CHƯƠNG XVII: TỪ MŨI HORN ĐẾN SÔNG AMAZON
Tôi chẳng rõ bằng cách nào mình lại lên được boong tàu; có lẽ chính anh bạn người Canada đã cõng tôi lên tận đây. Nhưng tôi đã thở, đã hít căng lồng ngực luồng không khí biển khơi tràn trề sinh khí. Hai người bạn đồng hành của tôi cũng đang say sưa vục mặt vào bầu không khí tươi mát ấy. Khác với những kẻ bất hạnh bị bỏ đói quá lâu, dạ dày đã teo tóp đến mức chẳng thể dung nạp nổi ngay cả những món ăn thanh đạm nhất, chúng tôi hoàn toàn không cần phải kiềm chế dạ dày không khí của mình. Cả ba tự do căng lấp buồng phổi, và chỉ nội những làn gió lướt qua da thịt cũng đủ nhen lên trong chúng tôi một niềm hoan hỉ tột cùng.
"A!" Conseil hân hoan thốt lên, "nguồn dưỡng khí này mới sảng khoái làm sao! Thầy cứ tự nhiên hít thở sâu vào. Còn dư dả cho tất cả chúng ta mà."
Ned Land chẳng buồn cất lời, nhưng anh há to cái miệng rộng ngoác đến mức có thể làm một con cá mập dạn dĩ nhất cũng phải chùn bước. Sức lực của chúng tôi nhanh chóng phục hồi. Phóng tầm mắt nhìn quanh, tôi nhận ra trên boong lúc này chỉ có vỏn vẹn ba chúng tôi. Đám thủy thủ ngoại quốc của chiếc Nautilus dường như đã mãn nguyện với lượng không khí được bơm tỏa bên trong thân tàu; chẳng một ai ló mặt lên đây để hít hà bầu khí trời lộng gió.
Những lời đầu tiên tôi thốt lên là muôn vàn trân trọng và biết ơn sâu sắc gửi gắm đến hai người bạn đồng hành. Trong những giờ phút cuối cùng của cơn hấp hối kéo dài dai dẳng kia, chính Ned và Conseil đã nhường nhịn từng giọt sự sống để níu giữ hơi thở cho tôi. Mọi lời cảm tạ trên đời này phỏng có ích gì trước một sự tận tụy lớn lao nhường ấy.
"Các bạn của tôi," tôi bùi ngùi lên tiếng, "chúng ta đã thực sự gắn bó với nhau mãi mãi, và tôi nợ các bạn một ân tình không thể nào đong đếm."
"Thế thì tôi sẽ tận dụng luôn ân tình ấy," anh bạn người Canada sang sảng đáp lại.
"Ý anh là sao?" Conseil ngơ ngác hỏi.
"Ý tôi là tôi sẽ lôi bằng được cả hai người đi cùng, một khi tôi thoát khỏi cái chiếc Nautilus quái quỷ này."
"Chà," Conseil lầm bầm, "nhưng sau ngần ấy chuyện, liệu chúng ta có đang đi đúng hướng không?"
"Đúng chứ," tôi gật đầu, "vì chúng ta đang bám theo hướng mặt trời, và ở vĩ độ này, mặt trời đang ngự trị ở phương Bắc."
"Đấy là điều không phải bàn cãi," Ned Land chêm vào, "nhưng còn phải xem liệu viên thuyền trưởng sẽ lèo lái con tàu rẽ vào Thái Bình Dương hay Đại Tây Dương. Hay nói đúng hơn, vào những hải trình tấp nập thuyền bè hay chìm khuất vào chốn hoang vu tuyệt tích."
Tôi chẳng thể đưa ra một đáp án rành rẽ cho câu hỏi đó. Thâm tâm tôi thầm e sợ thuyền trưởng Nemo sẽ muốn đưa chúng tôi tới đại dương bao la ôm trọn lấy bờ biển của cả Á châu và Mỹ châu. Chỉ bằng cách đó, ông ta mới có thể hoàn tất nốt chuyến hành trình vòng quanh thế giới dưới đáy biển sâu, rồi lại trở về những vùng nước vắng lặng để chiếc Nautilus mặc sức vẫy vùng tự do. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi đành phải đối mặt để làm sáng tỏ ngã rẽ định mệnh này.
