CHƯƠNG I: ẤN ĐỘ DƯƠNG
Giờ đây, chúng tôi chính thức bước vào chặng thứ hai của chuyến hành trình dưới đáy biển. Chặng đầu tiên đã khép lại bằng một cảnh tượng bi tráng nơi nghĩa trang san hô, khắc sâu vào tâm trí tôi một nỗi niềm ám ảnh. Hóa ra, giữa đại dương bao la này, cuộc đời của Thuyền trưởng Nemo vẫn cứ lẳng lặng trôi, cho đến tận lúc ngài nằm lại nơi ngôi mộ do chính tay mình vun đắp dưới một trong những vực thẳm sâu nhất. Nơi đó, sẽ chẳng có con quái vật biển nào đủ sức quấy rầy giấc ngủ ngàn thu của thủy thủ đoàn tàu Nautilus, của những người tri kỷ đã quyện chặt vào nhau trong cả cái chết lẫn lúc sinh thời. “Và cả bất kỳ con người nào nữa,” Thuyền trưởng từng buông lời củng cố thêm. Quả thực, đó vẫn là một thái độ thách thức dữ dội, không thể lay chuyển của ngài đối với toàn thể xã hội loài người!
Tôi không tài nào thỏa hiệp với giả thuyết đã khiến Conseil an lòng.
Cậu hầu thật thà của tôi cứ khăng khăng tin rằng người Chỉ huy tàu Nautilus là một nhà bác học ẩn danh, một kẻ đã đáp trả sự thờ ơ của nhân loại bằng một thái độ khinh khi tột độ. Trong mắt cậu, ngài là một thiên tài không được thấu hiểu, một con người đã quá đỗi mệt mỏi trước những dối trá trên đất liền nên mới tìm về chốn dung thân bất khả xâm phạm này, nơi ngài được tự do vẫy vùng cùng những bản năng sâu thẳm nhất. Theo góc nhìn của tôi, điều này mới chỉ hé mở một phần trong tính cách của Thuyền trưởng Nemo. Bí ẩn của đêm cuối cùng khi chúng tôi bị giam cầm trong phòng tối, liều thuốc mê chìm vào giấc ngủ, và cả phản ứng đề phòng thô bạo của Thuyền trưởng khi ngài giật phăng chiếc ống nhòm lúc tôi định đưa lên quét vòng chân trời... rồi vết thương chí mạng của người thủy thủ sau một cú va chạm đầy bí ẩn của tàu Nautilus - tất cả đã đẩy tôi vào một ngã rẽ suy tưởng mới. Không; Thuyền trưởng Nemo không chỉ đơn thuần muốn lẩn tránh cõi người. Cỗ máy đáng sợ của ngài không chỉ đắc lực cho những khao khát tự do vẫy vùng, mà rất có thể nó còn phục vụ cho một mưu đồ trả thù khủng khiếp nào đó.
Vào lúc này, bức màn sự thật vẫn mờ mịt trước mắt tôi; tôi chỉ vừa chớp được một tia sáng lóe lên giữa vô vàn bóng tối bủa vây, đành tự dặn lòng phải ghi chép lại mọi thứ nương theo dòng chảy của các sự kiện.
Hôm ấy, vào giữa trưa ngày 24 tháng Một năm 1868, viên thuyền phó xuất hiện để đo độ cao của mặt trời. Tôi bước lên boong tàu, châm một điếu xì gà, và thầm quan sát từng thao tác. Dường như người đàn ông này chẳng hề hiểu tiếng Pháp; bởi vài lần tôi đã cố tình buông những lời nhận xét lớn tiếng, những câu nói đáng lẽ phải gợi lên một phản xạ chú ý vô thức nào đó nếu anh ta hiểu được. Thế nhưng, anh ta vẫn lạnh lùng và câm lặng.
Trong lúc anh ta mải mê quan sát bằng kính lục phân, một trong những thủy thủ của tàu Nautilus (chính là người đàn ông lực lưỡng đã tháp tùng chúng tôi trong chuyến du ngoạn dưới biển đầu tiên đến Đảo Crespo) tiến đến để lau dọn những tấm kính của chiếc đèn lồng. Tôi tranh thủ xem xét các thiết bị của cỗ máy. Sức mạnh của nó đã được nhân lên gấp trăm lần nhờ những vòng thấu kính xếp đặt tựa như trong một ngọn hải đăng, phóng ra những luồng sáng rực rỡ theo phương ngang. Chiếc đèn điện được thiết kế đặc biệt nhằm vắt kiệt luồng sáng mạnh mẽ nhất. Đáng chú ý, nó hoạt động trong môi trường chân không, đảm bảo cả độ ổn định lẫn cường độ của ánh sáng. Trạng thái chân không này còn giúp bảo vệ những đầu chì than tạo hồ quang điện1 - một giải pháp tiết kiệm mang tính sống còn với Thuyền trưởng Nemo, người không thể dễ dàng bổ sung chúng lúc cần; và trong điều kiện tối ưu như vậy, sự hao mòn của chúng gần như là bằng không. Khi tàu Nautilus đã sẵn sàng lặn xuống để tiếp tục hành trình, tôi quay trở lại phòng khách. Cửa sập đóng kín, và hướng đi thẳng tắp về phía tây.
