CHƯƠNG XIX: HẢI LƯU GULF STREAM
Cảnh tượng kinh hoàng của ngày 20 tháng 4 ấy đã khắc sâu vào tâm trí, khiến không ai trong chúng tôi có thể nào quên. Tôi đã ghi lại những dòng này khi cõi lòng vẫn còn rung lên vì xúc động mãnh liệt. Về sau, khi bình tâm đối chiếu và đọc lại cho Conseil cùng anh bạn thợ săn người Canada nghe, họ đều công nhận sự chuẩn xác của những tình tiết, song lại cho rằng những câu chữ ấy vẫn chưa đủ để lột tả trọn vẹn cái không khí bi tráng của sự việc. Quả thực, để phác họa một bức tranh sống động đến thế, có lẽ người ta phải cậy nhờ đến ngòi bút tài hoa của vị thi hào lỗi lạc nhất nước Pháp, cha đẻ của tuyệt tác Những người lao động của biển cả1.
Như tôi đã kể, Thuyền trưởng Nemo đã rơi lệ khi lặng nhìn xuống những con sóng gầm gào. Nỗi bi thương tột cùng đã bủa vây lấy Thuyền trưởng. Kể từ ngày chúng tôi đặt chân lên tàu, đây đã là người đồng đội thứ hai Thuyền trưởng phải dứt ruột chia xa, và cái chết này sao mà thảm khốc đến nhường ấy! Người bạn đồng hành bất hạnh kia đã bị vòi của con bạch tuộc khổng lồ siết chặt, bóp nghẹt và vò nát, rồi lại bị nghiền vụn dưới bộ hàm sắc lạnh như sắt thép của nó. Anh vĩnh viễn không còn cơ hội yên nghỉ bên cạnh những người anh em trong nghĩa trang san hô thanh bình! Giữa khoảnh khắc sinh tử giằng co, tiếng thét tuyệt vọng của người đàn ông xấu số đã xé nát cõi lòng tôi. Người thanh niên gốc Pháp tội nghiệp ấy, trong phút hoảng loạn tột độ, đã buông bỏ thứ ngôn ngữ quy ước của con tàu để dùng chính tiếng mẹ đẻ thốt lên lời kêu cứu cuối cùng! Giữa bao nhiêu thủy thủ trên chiếc Nautilus - những con người đã gắn kết trọn vẹn cả thể xác lẫn linh hồn với Thuyền trưởng, những người đã khước từ mọi sự giao tiếp với nhân loại - tôi lại tìm thấy một người đồng hương. Phải chăng anh là đại diện duy nhất của nước Pháp trong cái hội kín đầy bí ẩn vốn được hợp thành từ những cá nhân mang muôn vàn quốc tịch khác nhau này? Chớp mắt, câu hỏi vô giải ấy lại không ngừng dội vang trong tâm trí tôi!
Thuyền trưởng Nemo bước vào phòng riêng, và từ đó, tôi bặt vô âm tín về Thuyền trưởng trong suốt một thời gian dài. Thế nhưng, tôi vẫn có thể cảm nhận rõ sự u sầu và chênh vênh của Thuyền trưởng thông qua chính chiếc tàu - nơi Thuyền trưởng là linh hồn và là nơi thấu tỏ mọi cảm xúc của người chỉ huy. Chiếc Nautilus không còn bám theo lộ trình đã định; nó cứ bập bềnh trôi dạt như một xác không hồn, mặc cho những con sóng xô đẩy vô định. Dường như Thuyền trưởng không đành lòng rời xa hiện trường của cuộc kịch chiến cuối cùng, không nỡ dứt khỏi vùng biển vừa lạnh lùng nuốt chửng một người đồng đội. Mười ngày dằng dặc trôi qua trong u ám. Mãi cho đến ngày mùng 1 tháng 5, sau khi lướt qua quần đảo Bahamas nơi cửa Kênh đào Bahama, chiếc Nautilus mới tiếp tục hành trình tiến về phương bắc. Lúc bấy giờ, chúng tôi đang trôi theo dòng chảy của một con sông vĩ đại nhất đổ ra biển khơi, một con sông sở hữu bờ cõi, hệ sinh thái cá và cả mức nhiệt độ cho riêng mình. Thứ tôi muốn nhắc tới chính là hải lưu Gulf Stream. Quả thực, nó là một dòng sông tự do uốn lượn giữa lòng Đại Tây Dương, nơi mà nguồn nước dường như kiêu hãnh chẳng chịu hòa lẫn với nước đại dương. Đó là một dòng sông nước mặn, thậm chí còn mặn chát hơn cả vùng biển bao quanh. Với độ sâu trung bình đạt 1.500 sải và chiều rộng chừng mười dặm, dòng chảy ở một số khu vực có thể lên tới vận tốc hai dặm rưỡi mỗi giờ. Nếu gom toàn bộ lượng nước của tất cả các dòng sông trên toàn cầu lại, cũng chẳng thể nào sánh bằng khối lượng nước khổng lồ của hải lưu này. Và giờ đây, chiếc Nautilus đang rẽ sóng kiêu hãnh trên chính dòng sông đại dương ấy.