Lúc bấy giờ, chiếc Nautilus đang rẽ sóng lao đi với một tốc độ chóng mặt. Vòng đai cấm địa nơi vùng cực nhanh chóng bị bỏ lại đằng sau, và con tàu ngạo nghễ hướng mũi về phía mũi Horn1. Bảy giờ tối ngày 31 tháng Ba, chúng tôi lướt ngang qua dải đất tận cùng của châu Mỹ. Vào khoảnh khắc ấy, mọi đớn đau của quá khứ dường như đã lùi sâu vào quên lãng. Ký ức kinh hoàng về những ngày tháng bị cầm tù giữa biển băng lạnh lẽo đã hoàn toàn bị tước đi khỏi tâm trí. Bấy giờ, chúng tôi chỉ còn thiết tha hướng về tương lai. Thuyền trưởng Nemo tuyệt nhiên không xuất hiện thêm lấy một lần nào nữa, từ gian phòng khách cho đến trên boong tàu. Nhưng tọa độ do viên thuyền phó cẩn thận đánh dấu mỗi ngày lên tấm bản đồ phẳng đã giúp tôi nắm được hướng đi chính xác của tàu Nautilus.
Tối hôm đó, lòng tôi khấp khởi vui sướng khi nhận ra con tàu đang hướng thẳng mũi về phía Bắc, băng qua Đại Tây Dương. Hôm sau, ngày 1 tháng Tư, khi chiếc Nautilus vươn mình nổi lên mặt nước vài phút ngay trước buổi ban trưa, chúng tôi thấp thoáng trông thấy những mảng đất liền in bóng ở phương Tây. Đó chính là quần đảo Terra del Fuego - Đất Lửa. Cái tên này được những nhà hàng hải tiên phong ưu ái đặt cho vùng đất này khi họ chứng kiến vô số cột khói vấn vít bốc lên từ những túp lều của người bản địa. Đường bờ biển tuy trải dài thấp tè, nhưng thấp thoáng phía xa xa lại là những dãy núi cao sừng sững uy nghi. Tôi thậm chí còn mường tượng như mình đang thoáng thấy cả ngọn núi Sarmiento2 lừng danh, vươn cao chót vót 2.070 thước so với mực nước biển. Ngọn núi với đỉnh nhọn hoắt ấy tựa như một đài dự báo thời tiết thiên nhiên, bởi cứ nhìn vào việc nó rạng rỡ phô mình hay e ấp nấp sau màn sương mù, người ta có thể tiên đoán được nay mai trời đẹp hay giông bão. Và ngay lúc này đây, cái đỉnh núi kiêu hãnh ấy đang in hằn rõ rệt trên nền trời quang đãng.
Tàu Nautilus lại chìm xuống làn nước, men đến sát bờ biển chỉ còn cách đó vài dặm. Qua những ô cửa kính lớn trong phòng khách, tôi sững sờ chiêm ngưỡng những dải rong biển dài ngoằng bện chặt vào vô số loài tảo bẹ khổng lồ. Đó là những kiệt tác kỳ vĩ mà vùng biển cực quang mênh mang này đang ưu ái cưu mang. Chúng mang những sợi tơ trơn nhẵn, sắc bén và dài chừng 300 thước - chẳng khác nào những sợi siêu cáp tự nhiên, dày hơn cả ngón tay cái người lớn. Chính nhờ độ bền dai cực kỳ này mà chúng thường được người ta cắt về làm dây thừng bện cho tàu bè. Đâu đó còn thấp thoáng một loài tảo khác mang tên velp, tự hào khoe những phiến lá dài tới bốn feet. Chúng cắm rễ vào các khối san hô, thả mình rũ rượi dọc theo đáy biển sâu. Những thân tảo ấy vừa đóng vai trò như tổ yến êm ái, vừa là nguồn thức ăn dồi dào cho hàng vạn loài giáp xác, động vật thân mềm, cua và mực. Tại chính vương quốc dưới nước này, hải cẩu cùng rái cá đang thỏa sức tận hưởng những bữa tiệc thịnh soạn, nhâm nhi thịt cá kèm với rau câu - hệt như phong cách ẩm thực thanh lịch của người Anh.
Chiếc Nautilus cứ thế lướt đi với một vận tốc đáng kinh ngạc, xuyên qua mảnh đất sinh thái màu mỡ và căng tràn sức sống. Xế chiều, con tàu đã chầm chậm tiến sát tới quần đảo Falkland, nơi mà ngay ngày hôm sau tôi đã dễ dàng nhận diện ra nhờ những đỉnh núi nhấp nhô lởm chởm. Độ sâu của vùng biển này khá vừa phải. Dọc theo đường bờ biển, những tấm lưới của chúng tôi kéo lên cơ man nào là những mẫu tảo biển tuyệt mỹ, và đáng giá nhất là một loài tảo bẹ với phần rễ chi chít những con trai ngon lành bậc nhất thế gian. Ngỗng và vịt trời rụng lả tả hàng tá xuống boong tàu, và chẳng mấy chốc, chúng đã nằm ngoan ngoãn trong phòng dự trữ thức ăn của con tàu.
