the first of June, 1868. It is now seventy-four years ago, day for day on this very spot, in latitude 47° 24′, longitude 17° 28′, that this vessel, after fighting heroically, losing its three masts, with the water in its hold, and the third of its crew disabled, preferred sinking with its 356 sailors to surrendering; and, nailing its colours to the poop, disappeared under the waves to the cry of ‘Long live the Republic!’”
“The Avenger!” I exclaimed.
“Yes, sir, the Avenger! A good name!” muttered Captain Nemo, crossing his arms.