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng, mỗi khi màn đêm buông xuống, làn nước phát quang rực rỡ của hải lưu Gulf Stream hoàn toàn có thể sánh ngang với luồng ánh sáng điện mạnh mẽ từ ngọn đèn pha trên tàu, nhất là vào những ngày mây đen vần vũ mang theo giông bão rình rập đe dọa chúng tôi. Ngày 8 tháng 5, con tàu vẫn đang rẽ sóng băng qua Mũi Hatteras, song song với bình diện Bắc Carolina. Tại đây, bề rộng của hải lưu Gulf Stream trải dài tới bảy mươi lăm dặm và sâu thẳm chừng 210 thước Anh. Chiếc Nautilus vẫn cứ lang thang vô định; dường như mọi công tác hoa tiêu và giám sát đều đã bị bỏ bê. Trong hoàn cảnh lỏng lẻo này, tôi chợt lóe lên tia hy vọng về một cuộc đào tẩu. Quả thực, những dải bờ biển có người sinh sống kia chính là bến đỗ an toàn và dễ dàng nhất. Vùng biển này lúc nào cũng nhộn nhịp với những chuyến tàu hơi nước nối liền New York, Boston và Vịnh Mexico cày xới mặt nước, lại được điểm xuyết ngày đêm bởi vô số những chiếc thuyền buồm nhỏ nhắn men dọc theo bờ biển nước Mỹ. Cơ hội để chúng tôi được giải cứu là hoàn toàn khả thi. Đó thực sự là một thời cơ ngàn vàng, bất chấp việc chiếc Nautilus vẫn còn cách bờ biển Hợp chủng quốc tới ba mươi dặm. Tuy nhiên, một diễn biến thời tiết khắc nghiệt lại bất ngờ cản bước kế hoạch của anh thợ săn người Canada. Cảnh trời lúc này vô cùng tồi tệ. Chúng tôi đang tiến sát đến vùng bờ biển khét tiếng với những trận cuồng phong thường xuyên trút xuống, một vương quốc đích thực của vòi rồng và lốc xoáy do chính dòng chảy Gulf Stream thai nghén. Đem mạng sống ra đánh cược với cơn thịnh nộ của biển cả trên một chiếc thuyền con mỏng manh chẳng khác nào tự tìm chỗ chết. Chính bản thân Ned Land cũng phải ngậm ngùi thừa nhận thực tế cay đắng này. Anh trở nên bực dọc, tâm can bị giằng xé bởi nỗi nhớ quê hương da diết mà dường như chỉ có một lối thoát duy nhất mới mong chữa lành.
"Thưa giáo sư," ngày hôm ấy anh bắt đầu, "chuyện này phải kết thúc thôi. Tôi cần nói thẳng với ngài. Cái lão Nemo này đang ngày một rời xa đất liền để hướng lên phương bắc. Nhưng tôi xin tuyên bố rằng, tôi đã quá ngán ngẩm cái Nam Cực rồi, và tôi kiên quyết không theo gót lão ta lên tận Bắc Cực đâu."
"Nhưng chúng ta biết làm sao đây, anh Ned, một khi đường tẩu thoát lúc này đã hoàn toàn khép lại?"
"Chúng ta phải nói chuyện thẳng thắn với Thuyền trưởng," anh đáp. "Ngài đã im lặng khi chiếc tàu lướt qua những vùng biển quê hương ngài. Còn bây giờ, khi đang lênh đênh trên vùng biển quê hương tôi, tôi không thể nín lặng. Cứ nghĩ đến việc chẳng bao lâu nữa chiếc Nautilus sẽ trờ tới Nova Scotia, rồi gần Newfoundland lại có một vịnh biển lớn dung nạp dòng St. Lawrence, mà sông St. Lawrence chính là con sông của tôi, dòng sông chảy ngang qua Quebec quê nhà tôi-cứ nghĩ đến điều đó là tôi lại uất nghẹn, uất đến mức tóc gáy dựng đứng cả lên. Thưa ngài, tôi thà gieo mình xuống biển còn hơn! Tôi không thể nán lại chốn này thêm chút nào nữa! Tôi ngột ngạt đến nghẹt thở rồi!"