Khi những rẻo cao cuối cùng của quần đảo Falkland chìm khuất dần nơi đường chân trời, tàu Nautilus từ từ lặn xuống độ sâu chừng hai mươi đến hai mươi lăm thước, bắt đầu nương theo dọc bờ biển châu Mỹ. Thuyền trưởng Nemo vẫn bặt vô âm tín. Mãi cho đến ngày 3 tháng Tư, chúng tôi vẫn cứ quẩn quanh dọc theo bờ biển Patagonia; lúc thì chìm sâu dưới lòng đại dương, lúc lại ngoi lên ngắm nghía mặt nước. Con tàu Nautilus xé sóng băng qua vùng cửa sông rộng lớn do dòng sông Plata bồi đắp. Đến ngày 4 tháng Tư, tàu đã cách ranh giới Uruguay chừng năm mươi sáu dặm. Mũi tàu hướng thẳng về phương Bắc, miệt mài men theo những đường bờ biển Nam Mỹ uốn lượn quanh co trải dài. Kể từ lúc nhổ neo rời vùng biển Nhật Bản, chúng tôi đã dong buồm vượt qua quãng đường lên tới 1.600 dặm. Tầm mười một giờ sáng, con tàu vượt qua chí tuyến Nam tại kinh tuyến ba mươi bảy. Chúng tôi lướt qua mũi Frio vươn mình sừng sững ra biển lớn. Trái ngược hoàn toàn với sự bất mãn tột độ của Ned Land, thuyền trưởng Nemo có vẻ chẳng mặn mà gì với việc nấn ná lại gần những vùng ven biển nhộn nhịp người qua lại của Brazil. Thay vào đó, ông cho con tàu lao đi với một tốc độ chóng mặt. Chẳng một loài cá nào, chẳng một sải cánh chim nào dù là dũng mãnh và nhanh nhẹn nhất có thể theo kịp chúng tôi. Thật đáng tiếc, những kỳ quan thiên nhiên lộng lẫy của vùng biển này cứ thế lướt qua, vuột mất khỏi tầm mắt của chúng tôi.
Tốc độ kinh hoàng ấy được duy trì ròng rã suốt vài ngày liền. Cho đến sẩm tối ngày 9 tháng Tư, chúng tôi đã lờ mờ trông thấy điểm cực đông của Nam Mỹ-nơi tạo nên mũi San Roque. Nhưng chỉ ngay sau đó, tàu Nautilus bẻ lái đột ngột. Nó lao thẳng xuống độ sâu tột cùng của một thung lũng dưới đáy biển, nằm lọt thỏm giữa mũi đất này và vùng Sierra Leone bên bờ biển châu Phi. Thung lũng ngầm này rẽ nhánh vươn tới tận vĩ tuyến của quần đảo Antilles, rồi kết thúc ở phía Bắc bằng một vùng trũng khổng lồ, sâu hoắm tới 9.000 thước. Tại nơi đây, lưu vực địa chất của đại dương trải dài đến tận quần đảo Tiểu Antilles, dựng lên một vách đá dốc đứng cao ba dặm rưỡi. Ngang tầm vĩ tuyến của quần đảo Cape Verde lại hiện ra một bức tường vĩ đại chẳng kém cạnh, ôm trọn lấy toàn bộ lục địa chìm của Đại Tây Dương. Dưới đáy thung lũng bao la điểm xuyết vài ngọn núi nhấp nhô, mang đến cho chốn thâm sơn cùng cốc dưới lòng đại dương một cảnh sắc đẹp đẽ và ngoạn mục như tranh vẽ. Quả thực, tôi có thể mường tượng và kể lại tường tận những điều này là nhờ dựa vào các bản đồ viết tay đặt trong thư viện của tàu Nautilus-những tấm bản đồ mà rõ ràng chính tay thuyền trưởng Nemo đã cất công vẽ lại bằng những quan sát cá nhân tỉ mỉ của ông. Trong suốt hai ngày ròng, chúng tôi mải mê thăm thú những vùng biển hoang vắng và sâu thẳm qua các góc nhìn nghiêng nghiêng qua vách kính. Nhờ được trang bị những bánh lái ngang chéo dài, tàu Nautilus có thể vươn lướt tới mọi độ cao. Thế rồi, vào ngày 11 tháng Tư, con tàu đột ngột ngoi lên. Đất liền dần hiện ra ngay tại cửa sông Amazon-một cửa sông rộng lớn đến độ mênh mông. Phần cửa sông đổ ra biển vĩ đại đến mức sức nước của nó đủ sức làm ngọt hóa cả một vùng nước biển rộng lớn trong phạm vi nhiều dặm vây quanh.