Chúng tôi đang rẽ sóng lướt đi trên mặt nước Ấn Độ Dương, một bình nguyên lỏng bao la trải rộng tới 1,2 tỷ mẫu Anh2. Làn nước ở đây trong vắt đến mức bất cứ ai cúi xuống nhìn cũng phải hoa mắt chóng mặt bởi độ sâu thăm thẳm xuyên thấu của nó. Chiếc Nautilus thường lặn lờn vờn ở độ sâu từ năm mươi đến một trăm sải3. Hành trình cứ thế êm đềm trôi qua trong vài ngày. Với bất kỳ ai khác, hẳn những giờ phút lênh đênh này sẽ kéo dài vô tận và nhạt nhẽo vô chừng; nhưng với một người trót mang tình yêu đắm đuối dành cho đại dương như tôi thì không. Những buổi tản bộ mỗi ngày trên boong tàu để mặc cho bầu không khí mặn mòi, trong trẻo bao bọc lấy mình; khung cảnh thế giới muôn màu muôn vẻ dưới làn nước hiện ra qua ô cửa sổ phòng khách; những pho sách đồ sộ trong thư viện; hay công việc miệt mài ghi chép lại hồi ký... tất cả đã choán ngợp tâm trí, chẳng để chừa lại cho tôi dù chỉ một khoảnh khắc chán chường hay mỏi mệt.
Suốt những ngày qua, chúng tôi đã bắt gặp vô số loài chim nước, từ hải âu đến mòng biển. Vài con xui xẻo đã trở thành mục tiêu của những phát súng thiện xạ, để rồi qua bàn tay chế biến tài tình, chúng biến thành một món thịt thủy cầm ngon tuyệt hảo. Giữa những cánh chim rộng lớn, bị cuốn đi quá xa bờ và đành phải nương mình chập chờn trên đầu sóng để rũ bỏ cơn mệt nhọc sau chuyến bay dài, tôi tinh mắt nhận ra vài con hải âu lớn với vẻ đẹp kiêu kỳ. Chúng cất lên những tiếng kêu the thé, chói tai tựa như lừa rống, hòa cùng muôn vàn tiếng gọi bầy của những sinh vật thuộc họ cánh dài khác.
Riêng về các loài cá, mỗi lần những tấm màn thép trên ô cửa sổ mở ra là một lần chúng lại khiến chúng tôi phải sững sờ chiêm ngưỡng, ngỡ như tình cờ vén được bức màn bí mật về cuộc sống dưới đáy sâu của muôn loài. Tại đây, tôi đã tận mắt chứng kiến vô số loài sinh vật kỳ lạ mà trước kia mình chưa từng có diễm phúc được quan sát.
Đáng chú ý nhất phải kể đến loài cá nóc hòm, những cư dân đặc hữu của vùng Biển Đỏ, Ấn Độ Dương và cả những dải nước ấm áp ôm trọn bờ biển Nam Mỹ nhiệt đới. Tựa như loài rùa, tatu, nhím biển hay các động vật giáp xác khác, tạo hóa đã ban tặng cho chúng một bộ áo giáp che ngực kiên cố. Lớp giáp ấy chẳng phải tạo nên từ canxi hay đá, mà được cấu thành từ xương thật. Lớp vỏ bọc này ở một số con có hình tam giác đặc, số khác lại mang hình tứ giác. Trong nhóm cá mang giáp hình tam giác, tôi chú ý đến vài cá thể dài chừng một rưỡi inch. Thớ thịt của chúng tươi rói và mang một hương vị vô cùng thơm ngon. Với chiếc đuôi màu nâu điểm xuyết những chiếc vây vàng rực, tôi thiết nghĩ người ta hoàn toàn có thể đem loài này về nuôi thả trong môi trường nước ngọt, nơi mà không ít các loài cá biển đã chứng tỏ khả năng thích nghi tài tình. Kế đến, không thể không nhắc tới loài cá nóc hòm hình tứ giác nổi bật với bốn khối bướu lớn gồ lên trên lưng. Phần bụng dưới của vài con còn được điểm xuyết những đốm trắng li ti; chúng thân thiện đến mức có thể thuần dưỡng như chim cảnh. Lại có những con cá đuôi gai sở hữu những chiếc gai nhọn hoắt - thực chất là phần vỏ xương nhô ra kéo dài; cộng thêm những âm thanh ậm ực kỳ quặc phát ra từ cổ họng, chúng bị cánh đi biển gán cho cái biệt danh "lợn biển". Thậm chí, tôi còn bắt gặp cả những cá thể mang bướu lớn hệt như lạc đà, mang hình dáng một chiếc nón với những thớ thịt dai nhách và cứng cáp.