Rõ ràng, sự kiên nhẫn của anh chàng thợ săn cá voi người Canada đã cạn kiệt. Bản tính hoang dã và mạnh mẽ của anh không tài nào cam chịu nổi sự giam cầm đằng đẵng này. Sắc mặt anh héo hon đi từng ngày; tâm tính cũng sinh ra cáu bẳn, gắt gỏng. Hơn ai hết, tôi thấu hiểu những nỗi giày vò mà anh đang gánh chịu, bởi lẽ chính tôi cũng đang bị bủa vây trong nỗi nhớ nhà da diết. Gần bảy tháng ròng rã trôi qua mà bặt vô âm tín mọi tin tức từ đất liền. Sự tự cô lập của Thuyền trưởng Nemo, tâm tính thất thường của Thuyền trưởng-nhất là từ sau trận ác chiến với bầy bạch tuộc-cùng thái độ lầm lì, khép kín, tất cả gộp lại đã buộc tôi phải nhìn nhận tình thế dưới một lăng kính hoàn toàn khác.
"Sao hả ngài?" Ned lên tiếng hỏi, khi thấy tôi vẫn mãi trầm ngâm.
"Chà, anh Ned, vậy anh muốn tôi trực tiếp đi hỏi Thuyền trưởng Nemo về những dự tính của Thuyền trưởng dành cho chúng ta sao?"
"Đúng vậy, thưa ngài."
"Mặc dù Thuyền trưởng đã từng nói rõ ý định đó rồi ư?"
"Vâng, tôi muốn mọi chuyện phải được giải quyết dứt điểm. Xin ngài hãy ra mặt giúp tôi, nếu ngài muốn, thì cứ nhân danh một mình tôi thôi cũng được."
"Nhưng tôi có mấy khi chạm mặt Thuyền trưởng đâu. Dạo này Thuyền trưởng toàn chủ động lảng tránh tôi."
"Thế thì đó lại càng là lý do chính đáng để ngài phải đi tìm lão ta."
Tôi trở về phòng riêng. Từ đây, tôi quyết định sang thẳng phòng của Thuyền trưởng Nemo. Chẳng thể nào bỏ lỡ được cơ hội giáp mặt này. Tôi gõ cửa, nhưng chẳng có tiếng hồi đáp. Tôi gõ thêm lần nữa rồi đánh bạo vặn tay nắm. Cửa mở toang, tôi bước vào trong. Thuyền trưởng đang ở đó, cúi gập người trên bàn làm việc, dường như chẳng hề hay biết sự hiện diện của tôi. Quả quyết không rời đi nếu chưa tỏ tường mọi lẽ, tôi bước lại gần. Thuyền trưởng vội vã ngẩng phắt đầu lên, đôi mày cau lại, cất giọng cộc lốc:
"Ngài làm gì ở đây! Ngài muốn gì?"
"Tôi muốn nói chuyện với Thuyền trưởng."
"Nhưng tôi đang bận rộn, thưa ngài. Tôi đang dở tay làm việc. Tôi đã để ngài được tự do giam mình trong phòng riêng; chẳng lẽ tôi lại không được hưởng một đặc quyền tương tự sao?"
Sự chào đón này quả thật chẳng lấy gì làm khích lệ, nhưng tôi đã hạ quyết tâm, dẫu có ra sao cũng phải lắng nghe và đối đáp đến cùng.
"Thưa Thuyền trưởng," tôi đáp lại bằng giọng lạnh lùng, "tôi có chuyện hệ trọng cần nói với Thuyền trưởng, một chuyện chẳng thể chần chừ thêm được nữa."
"Chuyện gì vậy, thưa ngài?" Thuyền trưởng đáp lời với giọng điệu đầy vẻ mỉa mai. "Phải chăng ngài vừa khám phá ra điều gì mà tôi chưa từng biết tới, hay chăng biển cả lại phơi bày thêm một bí ẩn mới mẻ nào?"
Rõ ràng chúng tôi đang nói những chuyện chẳng đâu vào đâu. Thế nhưng, trước khi tôi kịp buông lời đáp trả, Thuyền trưởng đã đưa tay chỉ vào một bản thảo đang mở tung trên bàn. Bằng một chất giọng nghiêm nghị hơn, ông cất lời:
"Đây, ngài Aronnax, là một tập bản thảo được chắp bút bằng nhiều ngôn ngữ. Nó chứa đựng trọn vẹn mọi công trình nghiên cứu của tôi về đại dương; và, nếu Chúa rủ lòng thương, nó sẽ không bị chôn vùi cùng với tôi. Tập bản thảo này, có chữ ký của tôi và ghi chép lại tường tận lịch sử cuộc đời tôi, sẽ được đặt vào một chiếc phao hộp nhỏ để trôi dạt trên mặt nước. Kẻ nào sống sót cuối cùng trong số tất cả chúng ta trên con tàu Nautilus này sẽ phải ném chiếc hộp ấy xuống biển, rồi mặc cho nó trôi dạt đến bất cứ nơi nào sóng xô tới."