Đường xích đạo đã bị lùi lại phía sau. Cách chúng tôi hai mươi dặm về phía tây là Guiana, một vùng thuộc địa của nước Pháp, nơi chúng tôi có thể dễ dàng tìm chốn nương thân. Thế nhưng, một cơn cuồng phong dữ dội đang gầm gào quét qua. Lớp lớp những ngọn sóng hung tợn đang trút cơn thịnh nộ lên mặt đại dương, quyết không dung thứ cho bất cứ chiếc xuồng bé mọn nào dám liều lĩnh đương đầu. Ned Land hẳn nhiên thừa hiểu điều đó, nên anh chẳng hề hé răng nửa lời về ý định tẩu thoát. Về phần mình, tôi cũng ý tứ không đả động gì tới kế hoạch của anh. Tôi chẳng hề muốn thôi thúc người thợ săn cá voi lao vào một nỗ lực vô vọng, thứ chắc chắn chỉ chuốc lấy hiểm nguy và thất bại. Để lấp đầy khoảng thời gian rỗi rãi, tôi đắm mình vào những nghiên cứu đầy thi vị. Suốt hai ngày 11 và 12 tháng Tư, tàu Nautilus cứ thế rẽ sóng lướt đi, tuyệt nhiên không lặn xuống một bề nào. Cùng lúc đó, tấm lưới khổng lồ đã kéo lên một mẻ dồi dào vô số nhuyễn thể, tôm cá và cả bò sát biển. Mắc dính vào từng mắt xích lưới là vô số loài động vật thân mềm tuyệt mỹ; phần lớn trong số đó là những con phyctallines thuộc họ hải quỳ. Xen lẫn giữa chúng là loài phyctalis protexta, một sinh vật đặc hữu của vùng biển này. Thân hình chúng mang dáng trụ nhỏ nhắn, điểm xuyết những đường sọc dọc, lấm tấm chấm bi đỏ, và kiêu hãnh ngự trị trên đỉnh là một vương miện xúc tu đang nở bung rực rỡ. Về phần động vật có vỏ, tôi bắt gặp vài giống loài quen thuộc: bầy ốc hương, lũ hến ô-liu với lớp vỏ đan chéo những vệt sọc đều đặn, nổi bật lên những đốm đỏ rực trên nền thịt trắng ngần. Lại có những con ốc xà cừ mang hình dáng kỳ dị, trông tựa như lũ bọ cạp hóa thạch cổ đại; những con hyaleas trong suốt như pha lê; rồi ốc anh vũ, mực nang (một nguyên liệu vô cùng hảo hạng), cùng một vài giống mực ống mà giới học giả cổ đại từng ưu ái xếp chung nhóm với cá chuồn, vốn được ngư dân dùng làm mồi câu cá tuyết. Đương lúc này, tôi cũng may mắn có cơ hội chiêm ngưỡng thêm vô số chủng cá ở vùng biển xích đạo này. Điển hình trong nhóm cá sụn là bọn mút đá petromyzons-pricka. Chúng mang thân hình thon dài như loài lươn, cỡ chừng mười lăm inch, với chiếc đầu phơn phớt sắc lục, bộ vây tím thẫm, lưng xám xanh hòa cùng phần bụng nâu ánh bạc điểm xuyết rải rác những đốm sáng li ti. Bao quanh con ngươi là một vòng tròn óng ả sắc vàng-chúng đích thị là một loài sinh vật lạ lùng của vùng nước ngọt, bị dòng hải lưu hùng vĩ của sông Amazon cuốn phăng ra tận biển khơi; kề đó là những con cá đuối lốm đốm, mang chiếc mõm nhọn hoắt cùng cái đuôi dài thượt, vũ trang sẵn một thứ gai tẩm độc nhọn lởm chởm. Kế đến là vài con cá mập con dài chừng một thước, khoác lớp da xám nhạt cùng những hàng răng cong ngược, thường được giới thủy thủ gọi dưới cái tên pantouffles. Cũng không thể bỏ qua bầy cá dơi vespertilios, mang dáng hình tựa một tam giác cân màu đỏ rực, dài khoảng nửa thước; vây ngực của chúng gắn liền với những dải thịt vươn ra ngoài khiến chúng trông hệt như loài dơi, trong khi phần sừng nhô ra gần mép lỗ mũi lại ban cho chúng cái tên ngộ nghĩnh: kỳ lân biển. Cuối mẻ lưới, tôi nhặt được một vài cá thể cá bò balistae, điển hình là giống curassavian lốm đốm sắc vàng óng ánh rực rỡ, cùng loài capriscus tím nhạt hòa trộn muôn vàn sắc độ huyền ảo, y hệt như màu lông trên cổ loài chim bồ câu.