Đến đây, tôi xin phép được trích dẫn lại vài dòng từ cuốn sổ tay ghi chép hàng ngày của cậu Conseil: "Nơi này tập trung một vài giống cá thuộc chi Tetraodon đặc trưng của vùng biển nhiệt đới. Chúng mang trên mình chiếc lưng đỏ ửng cùng phần bụng trắng toát, nổi bật với ba hàng sợi chạy dọc thân mình. Lại có những sinh vật phát điện, thân dài chừng bảy inch, khoác lên mình một bộ áo rực rỡ sắc màu vô cùng sống động. Kế đến, đại diện cho muôn ngàn giống loài kỳ dị khác, phải kể tới loài Ovoides. Trông chúng hệt như một quả trứng khổng lồ màu nâu sẫm điểm xuyết những sọc trắng mảnh dẻ, và tuyệt nhiên không hề có đuôi. Rồi tới loài Diodon - những con nhím biển thực thụ, mình đầy gai nhọn hoắt, mang trong mình khả năng phình to cơ thể đến mức biến thành một chiếc gối cắm đầy phi tiêu tua tủa. Lướt qua bầy cá ngựa Hippocampus vốn đã quá quen thuộc ở mọi đại dương, ta bắt gặp loài cá rồng biển Pegasus mang cái mõm thon dài. Điểm đặc biệt của chúng nằm ở cặp vây ngực cực dài, xòe rộng tựa đôi cánh, cho phép chúng - nếu không phải là bay lượn thực sự - thì chí ít cũng đủ sức phóng vút lên không trung. Xa xa là bầy cá mỏ chim bồ câu khoe chiếc đuôi được bao bọc bởi vô vàn lớp vỏ khoang tròn. Nổi bật giữa làn nước là loài cá hàm dài Macrognathus, một tuyệt tác của tự nhiên với thân hình dài chín inch, tỏa sáng lấp lánh dưới những sắc màu dịu mắt nhất. Không thể bỏ qua loài cá đàn xếp Callionymus nhạt màu với chiếc đầu sần sùi thô ráp; hay vô vàn những cá thể thuộc chi Chaetodon. Chúng sở hữu chiếc mõm thon dài vươn ra như một chiếc ống tiêu, mang biệt tài săn sâu bọ bằng cách nhổ ra một giọt nước duy nhất hệt như viên đạn bắn ra từ khẩu súng hơi. Quả không ngoa khi ví von chúng là những chú chim đớp ruồi kiêu hãnh của biển cả."
"Ở chi cá thứ tám mươi chín, theo bảng phân loại của Lacepède4, thuộc lớp phụ cá xương thứ hai với đặc trưng là nắp mang và màng phế quản, tôi đặc biệt chú ý đến loài cá mù làn Scorpaena. Chúng sở hữu một chiếc đầu vũ trang đầy gai nhọn và duy nhất một chiếc vây lưng. Tùy thuộc vào từng phân lớp mà lũ sinh vật này có được bọc trong những mảnh vảy nhỏ hay không. Phân lớp thứ hai mang đến cho ta những cá thể thuộc chi Didactyle, dài chừng mười bốn đến mười lăm inch. Cơ thể chúng hằn lên những vệt màu vàng rực, đi cùng với chiếc đầu mang hình thù kỳ dị đến khó tin. Riêng phân lớp thứ nhất lại cống hiến cho đại dương những đại diện mang ngoại hình quái đản không kém, thường được người đời gọi bằng cái tên sát nghĩa là ‘ếch biển’. Chúng mang một chiếc đầu to lớn kềnh càng, chỗ thì thủng lỗ chỗ, chỗ lại sưng tấy lên bởi những khối u lồi lõm, gai nhọn tua tủa, bao phủ bởi chi chít bướu sần sùi. Trên đỉnh đầu mọc ra những chiếc sừng kỳ quái và gớm ghiếc vô cùng. Toàn thân và phần đuôi của chúng đầy rẫy những vết chai sần thô ráp. Một cú chích từ chiếc ngòi độc của nó đủ sức gây ra một vết thương chí mạng. Quả thật, đó là một sinh vật hội tụ đủ mọi nét gớm ghiếc và kinh hãi đến tột cùng trong mắt kẻ đối diện."
Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng Một, chiếc Nautilus băng mình qua đại dương với vận tốc hai trăm năm mươi hải lý trong vòng hai mươi bốn giờ, tương đương năm trăm bốn mươi dặm, tức hai mươi hai dặm một giờ. Dọc đường đi, chúng tôi có cơ hội chiêm ngưỡng vô vàn những giống cá khác nhau. Bị quầng sáng điện rực rỡ thu hút, chúng ra sức bám theo con tàu; nhưng tốc độ kinh hồn của chiếc tàu ngầm đã nhanh chóng bỏ lại phần lớn đám sinh vật ấy ở phía sau, dù vẫn có vài kẻ ngoan cường bám trụ được trong vùng nước bao quanh chiếc Nautilus một khoảng thời gian. Sáng ngày 24, ở tọa độ 12° 5′ vĩ độ Nam và 94° 33′ kinh độ, chúng tôi nhìn thấy đảo Keeling. Đó là một rạn san hô phủ đầy những rặng dừa tuyệt mỹ, từng in dấu chân của nhà khoa học Darwin và Thuyền trưởng Fitzroy5. Chiếc Nautilus lướt nhẹ men theo bờ biển của hòn đảo hoang vắng này một quãng ngắn. Những mẻ lưới kéo lên cơ man nào là các mẫu vật polyp và vô số lớp vỏ kỳ lạ của loài nhuyễn thể. Một vài mẫu vật quý giá thuộc loài delphinulae đã làm phong phú thêm cho bộ sưu tập vô giá của Thuyền trưởng Nemo. Về phần mình, tôi cũng góp thêm vào đó một nhánh san hô astraea punctifera - một loại polyp ký sinh thường bám chặt vào những chiếc vỏ.