Tên thật của người đàn ông này! Cuộc đời của vị Thuyền trưởng do chính tay ông chắp bút! Vậy là sẽ đến một ngày nào đó, mọi bí ẩn bủa vây Thuyền trưởng rốt cuộc cũng được đưa ra ánh sáng.
"Thưa Thuyền trưởng," tôi cất lời, "tôi hoàn toàn tán thành những suy tính đã thúc đẩy Thuyền trưởng hành động như vậy. Thành quả từ những công trình nghiên cứu của Thuyền trưởng tuyệt đối không thể bị mai một. Nhưng phương cách mà Thuyền trưởng định dùng xem chừng lại quá đỗi mỏng manh. Có ai hay biết gió sẽ cuốn chiếc hộp kia về phương nao, và rồi nó sẽ lọt vào tay ai cơ chứ? Chẳng lẽ Thuyền trưởng không thể tìm ra một phương thức nào khác sao? Chẳng lẽ Thuyền trưởng, hay một người nào đó trong thủy thủ đoàn--"
"Không bao giờ, thưa ngài!" Thuyền trưởng vội vã ngắt lời tôi.
"Nhưng tôi cùng những người bạn đồng hành của mình hoàn toàn sẵn lòng cất giữ giúp Thuyền trưởng tập bản thảo này; và, nếu như Thuyền trưởng chịu trả tự do cho chúng tôi--"
"Trả tự do ư?" Thuyền trưởng nói, đột ngột đứng bật dậy.
"Đúng vậy, thưa Thuyền trưởng. Đó chính là vấn đề mà tôi muốn thưa chuyện với Thuyền trưởng. Đã bảy tháng ròng rã chúng tôi kẹt lại trên con tàu này, và ngày hôm nay, tôi muốn hỏi Thuyền trưởng, nhân danh những người bạn đồng hành của tôi và nhân danh cả chính bản thân tôi, liệu ý định của Thuyền trưởng có phải là giam cầm chúng tôi ở chốn này mãi mãi hay chăng?"
"Ngài Aronnax, ngày hôm nay tôi sẽ trả lời ngài y hệt như những gì tôi đã nói vào bảy tháng trước: Bất cứ kẻ nào đã đặt chân lên chiếc Nautilus, kẻ đó sẽ không bao giờ được phép rời khỏi đây."
"Thuyền trưởng đang giáng lên đầu chúng tôi một kiếp nô lệ thực sự rồi đấy!"
"Ngài muốn gọi nó là gì cũng được, tùy ý."
"Nhưng ở đâu cũng vậy, người nô lệ luôn có quyền đòi lại sự tự do cho chính mình."
"Có ai tước đi của các ngài cái quyền đó đâu cơ chứ? Tôi đã bao giờ ép buộc các ngài phải trói mình bằng một lời thề nguyền nào chưa?"
Thuyền trưởng khoanh hai tay trước ngực, đăm đăm nhìn tôi.
"Thưa Thuyền trưởng," tôi nói, "việc phải khơi lại chủ đề này lần thứ hai quả là chẳng lấy gì làm vui vẻ cho cả Thuyền trưởng lẫn cá nhân tôi. Nhưng, một khi chúng ta đã dấn bước vào câu chuyện này, thì tốt nhất hãy giải quyết cho xong. Tôi xin được nhắc lại, vấn đề này không chỉ liên đới tới mỗi bản thân tôi. Đối với tôi, việc nghiên cứu vốn là một sự giải thoát, một niềm tiêu khiển, một đam mê cháy bỏng có thể khiến tôi lãng quên đi tất thảy. Giống như Thuyền trưởng, tôi sẵn lòng chấp nhận một cuộc đời vô danh tiểu tốt, ôm ấp một niềm hy vọng mong manh rằng mai này có thể để lại cho hậu thế thành quả từ những công trình nghiên cứu của mình. Nhưng với Ned Land thì lại là một nhẽ khác. Bất kỳ người đàn ông nào, miễn là xứng đáng với danh xưng ấy, đều đáng được đoái hoài. Thuyền trưởng có nghĩ rằng chính cái khát khao tự do, chính cái nỗi căm hờn trước ách nô lệ, có thể làm nảy sinh những mưu đồ báo thù bên trong một bản tính hoang dã như của anh chàng thợ săn người Canada; rằng anh ta có thể toan tính, có thể thử nghiệm, và thậm chí cố gắng--"
Tôi đành phải im bặt; Thuyền trưởng Nemo đã đứng thẳng dậy.