Tôi xin mạn phép khép lại bản danh sách có phần khô khan, song lại vô cùng chuẩn xác này, bằng hàng loạt những giống cá xương mà tôi tình cờ quan sát được. Xếp vào bộ apteronotes, chúng sở hữu chiếc mõm trắng như tuyết, cùng một thân mình đen láy tuyệt mỹ điểm xuyết một dải thịt lủng lẳng. Kế đến là loài odontognathes mang trên mình những chiếc gai sắc nhọn; những đàn cá mòi dài chín inch, lấp lánh một quầng hào quang ánh bạc; hay giống cá thu kỳ lạ mang tới tận hai vây hậu môn. Tôi cũng để mắt tới bầy cá centronotes khoác lớp áo đen sẫm, thứ thường bị ngư dân dùng đuốc săn bắt. Chúng là những sinh vật dài tới cả hai thước, thịt béo ngậy, trắng ngần và rắn chắc; khi còn tươi thì mang hương vị tựa như lươn, còn lúc phơi khô lại thoang thoảng mùi cá hồi xông khói. Lại có những con cá bàng chài labres mang mình đỏ rực một nửa, nhưng kỳ lạ thay chỉ được phủ vảy ở tận gốc vây lưng và vây hậu môn; loài chrysoptera khoe sắc vàng đan xen sắc bạc, óng ả rực rỡ như một tác phẩm tinh xảo làm từ hồng ngọc và hoàng ngọc. Còn phải kể đến giống spares đuôi vàng ẩn chứa những thớ thịt cực kỳ thanh tao, sở hữu cả đặc tính phát quang sinh học tự nhiên, thứ ánh sáng ma mị đã vô tình tự tố cáo vị trí của chính chúng giữa muôn trùng sóng nước. Xen lẫn trong mớ rong rêu là vài chú cá spares sắc cam điểm xuyết chiếc lưỡi dài; bầy cá maigres kiêu hãnh phô diễn chiếc vây đuôi vàng óng; đàn cá đuôi gai sẫm màu bí ẩn; và dĩ nhiên, không thể thiếu giống cá bốn mắt anableps độc đáo đến từ tận vùng Surinam, vân vân.
Bất chấp sự dàn trải này, tôi không tài nào bỏ qua việc nhắc tới một loài cá mà Conseil sẽ còn mãi khắc ghi, và với một lý do hoàn toàn chính đáng. Một trong những tấm lưới của chúng tôi đã kéo lên một con cá đuối cực kỳ dẹt; nếu cắt bỏ đi chiếc đuôi, thân hình nó sẽ tạo thành một mặt đĩa hoàn hảo, nặng chừng hai mươi ounce. Nó mang chiếc bụng trắng muốt cùng tấm lưng đỏ rực, điểm xuyết những đốm tròn lớn màu xanh sẫm viền đen. Làn da nó nhẵn bóng, kết thúc bằng một chiếc vây chia thùy. Khi bị hất lên boong tàu, con vật điên cuồng quẫy đạp, cố sức lật mình bằng những cú co giật liên hồi. Nó vùng vẫy dữ dội đến mức một cú nảy cuối cùng tưởng chừng đã hất tung nó trở lại mặt biển. Thế nhưng, Conseil, không cam tâm để vuột mất con mồi, đã lao sầm tới. Trước cả khi tôi kịp buông lời can ngăn, cậu đã dùng hai tay tóm chặt lấy nó. Trong chớp mắt, cậu bị quật ngã ngửa, hai chân chổng ngược lên trời, một nửa thân mình hoàn toàn tê liệt, miệng thét lên kinh hãi:
"Ôi! Thầy, thầy ơi! Cứu tôi với!"
Đó là lần đầu tiên cậu chàng tội nghiệp buông lơi sự cung kính thường ngày để cầu cứu tôi một cách suồng sã đến vậy. Anh bạn người Canada cùng tôi tức tốc vực cậu dậy, ra sức xoa bóp cánh tay đang co quắp cho đến khi cậu dần tỉnh táo trở lại. Conseil bất hạnh đã xui xẻo chạm trán cá cumana - loài cá phóng điện cực kỳ nguy hiểm. Sinh vật dị thường này, khi nằm trong môi trường dẫn điện như nước, dư sức giật tung những con cá khác ở khoảng cách xa đến vài thước. Sức mạnh từ cơ quan phát điện của nó kinh khủng đến mức hai bề mặt chính của bộ phận ấy có diện tích không dưới hai mươi bảy feet vuông. Ngày hôm sau, 12 tháng Tư, con tàu Nautilus tiến sát bờ biển Hà Lan, lướt qua gần cửa sông Maroni. Nơi ấy, vài đàn lợn biển đang bơi lội tụ tập thành từng nhóm; chúng là lợn biển manatee, chung bộ bò biển sirenian với loài cá cúi và bò biển stellera. Những sinh vật kiều diễm, hiền hòa và vô hại này dài từ mười tám đến hai mươi mốt feet, nặng chí ít cũng mười sáu tạ. Tôi liền giải thích cho Ned Land và Conseil hiểu rằng tạo hóa đã an bài một sứ mệnh vô cùng thiết yếu cho loài động vật có vú này. Thật vậy, tựa như hải cẩu, chúng sinh ra là để gặm nhấm những thảm cỏ xanh mướt dưới đáy biển, qua đó dọn sạch đám tảo tích tụ vốn hay làm tắc nghẽn các dòng sông vùng nhiệt đới.