Chẳng bao lâu sau, đảo Keeling đã khuất dạng nơi chân trời. Mũi tàu chuyển hướng tây bắc, tiến thẳng về phía bán đảo Ấn Độ.
Kể từ lúc rời đảo Keeling, hành trình của chúng tôi trở nên chậm chạp và nhiều biến động hơn, con tàu thường xuyên lặn xuống những độ sâu thăm thẳm. Vài lần, thủy thủ đoàn phải sử dụng đến các bánh lái thăng bằng, được điều khiển bởi hệ thống đòn bẩy bên trong để tạo độ nghiêng so với đường mớn nước6. Bằng cách đó, con tàu lặn xuống độ sâu chừng hai dặm, nhưng vẫn chưa hề chạm tới những vực thẳm sâu nhất của Ấn Độ Dương, nơi mà ngay cả những cuộc thăm dò sâu tới bảy ngàn sải vẫn chẳng thể tìm thấy đáy. Về phần nhiệt độ ở những tầng nước sâu này, nhiệt kế luôn chỉ ổn định ở mức bốn độ trên không. Tôi nhận thấy một điều rằng, ở những tầng nước nông hơn, nhiệt độ bao giờ cũng lạnh hơn so với vùng nước trên bề mặt.
Ngày 25 tháng Một, đại dương chìm trong vẻ tĩnh lặng tuyệt đối. Tàu Nautilus dành trọn cả ngày nổi trên mặt nước; chân vịt mạnh mẽ của nó không ngừng quẫy đạp, hất tung những cột sóng lên cao ngất. Trong khung cảnh ấy, có ai lại không nhầm tưởng nó là một con cá voi khổng lồ cơ chứ? Tôi dành đến ba phần tư thời gian trong ngày để đứng trên boong tàu ngắm nhìn biển cả. Đường chân trời trống trải chẳng có lấy một bóng dáng nào, mãi cho đến khoảng bốn giờ chiều, một chiếc tàu hơi nước bỗng hiện ra, chạy ngược chiều với chúng tôi về hướng tây. Những cột buồm của nó nhô lên rõ rệt trong chốc lát, nhưng họ tuyệt nhiên không thể nhìn thấy chiếc Nautilus, bởi con tàu của chúng tôi nổi quá thấp so với mặt nước. Tôi thầm đoán con tàu kia thuộc sở hữu của Công ty P. O.7, đang thực hiện chuyến hải trình từ Ceylon8 đến Sydney, với các điểm dừng chân tại Mũi King George và Melbourne.
Vào khoảng năm giờ chiều, ngay trước khoảnh khắc hoàng hôn buông xuống chớp nhoáng - ranh giới giao thoa ngắn ngủi giữa ngày và đêm nơi vùng nhiệt đới, Conseil và tôi đã vô cùng kinh ngạc khi chứng kiến một cảnh tượng vô cùng kỳ thú.
Đó là một đàn bạch tuộc mang vỏ đang lướt đi trên mặt đại dương. Chúng tôi có thể đếm được đến hàng trăm con. Chúng thuộc loài có bướu đặc trưng thường thấy ở vùng biển Ấn Độ.
Những sinh vật nhuyễn thể duyên dáng này di chuyển giật lùi bằng hệ thống ống vận động, qua đó chúng liên tục hút và phun những luồng nước mạnh ra ngoài. Trong số tám chiếc xúc tu, sáu chiếc được vươn dài và thả trôi bồng bềnh trên mặt nước; trong khi hai chiếc còn lại thì cuộn dẹt lại, giương cao đón gió hệt như một cánh buồm mỏng manh. Tôi dán mắt vào những chiếc vỏ hình xoắn ốc có rãnh của chúng, thứ mà nhà tự nhiên học Cuvier9 đã miêu tả một cách đầy tinh tế như những chiếc thuyền con thanh lịch. Quả thực là một chiếc thuyền! Nó chuyên chở chính sinh vật đã tạo ra nó mà chẳng hề bị gắn chặt vào cơ thể chủ nhân.
Suốt gần một giờ đồng hồ, chiếc Nautilus êm đềm trôi giữa bầy nhuyễn thể tuyệt đẹp ấy. Rồi đột nhiên, chẳng hiểu chúng gặp phải mối đe dọa bất ngờ nào, mà tựa hồ như vừa nhận được một mật lệnh, toàn bộ những "cánh buồm" đều đồng loạt cuốn lại. Những chiếc xúc tu vội vã thu về, cơ thể chúng co rúm, những chiếc vỏ liền lật ngược lại để thay đổi trọng tâm, và thế là toàn bộ "hạm đội" đồng loạt chìm khuất dưới những con sóng. Quả thực, chưa từng có những con tàu nào trong một hải đội lại có thể thao diễn với sự nhịp nhàng và đồng điệu đến vậy!
Đúng khoảnh khắc đó, màn đêm chợt buông xuống; những gợn sóng, hầu như chẳng bị ngọn gió lay động, ngoan ngoãn vỗ về bên mạn con tàu Nautilus.