"Bất luận Ned Land có toan tính, thử nghiệm hay cố gắng làm trò gì đi chăng nữa, thì điều đó có can dự gì tới tôi cơ chứ? Nào phải tôi đi tìm anh ta! Cũng chẳng phải vì chút thú vui của bản thân mà tôi lại giữ rịt lấy anh ta trên tàu! Còn về phần ngài, ngài Aronnax, ngài là một người thừa sức thấu hiểu mọi sự trên đời, kể cả ý nghĩa của sự im lặng. Tôi chẳng còn gì để nói với ngài nữa. Mong rằng lần đầu tiên ngài cất công đến đây thương lượng về chủ đề này cũng sẽ là lần cuối cùng, bởi lẽ ở lần thứ hai, tôi sẽ không màng lắng nghe ngài nữa đâu."
Tôi lẳng lặng lui ra. Tình cảnh của chúng tôi lúc này quả thực đang ở bên bờ vực hiểm nguy. Tôi đem toàn bộ cuộc trò chuyện vừa rồi kể lại cho hai người bạn đồng hành.
"Bây giờ thì chúng ta đã rõ," Ned nói, "rằng chúng ta chẳng thể trông mong điều gì ở gã đàn ông này. Chiếc Nautilus đang dần tiến sát đến Đảo Long2. Chúng ta sẽ đào tẩu, dẫu cho thời tiết có ra sao đi nữa."
Nhưng bầu trời ngày càng trở nên u ám. Những dấu hiệu của một trận cuồng phong đã lộ rõ. Bầu không khí quánh lại, trắng đục và mù mịt sương. Phía chân trời, những vệt mây ti mỏng manh dần nhường chỗ cho những khối mây tích xám xịt. Vài đám mây thấp vùn vụt lướt qua. Mặt biển cuồn cuộn dâng thành những con sóng khổng lồ. Chim chóc đều đã vắng bóng, chỉ còn lại lũ hải âu pêtren3 - những người bạn đường của giông bão - lượn lờ. Khí áp kế tụt dốc không phanh, báo hiệu lượng hơi nước đang căng thẳng tột độ. Hỗn hợp hóa chất trong kính bão4 cũng phân rã dưới tác động của dòng điện lan tỏa khắp không gian.
Trận cuồng phong chính thức bùng nổ vào ngày 18 tháng 5, ngay khi chiếc Nautilus đang trôi dạt ngoài khơi Đảo Long, cách cảng New York vài dặm. Tôi có thể miêu tả lại tường tận cuộc giao tranh dữ dội của các nguyên tố này, bởi vì thay vì lặn sâu xuống đáy biển để lánh nạn, Thuyền trưởng Nemo, bị thôi thúc bởi một sự bốc đồng khó hiểu, đã quyết định nổi lên mặt nước để đương đầu với nó. Ban đầu, gió thổi thốc từ hướng tây nam. Mặc cho những cơn gió giật liên hồi, Thuyền trưởng Nemo vẫn sừng sững trên đài chỉ huy. Thuyền trưởng tự trói chặt mình vào lan can, phòng khi những ngọn sóng quái vật chực chờ cuốn ngài xuống biển. Tôi cũng ráng đu mình leo lên và tự buộc chặt người, chia sẻ sự ngưỡng mộ tột bậc của mình giữa một bên là trận cuồng phong thịnh nộ và một bên là người đàn ông phi thường đang hiên ngang thách thức nó.
Vùng biển hung bạo bị những đám mây trôi khổng lồ quét qua, sũng nước vì bão táp. Chiếc Nautilus, khi thì ngả nghiêng sang một bên, lúc lại chồm lên dựng đứng như một cột buồm, tròng trành và chao đảo đến rợn người. Khoảng năm giờ, một trận mưa như trút nước dội xuống, nhưng cũng chẳng thể nào xoa dịu được cơn cuồng nộ của cả gió bão lẫn đại dương. Trận cuồng phong rít lên với vận tốc gần bốn mươi dặm một giờ. Ở đất liền, sức gió ấy đủ sức lật tung mái nhà, bẻ gãy cổng sắt và hất văng những khẩu pháo hai mươi tư pound. Dẫu vậy, giữa tâm bão, chiếc Nautilus vẫn là minh chứng hùng hồn cho câu nói của một kỹ sư tài ba: "Không có thân tàu nào được đóng hoàn hảo mà lại không thể thách thức biển cả." Nó không phải là một khối đá vô tri chỉ biết trơ mình chịu trận; nó là một con quay bằng thép ngoan ngoãn và linh hoạt. Không vướng bận dây bườm hay cột buồm, nó dám đương đầu với cơn thịnh nộ của đất trời mà chẳng mảy may hề hấn.