"Và hai anh có biết," tôi tiếp lời, "hậu quả sẽ tàn khốc ra sao kể từ khi con người suýt chút nữa đã tận diệt giống loài hữu ích này không? Rằng những đám rong rêu mục rữa đã làm vẩn đục bầu không khí, để rồi chính luồng khí độc hại ấy gieo rắc cơn ác mộng sốt vàng da, tàn phá tang thương những vùng đất xinh đẹp này. Lớp thực vật khổng lồ bùng phát dữ dội dưới các vùng biển nhiệt đới, ươm mầm tai ương lây lan không cách nào vãn hồi từ tận cửa sông Rio de la Plata kéo dài cho tới Florida. Nếu tin vào lời của Toussenel3, thì thảm họa dịch bệnh này vẫn chưa thấm tháp vào đâu so với cơn ác mộng sẽ ập đến nếu đại dương vắng bóng cá voi và hải cẩu. Khi ấy, với hàng đàn bạch tuộc, sứa và mực ống nhung nhúc sinh sôi, biển cả mênh mông sẽ hóa thành những ổ truyền nhiễm khổng lồ, bởi lẽ những con sóng sẽ vĩnh viễn mất đi 'những chiếc dạ dày vĩ đại mà Thượng Đế đã phái xuống để gột rửa bề mặt đại dương'."
-
Mũi đất cực nam của quần đảo Tierra del Fuego (Nam Mỹ). Trong lịch sử hàng hải, đây là một cột mốc nổi tiếng nguy hiểm vì thường xuyên có bão tố và sóng lớn. ↩
-
Một ngọn núi nổi tiếng nằm ở Tierra del Fuego, Nam Mỹ. Được đặt theo tên của nhà thám hiểm người Tây Ban Nha thế kỷ 16 Pedro Sarmiento de Gamboa. ↩
-
Alphonse Toussenel (1803-1885) là một nhà tự nhiên học và nhà văn người Pháp, nổi tiếng với những tác phẩm mang góc nhìn triết lý sâu sắc về vai trò của muôn loài trong tự nhiên. ↩
CHAPTER XVII FROM CAPE HORN TO THE AMAZON
How I got on to the platform, I have no idea; perhaps the Canadian had carried me there. But I breathed, I inhaled the vivifying sea-air. My two companions were getting drunk with the fresh particles. The other unhappy men had been so long without food, that they could not with impunity indulge in the simplest aliments that were given them. We, on the contrary, had no end to restrain ourselves; we could draw this air freely into our lungs, and it was the breeze, the breeze alone, that filled us with this keen enjoyment.
“Ah!” said Conseil, “how delightful this oxygen is! Master need not fear to breathe it. There is enough for everybody.”
Ned Land did not speak, but he opened his jaws wide enough to frighten a shark. Our strength soon returned, and, when I looked round me, I saw we were alone on the platform. The foreign seamen in the Nautilus were contented with the air that circulated in the interior; none of them had come to drink in the open air.
The first words I spoke were words of gratitude and thankfulness to my two companions. Ned and Conseil had prolonged my life during the last hours of this long agony. All my gratitude could not repay such devotion.
“My friends,” said I, “we are bound one to the other for ever, and I am under infinite obligations to you.”
“Which I shall take advantage of,” exclaimed the Canadian.
“What do you mean?” said Conseil.
“I mean that I shall take you with me when I leave this infernal Nautilus.”
“Well,” said Conseil, “after all this, are we going right?”
“Yes,” I replied, “for we are going the way of the sun, and here the sun is in the north.”
“No doubt,” said Ned Land; “but it remains to be seen whether he will bring the ship into the Pacific or the Atlantic Ocean, that is, into frequented or deserted seas.”