Ngày hôm sau, 26 tháng Một, chúng tôi cắt ngang đường xích đạo ở kinh tuyến thứ tám mươi hai và tiến thẳng vào bán cầu bắc. Suốt cả ngày hôm đó, một bầy cá mập đáng gờm cứ bám riết lấy chúng tôi như những kẻ hộ tống. Những sinh vật khủng khiếp ấy sinh sôi nảy nở đông đảo ở vùng biển này, biến nơi đây thành một khu vực cực kỳ hiểm ác. Đó là loài cá mập Cestracion philippi, nổi bật với chiếc lưng màu nâu và phần bụng trắng nhạt, được vũ trang tận răng bằng mười một hàng nanh nhọn hoắt. Người ta còn gọi chúng là cá mập có mắt, bởi lẽ trên cổ họng chúng in hằn một đốm đen lớn được bao quanh bởi viền trắng, trông hệt như một con mắt trừng trừng đáng sợ. Xen lẫn trong bầy còn có vài con cá mập Isabella, mang chiếc mõm tròn trịa điểm xuyết những đốm sẫm màu. Đám sinh vật hung hãn này liên tục lao sầm sập vào những tấm kính cửa sổ phòng khách với sự hung tợn tột độ, khiến chúng tôi không khỏi rùng mình bất an. Những lúc như thế, Ned Land lại chẳng thể kìm nén được bản thân. Anh bạn người Canada cứ trực chực muốn lao ngay lên mặt nước để phóng mũi lao móc vào lũ quái thú kia, đặc biệt là vào mấy gã cá mập trơn có khoang miệng khảm đầy những chiếc răng sắc nhọn. Và loài cá mập hổ khổng lồ dài đến gần sáu mét vừa lướt qua dường như lại càng thổi bùng thêm ngọn lửa kích động trong anh. Nhưng chiếc Nautilus chỉ cần tăng nhẹ tốc độ cũng đã đủ sức bỏ xa con bơi nhanh nhất trong đám quái vật ấy lại phía sau.
Ngày 27 tháng Một, khi vừa đến lối vào Vịnh Bengal mênh mông, chúng tôi liên tiếp phải chứng kiến một cảnh tượng rùng rợn: những thi thể nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Đó là xác của những cư dân từ các ngôi làng Ấn Độ, được dòng sông Hằng10 cuốn trôi ra tận biển khơi. Đám kền kền - những kẻ dọn dẹp tang lễ duy nhất của xứ sở này - đã chẳng thể nào rỉa sạch những cái xác ấy. Thế nhưng lũ cá mập hung tợn thì lại không hề bỏ lỡ cơ hội, chúng xúm lại tranh nhau phụ giúp đám kền kền hoàn tất cái công việc mai táng kinh hoàng này.
Khoảng bảy giờ tối, con tàu Nautilus với phân nửa thân mình chìm dưới làn nước, đang êm đềm rẽ sóng băng qua một vùng "biển sữa". Thoáng nhìn qua, cả đại dương mênh mông tưởng chừng như đã hóa thành một dòng sữa trắng xóa. Liệu đó có phải là ảo ảnh do ánh trăng tạo nên? Không hề; bởi vầng trăng non mới ló rạng độ hai ngày vẫn còn ẩn khuất dưới đường chân trời, chìm lấp trong những tia sáng cuối ngày của vầng thái dương. Toàn bộ vòm trời, dẫu được thắp sáng bởi muôn vàn tinh tú, bỗng chốc trở nên đen kịt khi tương phản với sắc trắng diệu kỳ của mặt nước.
Conseil dường như không dám tin vào mắt mình. Cậu bèn cất tiếng hỏi tôi về nguyên nhân của hiện tượng kỳ lạ ấy. Thật may mắn là tôi có ngay câu trả lời để giải đáp cho cậu.
“Người ta gọi đó là vùng biển sữa,” tôi giải thích. “Đó là một dải đại dương bao la với những gợn sóng nhấp nhô cuộn lên bọt trắng xóa, thường xuất hiện dọc theo bờ biển Amboyna cũng như tại các vùng biển này.”
“Nhưng thưa ngài,” Conseil tò mò, “ngài có thể cho tôi biết điều gì đã tạo ra hiệu ứng kỳ lạ ấy không? Bởi tôi thiết nghĩ, nước biển chẳng thể nào thực sự biến thành sữa được.”
“Chắc chắn rồi, cậu bé của tôi; sắc trắng khiến cậu phải kinh ngạc ấy thực chất được sinh ra bởi sự hiện diện của vô vàn những con trùng roi. Đó là một loài sinh vật nhỏ bé phát quang, có dạng sền sệt và không màu, với bề ngang chỉ mỏng tựa sợi tóc và chiều dài chưa đầy bảy phần nghìn inch. Hàng tỷ tỷ sinh vật nhỏ bé ấy bám víu vào nhau, tạo thành những thảm sáng khổng lồ có khi trải dài đến vài league11.”
“Vài league cơ á!” Conseil kinh ngạc thốt lên.