Tuy nhiên, tôi vẫn không thể rời mắt khỏi những con sóng hung tợn. Chúng cao tới mười lăm feet, trải dài từ 150 đến 175 thước Anh, và lao đi với vận tốc ba mươi feet mỗi giây. Càng xuống sâu, khối lượng và sức mạnh của chúng càng nhân lên gấp bội. Chính những ngọn sóng cỡ này từng hất tung một tảng đá nặng 8.400 pound ở quần đảo Hebrides. Và cũng chính chúng, trong trận bão lịch sử ngày 23 tháng 12 năm 1864, sau khi san phẳng thị trấn Yeddo5 ở Nhật Bản, đã ập thẳng vào bờ biển nước Mỹ ngay trong ngày hôm đó.
Khi màn đêm buông xuống, cường độ trận bão càng thêm khốc liệt. Khí áp kế tụt hẳn bảy phần mười, y hệt như hồi cơn lốc xoáy quét qua Reunion năm 1860. Thấp thoáng nơi chân trời, tôi chợt thấy bóng dáng một con tàu lớn đang chật vật oằn mình trong tuyệt vọng. Nó đang cố gắng hạ thấp áp suất hơi nước xuống một nửa, gắng gượng ngoi lên khỏi những con sóng dữ. Rất có thể đó là một chiếc tàu hơi nước chở khách chạy tuyến New York - Liverpool, hoặc Havre. Chẳng mấy chốc, nó đã bị bóng tối nuốt chửng.
Lúc mười giờ tối, cả bầu trời như bốc cháy. Không gian bị xé toạc bởi những tia chớp sáng chói lòa. Tôi không sao chịu nổi luồng ánh sáng chói mắt ấy, trong khi Thuyền trưởng vẫn trân trân nhìn, dường như đang khao khát được đồng hóa linh hồn mình với cơn bão. Một tiếng ồn kinh thiên động địa rền vang trong không trung - một thứ âm thanh hỗn tạp, pha trộn giữa tiếng sóng cuộn gầm gào, tiếng gió thét gào và những tiếng sấm nổ đinh tai nhức óc. Gió đột ngột xoay chiều, quét qua mọi hướng trên đường chân trời; rồi cơn lốc, hình thành từ phía đông, sau khi càn quét qua phương bắc, tây, và nam, đã vòng lại theo hướng ngược chiều với trận bão xoáy của bán cầu nam. Ôi, dòng hải lưu Gulf Stream! Quả không hổ danh là Vị vua của những Trận bão. Chính nó, với sự chênh lệch nhiệt độ giữa không khí và dòng chảy, là cội nguồn sinh ra những cơn lốc xoáy kinh hoàng này.
Một trận mưa lửa trút xuống nối tiếp cơn mưa rào. Những giọt nước dường như hóa thành vô vàn mũi nhọn hoắt. Nhìn cảnh tượng ấy, hẳn ai cũng nghĩ Thuyền trưởng Nemo đang tự chuốc lấy một cái chết xứng tầm với chính con người ông - cái chết do sét đánh. Mỗi lần chiếc Nautilus chồm lên đầy dữ dội, chĩa thẳng cái mũi thép nhọn hoắt lên trời cao, nó lại biến thành một cột thu lôi khổng lồ, thu hút vô số tia lửa điện phóng ra rực sáng.
Rã rời và kiệt sức, tôi trườn đến nắp hầm, mở ra và đi xuống phòng khách. Bão táp lúc này đã lên tới đỉnh điểm. Không một ai có thể đứng vững bên trong chiếc Nautilus. Mãi đến tận nửa đêm, Thuyền trưởng Nemo mới bước xuống. Tôi nghe tiếng nước bắt đầu tràn vào các bể chứa, và chiếc Nautilus từ từ chìm xuống dưới lớp sóng dữ. Qua những ô cửa sổ lớn trong phòng khách, tôi thấy từng đàn cá khổng lồ chạy trốn trong cơn hoảng loạn tột độ, lướt qua làn nước như những bóng ma. Vài con xui xẻo đã bị sét đánh chết ngay trước mắt tôi.
Chiếc Nautilus vẫn tiếp tục lặn xuống. Tôi đinh ninh rằng chỉ cần chìm chừng tám sải nước là sẽ tìm thấy sự bình yên. Nhưng không! Những tầng nước phía trên đã bị xáo trộn quá mạnh để có thể lặng sóng ngay được. Chúng tôi đành phải tìm kiếm sự an nghỉ ở độ sâu hơn hai mươi lăm sải dưới lòng vực thẳm. Nhưng ở đó, ôi, mới thật là tĩnh lặng, bình yên và thanh thản làm sao! Nào ai có thể ngờ rằng, ngay phía trên kia, một trận cuồng phong kinh thiên động địa vừa mới được tháo xích, giày xéo mặt đại dương?