I could not answer that question, and I feared that Captain Nemo would rather take us to the vast ocean that touches the coasts of Asia and America at the same time. He would thus complete the tour round the submarine world, and return to those waters in which the Nautilus could sail freely. We ought, before long, to settle this important point. The Nautilus went at a rapid pace. The polar circle was soon passed, and the course shaped for Cape Horn. We were off the American point, March 31st, at seven o’clock in the evening. Then all our past sufferings were forgotten. The remembrance of that imprisonment in the ice was effaced from our minds. We only thought of the future. Captain Nemo did not appear again either in the drawing-room or on the platform. The point shown each day on the planisphere, and, marked by the lieutenant, showed me the exact direction of the Nautilus. Now, on that evening, it was evident, to my great satisfaction, that we were going back to the North by the Atlantic. The next day, April 1st, when the Nautilus ascended to the surface some minutes before noon, we sighted land to the west. It was Terra del Fuego, which the first navigators named thus from seeing the quantity of smoke that rose from the natives’ huts. The coast seemed low to me, but in the distance rose high mountains. I even thought I had a glimpse of Mount Sarmiento, that rises 2,070 yards above the level of the sea, with a very pointed summit, which, according as it is misty or clear, is a sign of fine or of wet weather. At this moment the peak was clearly defined against the sky. The Nautilus, diving again under the water, approached the coast, which was only some few miles off. From the glass windows in the drawing-room, I saw long seaweeds and gigantic fuci and varech, of which the open polar sea contains so many specimens, with their sharp polished filaments; they measured about 300 yards in length-real cables, thicker than one’s thumb; and, having great tenacity, they are often used as ropes for vessels. Another weed known as velp, with leaves four feet long, buried in the coral concretions, hung at the bottom. It served as nest and food for myriads of crustacea and molluscs, crabs, and cuttlefish. There seals and otters had splendid repasts, eating the flesh of fish with sea-vegetables, according to the English fashion. Over this fertile and luxuriant ground the Nautilus passed with great rapidity. Towards evening it approached the Falkland group, the rough summits of which I recognised the following day. The depth of the sea was moderate. On the shores our nets brought in beautiful specimens of sea weed, and particularly a certain fucus, the roots of which were filled with the best mussels in the world. Geese and ducks fell by dozens on the platform, and soon took their places in the pantry on board.
When the last heights of the Falklands had disappeared from the horizon, the Nautilus sank to between twenty and twenty-five yards, and followed the American coast. Captain Nemo did not show himself. Until the 3rd of April we did not quit the shores of Patagonia, sometimes under the ocean, sometimes at the surface. The Nautilus passed beyond the large estuary formed by the Plata, and was, on the 4th of April, fifty-six miles off Uraguay. Its direction was northwards, and followed the long windings of the coast of South America. We had then made 1,600 miles since our embarkation in the seas of Japan. About eleven o’clock in the morning the Tropic of Capricorn was crossed on the thirty-seventh meridian, and we passed Cape Frio standing out to sea. Captain Nemo, to Ned Land’s great displeasure, did not like the neighbourhood of the inhabited coasts of Brazil, for we went at a giddy speed. Not a fish, not a bird of the swiftest kind could follow us, and the natural curiosities of these seas escaped all observation.
This speed was kept up for several days, and in the evening of the 9th of April we sighted the most easterly point of South America that forms Cape San Roque. But then the Nautilus swerved again, and sought the lowest depth of a submarine valley which is between this Cape and Sierra Leone on the African coast. This valley bifurcates to the parallel of the Antilles, and terminates at the north by the enormous depression of 9,000 yards. In this place, the geological basin of the ocean forms, as far as the Lesser Antilles, a cliff of three and a half miles perpendicular in height, and, at the parallel of the Cape Verde Islands, another wall not less considerable, that encloses thus all the sunk continent of the Atlantic. The bottom of this immense valley is dotted with some mountains, that give to these submarine places a picturesque aspect. I speak, moreover, from the manuscript charts that were in the library of the Nautilus-charts evidently due to Captain Nemo’s hand, and made after his personal observations. For two days the desert and deep waters were visited by means of the inclined planes. The Nautilus was furnished with long diagonal broadsides which carried it to all elevations. But on the 11th of April it rose suddenly, and land appeared at the mouth of the Amazon River, a vast estuary, the embouchure of which is so considerable that it freshens the sea-water for the distance of several leagues.