“Đúng vậy, chàng trai ạ; và cậu cũng đừng cất công nhẩm tính số lượng của bầy trùng roi li ti ấy làm gì. Cậu sẽ không tài nào đếm xuể đâu, bởi vì, nếu tôi nhớ không lầm, đã có những con tàu từng phải lênh đênh vượt qua những vùng biển sữa trải dài suốt hơn bốn mươi dặm đấy.”
Mãi đến gần nửa đêm, đại dương mới đột ngột lấy lại được sắc màu nguyên thủy quen thuộc. Thế nhưng, khi chúng tôi ngoái nhìn lại phía sau, tận nơi giới hạn của đường chân trời, vòm không trung vẫn như đang phản chiếu lại ánh bạc lung linh của những con sóng. Suốt một quãng thời gian dài sau đó, bầu trời dường như vẫn còn thấm đẫm những tia sáng huyền ảo, le lói mơ hồ như một dải cực quang tĩnh lặng.
-
Hiện tượng phóng điện qua chất khí giữa hai điện cực (ở đây là hai đầu chì than), tạo ra ánh sáng chói lòa. Đây là công nghệ chiếu sáng sơ khai nhưng phát ra luồng sáng cực mạnh, thường dùng cho đèn pha hoặc hải đăng. ↩
-
Đơn vị đo diện tích của hệ đo lường Anh và Mỹ, một mẫu Anh (acre) tương đương khoảng 4.047 mét vuông. ↩
-
Đơn vị đo chiều dài truyền thống thường dùng trong hàng hải để đo độ sâu, một sải (fathom) bằng 6 feet, tương đương khoảng 1,83 mét. ↩
-
Bernard Germain de Lacépède (1756-1825) là một nhà tự nhiên học người Pháp nổi tiếng. Ông đã tiếp nối và hoàn thành công trình Bách khoa toàn thư Lịch sử Tự nhiên vĩ đại, đặc biệt là các phần phân loại cá và động vật bò sát. ↩
-
Charles Darwin (nhà tự nhiên học lỗi lạc, cha đẻ thuyết tiến hóa) và Robert Fitzroy (thuyền trưởng tàu HMS Beagle) đã cùng nhau thực hiện chuyến thám hiểm lịch sử vòng quanh thế giới (1831-1836), trong đó có việc ghé thăm và nghiên cứu hệ sinh thái các đảo san hô. ↩
-
Đường giao tuyến giữa mặt nước tĩnh và phần thân tàu. Trong hàng hải, việc tạo độ nghiêng so với đường mớn nước giúp tàu ngầm thay đổi hướng di chuyển lên hoặc xuống. ↩
-
Tên viết tắt của Peninsular and Oriental Steam Navigation Company (P&O), một công ty hàng hải và vận tải lừng danh, đóng vai trò sống còn trong việc vận chuyển hành khách và hàng hóa khắp toàn cầu thời Đế quốc Anh. ↩
-
Tên gọi cũ của quốc đảo Sri Lanka ở Nam Á trong thời kỳ còn là thuộc địa của Đế quốc Anh (cho đến năm 1972). ↩
-
Georges Cuvier (1769-1832), nhà động vật học và cổ sinh vật học kiệt xuất người Pháp, người đã đặt nền móng cho ngành giải phẫu học so sánh và hệ thống phân loại động vật. ↩
-
Con sông linh thiêng nhất của Ấn Độ giáo. Theo tín ngưỡng truyền thống, người theo đạo Hindu thường thực hiện các nghi lễ hỏa táng hoặc thả thi thể người chết xuống sông với niềm tin linh hồn sẽ được thanh tẩy và giải thoát. ↩
-
Đơn vị đo chiều dài cổ, thường dùng ở châu Âu hoặc trên biển. Tùy thuộc vào từng quốc gia, một 'league' tương đương khoảng 4 đến hơn 5,5 km. ↩
CHAPTER I THE INDIAN OCEAN
We now come to the second part of our journey under the sea. The first ended with the moving scene in the coral cemetery which left such a deep impression on my mind. Thus, in the midst of this great sea, Captain Nemo’s life was passing, even to his grave, which he had prepared in one of its deepest abysses. There, not one of the ocean’s monsters could trouble the last sleep of the crew of the Nautilus, of those friends riveted to each other in death as in life. “Nor any man, either,” had added the Captain. Still the same fierce, implacable defiance towards human society!
I could no longer content myself with the theory which satisfied Conseil.
That worthy fellow persisted in seeing in the Commander of the Nautilus one of those unknown savants who return mankind contempt for indifference. For him, he was a misunderstood genius who, tired of earth’s deceptions, had taken refuge in this inaccessible medium, where he might follow his instincts freely. To my mind, this explains but one side of Captain Nemo’s character. Indeed, the mystery of that last night during which we had been chained in prison, the sleep, and the precaution so violently taken by the Captain of snatching from my eyes the glass I had raised to sweep the horizon, the mortal wound of the man, due to an unaccountable shock of the Nautilus, all put me on a new track. No; Captain Nemo was not satisfied with shunning man. His formidable apparatus not only suited his instinct of freedom, but perhaps also the design of some terrible retaliation.
At this moment nothing is clear to me; I catch but a glimpse of light amidst all the darkness, and I must confine myself to writing as events shall dictate.