-
Tiểu thuyết nổi tiếng xuất bản năm 1866 của đại văn hào Pháp Victor Hugo, tác phẩm tôn vinh cuộc đấu tranh sinh tồn kiên cường của con người trước sức mạnh cuồng nộ của đại dương. ↩
-
Cách dịch theo nghĩa đen của Long Island, một hòn đảo lớn nằm ở phía đông nam bang New York, Mỹ. ↩
-
Loài chim biển (petrel) thường bay là đà sát mặt sóng. Trong truyền thuyết của giới đi biển, sự xuất hiện của chúng thường được xem là điềm báo trước của một trận giông bão. ↩
-
Thiết bị dự báo thời tiết cổ điển (storm glass). Hỗn hợp hóa chất bên trong ống thủy tinh sẽ kết tinh thành các hình dạng khác nhau tùy theo sự thay đổi của thời tiết và áp suất. ↩
-
Tên gọi cũ của thủ đô Tokyo (Nhật Bản) trước cuộc Minh Trị Duy tân năm 1868. ↩
CHAPTER XIX THE GULF STREAM
This terrible scene of the 20th of April none of us can ever forget. I have written it under the influence of violent emotion. Since then I have revised the recital; I have read it to Conseil and to the Canadian. They found it exact as to facts, but insufficient as to effect. To paint such pictures, one must have the pen of the most illustrious of our poets, the author of The Toilers of the Deep.
I have said that Captain Nemo wept while watching the waves; his grief was great. It was the second companion he had lost since our arrival on board, and what a death! That friend, crushed, stifled, bruised by the dreadful arms of a poulp, pounded by his iron jaws, would not rest with his comrades in the peaceful coral cemetery! In the midst of the struggle, it was the despairing cry uttered by the unfortunate man that had torn my heart. The poor Frenchman, forgetting his conventional language, had taken to his own mother tongue, to utter a last appeal! Amongst the crew of the Nautilus, associated with the body and soul of the Captain, recoiling like him from all contact with men, I had a fellow-countryman. Did he alone represent France in this mysterious association, evidently composed of individuals of divers nationalities? It was one of these insoluble problems that rose up unceasingly before my mind!
Captain Nemo entered his room, and I saw him no more for some time. But that he was sad and irresolute I could see by the vessel, of which he was the soul, and which received all his impressions. The Nautilus did not keep on in its settled course; it floated about like a corpse at the will of the waves. It went at random. He could not tear himself away from the scene of the last struggle, from this sea that had devoured one of his men. Ten days passed thus. It was not till the 1st of May that the Nautilus resumed its northerly course, after having sighted the Bahamas at the mouth of the Bahama Canal. We were then following the current from the largest river to the sea, that has its banks, its fish, and its proper temperatures. I mean the Gulf Stream. It is really a river, that flows freely to the middle of the Atlantic, and whose waters do not mix with the ocean waters. It is a salt river, salter than the surrounding sea. Its mean depth is 1,500 fathoms, its mean breadth ten miles. In certain places the current flows with the speed of two miles and a half an hour. The body of its waters is more considerable than that of all the rivers in the globe. It was on this ocean river that the Nautilus then sailed.
I must add that, during the night, the phosphorescent waters of the Gulf Stream rivalled the electric power of our watch-light, especially in the stormy weather that threatened us so frequently. May 8th, we were still crossing Cape Hatteras, at the height of North Carolina. The width of the Gulf Stream there is seventy-five miles, and its depth 210 yards. The Nautilus still went at random; all supervision seemed abandoned. I thought that, under these circumstances, escape would be possible. Indeed, the inhabited shores offered anywhere an easy refuge. The sea was incessantly ploughed by the steamers that ply between New York or Boston and the Gulf of Mexico, and overrun day and night by the little schooners coasting about the several parts of the American coast. We could hope to be picked up. It was a favourable opportunity, notwithstanding the thirty miles that separated the Nautilus from the coasts of the Union. One unfortunate circumstance thwarted the Canadian’s plans. The weather was very bad. We were nearing those shores where tempests are so frequent, that country of waterspouts and cyclones actually engendered by the current of the Gulf Stream. To tempt the sea in a frail boat was certain destruction. Ned Land owned this himself. He fretted, seized with nostalgia that flight only could cure.
“Master,” he said that day to me, “this must come to an end. I must make a clean breast of it. This Nemo is leaving land and going up to the north. But I declare to you that I have had enough of the South Pole, and I will not follow him to the North.”
“What is to be done, Ned, since flight is impracticable just now?”
“We must speak to the Captain,” said he; “you said nothing when we were in your native seas. I will speak, now we are in mine. When I think that before long the Nautilus will be by Nova Scotia, and that there near New foundland is a large bay, and into that bay the St. Lawrence empties itself, and that the St. Lawrence is my river, the river by Quebec, my native town-when I think of this, I feel furious, it makes my hair stand on end. Sir, I would rather throw myself into the sea! I will not stay here! I am stifled!”