The equator was crossed. Twenty miles to the west were the Guianas, a French territory, on which we could have found an easy refuge; but a stiff breeze was blowing, and the furious waves would not have allowed a single boat to face them. Ned Land understood that, no doubt, for he spoke not a word about it. For my part, I made no allusion to his schemes of flight, for I would not urge him to make an attempt that must inevitably fail. I made the time pass pleasantly by interesting studies. During the days of April 11th and 12th, the Nautilus did not leave the surface of the sea, and the net brought in a marvellous haul of zoophytes, fish and reptiles. Some zoophytes had been fished up by the chain of the nets; they were for the most part beautiful phyctallines, belonging to the actinidian family, and among other species the phyctalis protexta, peculiar to that part of the ocean, with a little cylindrical trunk, ornamented with vertical lines, speckled with red dots, crowning a marvellous blossoming of tentacles. As to the molluscs, they consisted of some I had already observed-turritellas, olive porphyras, with regular lines intercrossed, with red spots standing out plainly against the flesh; odd pteroceras, like petrified scorpions; translucid hyaleas, argonauts, cuttle-fish (excellent eating), and certain species of calmars that naturalists of antiquity have classed amongst the flying-fish, and that serve principally for bait for cod-fishing. I had now an opportunity of studying several species of fish on these shores. Amongst the cartilaginous ones, petromyzons-pricka, a sort of eel, fifteen inches long, with a greenish head, violet fins, grey-blue back, brown belly, silvered and sown with bright spots, the pupil of the eye encircled with gold-a curious animal, that the current of the Amazon had drawn to the sea, for they inhabit fresh waters-tuberculated streaks, with pointed snouts, and a long loose tail, armed with a long jagged sting; little sharks, a yard long, grey and whitish skin, and several rows of teeth, bent back, that are generally known by the name of pantouffles; vespertilios, a kind of red isosceles triangle, half a yard long, to which pectorals are attached by fleshy prolongations that make them look like bats, but that their horny appendage, situated near the nostrils, has given them the name of sea-unicorns; lastly, some species of balistae, the curassavian, whose spots were of a brilliant gold colour, and the capriscus of clear violet, and with varying shades like a pigeon’s throat.
I end here this catalogue, which is somewhat dry perhaps, but very exact, with a series of bony fish that I observed in passing belonging to the apteronotes, and whose snout is white as snow, the body of a beautiful black, marked with a very long loose fleshy strip; odontognathes, armed with spikes; sardines nine inches long, glittering with a bright silver light; a species of mackerel provided with two anal fins; centronotes of a blackish tint, that are fished for with torches, long fish, two yards in length, with fat flesh, white and firm, which, when they arc fresh, taste like eel, and when dry, like smoked salmon; labres, half red, covered with scales only at the bottom of the dorsal and anal fins; chrysoptera, on which gold and silver blend their brightness with that of the ruby and topaz; golden-tailed spares, the flesh of which is extremely delicate, and whose phosphorescent properties betray them in the midst of the waters; orange-coloured spares with long tongues; maigres, with gold caudal fins, dark thorn-tails, anableps of Surinam, etc.
Notwithstanding this “et cetera,” I must not omit to mention fish that Conseil will long remember, and with good reason. One of our nets had hauled up a sort of very flat ray fish, which, with the tail cut off, formed a perfect disc, and weighed twenty ounces. It was white underneath, red above, with large round spots of dark blue encircled with black, very glossy skin, terminating in a bilobed fin. Laid out on the platform, it struggled, tried to turn itself by convulsive movements, and made so many efforts, that one last turn had nearly sent it into the sea. But Conseil, not wishing to let the fish go, rushed to it, and, before I could prevent him, had seized it with both hands. In a moment he was overthrown, his legs in the air, and half his body paralysed, crying-
“Oh! master, master! help me!”
It was the first time the poor boy had spoken to me so familiarly. The Canadian and I took him up, and rubbed his contracted arms till he became sensible. The unfortunate Conseil had attacked a cramp-fish of the most dangerous kind, the cumana. This odd animal, in a medium conductor like water, strikes fish at several yards’ distance, so great is the power of its electric organ, the two principal surfaces of which do not measure less than twenty-seven square feet. The next day, April 12th, the Nautilus approached the Dutch coast, near the mouth of the Maroni. There several groups of sea-cows herded together; they were manatees, that, like the dugong and the stellera, belong to the sirenian order. These beautiful animals, peaceable and inoffensive, from eighteen to twenty-one feet in length, weigh at least sixteen hundredweight. I told Ned Land and Conseil that provident nature had assigned an important role to these mammalia. Indeed, they, like the seals, are designed to graze on the submarine prairies, and thus destroy the accumulation of weed that obstructs the tropical rivers.
“And do you know,” I added, “what has been the result since men have almost entirely annihilated this useful race? That the putrefied weeds have poisoned the air, and the poisoned air causes the yellow fever, that desolates these beautiful countries. Enormous vegetations are multiplied under the torrid seas, and the evil is irresistibly developed from the mouth of the Rio de la Plata to Florida. If we are to believe Toussenel, this plague is nothing to what it would be if the seas were cleaned of whales and seals. Then, infested with poulps, medusæ, and cuttle-fish, they would become immense centres of infection, since their waves would not possess ‘these vast stomachs that God had charged to infest the surface of the seas.’”