That day, the 24th of January, 1868, at noon, the second officer came to take the altitude of the sun. I mounted the platform, lit a cigar, and watched the operation. It seemed to me that the man did not understand French; for several times I made remarks in a loud voice, which must have drawn from him some involuntary sign of attention, if he had understood them; but he remained undisturbed and dumb.
As he was taking observations with the sextant, one of the sailors of the Nautilus (the strong man who had accompanied us on our first submarine excursion to the Island of Crespo) came to clean the glasses of the lantern. I examined the fittings of the apparatus, the strength of which was increased a hundredfold by lenticular rings, placed similar to those in a lighthouse, and which projected their brilliance in a horizontal plane. The electric lamp was combined in such a way as to give its most powerful light. Indeed, it was produced in vacuo, which insured both its steadiness and its intensity. This vacuum economised the graphite points between which the luminous arc was developed-an important point of economy for Captain Nemo, who could not easily have replaced them; and under these conditions their waste was imperceptible. When the Nautilus was ready to continue its submarine journey, I went down to the saloon. The panel was closed, and the course marked direct west.
We were furrowing the waters of the Indian Ocean, a vast liquid plain, with a surface of 1,200,000,000 of acres, and whose waters are so clear and transparent that any one leaning over them would turn giddy. The Nautilus usually floated between fifty and a hundred fathoms deep. We went on so for some days. To any one but myself, who had a great love for the sea, the hours would have seemed long and monotonous; but the daily walks on the platform, when I steeped myself in the reviving air of the ocean, the sight of the rich waters through the windows of the saloon, the books in the library, the compiling of my memoirs, took up all my time, and left me not a moment of ennui or weariness.
For some days we saw a great number of aquatic birds, sea-mews or gulls. Some were cleverly killed and, prepared in a certain way, made very acceptable water-game. Amongst large-winged birds, carried a long distance from all lands and resting upon the waves from the fatigue of their flight, I saw some magnificent albatrosses, uttering discordant cries like the braying of an ass, and birds belonging to the family of the long-wings.
As to the fish, they always provoked our admiration when we surprised the secrets of their aquatic life through the open panels. I saw many kinds which I never before had a chance of observing.
I shall notice chiefly ostracions peculiar to the Red Sea, the Indian Ocean, and that part which washes the coast of tropical America. These fishes, like the tortoise, the armadillo, the sea-hedgehog, and the Crustacea, are protected by a breastplate which is neither chalky nor stony, but real bone. In some it takes the form of a solid triangle, in others of a solid quadrangle. Amongst the triangular I saw some an inch and a half in length, with wholesome flesh and a delicious flavour; they are brown at the tail, and yellow at the fins, and I recommend their introduction into fresh water, to which a certain number of sea-fish easily accustom themselves. I would also mention quadrangular ostracions, having on the back four large tubercles; some dotted over with white spots on the lower part of the body, and which may be tamed like birds; trigons provided with spikes formed by the lengthening of their bony shell, and which, from their strange gruntings, are called “seapigs”; also dromedaries with large humps in the shape of a cone, whose flesh is very tough and leathery.
I now borrow from the daily notes of Master Conseil. “Certain fish of the genus petrodon peculiar to those seas, with red backs and white chests, which are distinguished by three rows of longitudinal filaments; and some electrical, seven inches long, decked in the liveliest colours. Then, as specimens of other kinds, some ovoides, resembling an egg of a dark brown colour, marked with white bands, and without tails; diodons, real sea-porcupines, furnished with spikes, and capable of swelling in such a way as to look like cushions bristling with darts; hippocampi, common to every ocean; some pegasi with lengthened snouts, which their pectoral fins, being much elongated and formed in the shape of wings, allow, if not to fly, at least to shoot into the air; pigeon spatulae, with tails covered with many rings of shell; macrognathi with long jaws, an excellent fish, nine inches long, and bright with most agreeable colours; pale-coloured calliomores, with rugged heads; and plenty of chaetodons, with long and tubular muzzles, which kill insects by shooting them, as from an air-gun, with a single drop of water. These we may call the flycatchers of the seas.
“In the eighty-ninth genus of fishes, classed by Lacepede, belonging to the second lower class of bony, characterised by opercules and bronchial membranes, I remarked the scorpaena, the head of which is furnished with spikes, and which has but one dorsal fin; these creatures are covered, or not, with little shells, according to the sub-class to which they belong. The second sub-class gives us specimens of didactyles fourteen or fifteen inches in length, with yellow rays, and heads of a most fantastic appearance. As to the first sub-class, it gives several specimens of that singular looking fish appropriately called a ‘seafrog,’ with large head, sometimes pierced with holes, sometimes swollen with protuberances, bristling with spikes, and covered with tubercles; it has irregular and hideous horns; its body and tail are covered with callosities; its sting makes a dangerous wound; it is both repugnant and horrible to look at.”
From the 21st to the 23rd of January the Nautilus went at the rate of two hundred and fifty leagues in twenty-four hours, being five hundred and forty miles, or twenty-two miles an hour. If we recognised so many different varieties of fish, it was because, attracted by the electric light, they tried to follow us; the greater part, however, were soon distanced by our speed, though some kept their place in the waters of the Nautilus for a time. The morning of the 24th, in 12° 5′ S. lat., and 94° 33′ long., we observed Keeling Island, a coral formation, planted with magnificent cocos, and which had been visited by Mr. Darwin and Captain Fitzroy. The Nautilus skirted the shores of this desert island for a little distance. Its nets brought up numerous specimens of polypi and curious shells of mollusca. Some precious productions of the species of delphinulae enriched the treasures of Captain Nemo, to which I added an astraea punctifera, a kind of parasite polypus often found fixed to a shell.
Soon Keeling Island disappeared from the horizon, and our course was directed to the north-west in the direction of the Indian Peninsula.
From Keeling Island our course was slower and more variable, often taking us into great depths. Several times they made use of the inclined planes, which certain internal levers placed obliquely to the waterline. In that way we went about two miles, but without ever obtaining the greatest depths of the Indian Sea, which soundings of seven thousand fathoms have never reached. As to the temperature of the lower strata, the thermometer invariably indicated 4° above zero. I only observed that in the upper regions the water was always colder in the high levels than at the surface of the sea.
On the 25th of January the ocean was entirely deserted; the Nautilus passed the day on the surface, beating the waves with its powerful screw and making them rebound to a great height. Who under such circumstances would not have taken it for a gigantic cetacean? Three parts of this day I spent on the platform. I watched the sea. Nothing on the horizon, till about four o’clock a steamer running west on our counter. Her masts were visible for an instant, but she could not see the Nautilus, being too low in the water. I fancied this steamboat belonged to the P. O. Company, which runs from Ceylon to Sydney, touching at King George’s Point and Melbourne.
At five o’clock in the evening, before that fleeting twilight which binds night to day in tropical zones, Conseil and I were astonished by a curious spectacle.
It was a shoal of argonauts travelling along on the surface of the ocean. We could count several hundreds. They belonged to the tubercle kind which are peculiar to the Indian seas.
These graceful molluscs moved backwards by means of their locomotive tube, through which they propelled the water already drawn in. Of their eight tentacles, six were elongated, and stretched out floating on the water, whilst the other two, rolled up flat, were spread to the wing like a light sail. I saw their spiral-shaped and fluted shells, which Cuvier justly compares to an elegant skiff. A boat indeed! It bears the creature which secretes it without its adhering to it.
For nearly an hour the Nautilus floated in the midst of this shoal of molluscs. Then I know not what sudden fright they took. But as if at a signal every sail was furled, the arms folded, the body drawn in, the shells turned over, changing their centre of gravity, and the whole fleet disappeared under the waves. Never did the ships of a squadron manœuvre with more unity.
At that moment night fell suddenly, and the reeds, scarcely raised by the breeze, lay peaceably under the sides of the Nautilus.
The next day, 26th of January, we cut the equator at the eighty-second meridian and entered the northern hemisphere. During the day a formidable troop of sharks accompanied us, terrible creatures, which multiply in these seas and make them very dangerous. They were “cestracio philippi” sharks, with brown backs and whitish bellies, armed with eleven rows of teeth-eyed sharks-their throat being marked with a large black spot surrounded with white like an eye. There were also some Isabella sharks, with rounded snouts marked with dark spots. These powerful creatures often hurled themselves at the windows of the saloon with such violence as to make us feel very insecure. At such times Ned Land was no longer master of himself. He wanted to go to the surface and harpoon the monsters, particularly certain smooth-hound sharks, whose mouth is studded with teeth like a mosaic; and large tiger-sharks nearly six yards long, the last named of which seemed to excite him more particularly. But the Nautilus, accelerating her speed, easily left the most rapid of them behind.
The 27th of January, at the entrance of the vast Bay of Bengal, we met repeatedly a forbidding spectacle, dead bodies floating on the surface of the water. They were the dead of the Indian villages, carried by the Ganges to the level of the sea, and which the vultures, the only undertakers of the country, had not been able to devour. But the sharks did not fail to help them at their funeral work.
About seven o’clock in the evening, the Nautilus, half-immersed, was sailing in a sea of milk. At first sight the ocean seemed lactified. Was it the effect of the lunar rays? No; for the moon, scarcely two days old, was still lying hidden under the horizon in the rays of the sun. The whole sky, though lit by the sidereal rays, seemed black by contrast with the whiteness of the waters.
Conseil could not believe his eyes, and questioned me as to the cause of this strange phenomenon. Happily I was able to answer him.
“It is called a milk sea,” I explained. “A large extent of white wavelets often to be seen on the coasts of Amboyna, and in these parts of the sea.”
“But, sir,” said Conseil, “can you tell me what causes such an effect? for I suppose the water is not really turned into milk.”
“No, my boy; and the whiteness which surprises you is caused only by the presence of myriads of infusoria, a sort of luminous little worm, gelatinous and without colour, of the thickness of a hair, and whose length is not more than seven-thousandths of an inch. These insects adhere to one another sometimes for several leagues.”
“Several leagues!” exclaimed Conseil.
“Yes, my boy; and you need not try to compute the number of these infusoria. You will not be able, for, if I am not mistaken, ships have floated on these milk seas for more than forty miles.”
Towards midnight the sea suddenly resumed its usual colour; but behind us, even to the limits of the horizon, the sky reflected the whitened waves, and for a long time seemed impregnated with the vague glimmerings of an aurora borealis.