The Canadian was evidently losing all patience. His vigorous nature could not stand this prolonged imprisonment. His face altered daily; his temper became more surly. I knew what he must suffer, for I was seized with home-sickness myself. Nearly seven months had passed without our having had any news from land; Captain Nemo’s isolation, his altered spirits, especially since the fight with the poulps, his taciturnity, all made me view things in a different light.
“Well, sir?” said Ned, seeing I did not reply.
“Well, Ned, do you wish me to ask Captain Nemo his intentions concerning us?”
“Yes, sir.”
“Although he has already made them known?”
“Yes; I wish it settled finally. Speak for me, in my name only, if you like.”
“But I so seldom meet him. He avoids me.”
“That is all the more reason for you to go to see him.”
I went to my room. From thence I meant to go to Captain Nemo’s. It would not do to let this opportunity of meeting him slip. I knocked at the door. No answer. I knocked again, then turned the handle. The door opened, I went in. The Captain was there. Bending over his work-table, he had not heard me. Resolved not to go without having spoken, I approached him. He raised his head quickly, frowned, and said roughly, “You here! What do you want?”
“To speak to you, Captain.”
“But I am busy, sir; I am working. I leave you at liberty to shut yourself up; cannot I be allowed the same?”
This reception was not encouraging; but I was determined to hear and answer everything.
“Sir,” I said coldly, “I have to speak to you on a matter that admits of no delay.”
“What is that, sir?” he replied, ironically. “Have you discovered something that has escaped me, or has the sea delivered up any new secrets?”
We were at cross-purposes. But, before I could reply, he showed me an open manuscript on his table, and said, in a more serious tone, “Here, M. Aronnax, is a manuscript written in several languages. It contains the sum of my studies of the sea; and, if it please God, it shall not perish with me. This manuscript, signed with my name, complete with the history of my life, will be shut up in a little floating case. The last survivor of all of us on board the Nautilus will throw this case into the sea, and it will go whither it is borne by the waves.”
This man’s name! his history written by himself! His mystery would then be revealed some day.
“Captain,” I said, “I can but approve of the idea that makes you act thus. The result of your studies must not be lost. But the means you employ seem to me to be primitive. Who knows where the winds will carry this case, and in whose hands it will fall? Could you not use some other means? Could not you, or one of yours--”
“Never, sir!” he said, hastily interrupting me.
“But I and my companions are ready to keep this manuscript in store; and, if you will put us at liberty--”
“At liberty?” said the Captain, rising.
“Yes, sir; that is the subject on which I wish to question you. For seven months we have been here on board, and I ask you to-day, in the name of my companions and in my own, if your intention is to keep us here always?”
“M. Aronnax, I will answer you to-day as I did seven months ago: Whoever enters the Nautilus, must never quit it.”
“You impose actual slavery upon us!”
“Give it what name you please.”
“But everywhere the slave has the right to regain his liberty.”
“Who denies you this right? Have I ever tried to chain you with an oath?”
He looked at me with his arms crossed.
“Sir,” I said, “to return a second time to this subject will be neither to your nor to my taste; but, as we have entered upon it, let us go through with it. I repeat, it is not only myself whom it concerns. Study is to me a relief, a diversion, a passion that could make me forget everything. Like you, I am willing to live obscure, in the frail hope of bequeathing one day, to future time, the result of my labours. But it is otherwise with Ned Land. Every man, worthy of the name, deserves some consideration. Have you thought that love of liberty, hatred of slavery, can give rise to schemes of revenge in a nature like the Canadian’s; that he could think, attempt, and try--”
I was silenced; Captain Nemo rose.
“Whatever Ned Land thinks of, attempts, or tries, what does it matter to me? I did not seek him! It is not for my pleasure that I keep him on board! As for you, M. Aronnax, you are one of those who can understand everything, even silence. I have nothing more to say to you. Let this first time you have come to treat of this subject be the last, for a second time I will not listen to you.”
I retired. Our situation was critical. I related my conversation to my two companions.
“We know now,” said Ned, “that we can expect nothing from this man. The Nautilus is nearing Long Island. We will escape, whatever the weather may be.”
But the sky became more and more threatening. Symptoms of a hurricane became manifest. The atmosphere was becoming white and misty. On the horizon fine streaks of cirrhous clouds were succeeded by masses of cumuli. Other low clouds passed swiftly by. The swollen sea rose in huge billows. The birds disappeared with the exception of the petrels, those friends of the storm. The barometer fell sensibly, and indicated an extreme tension of the vapours. The mixture of the storm glass was decomposed under the influence of the electricity that pervaded the atmosphere. The tempest burst on the 18th of May, just as the Nautilus was floating off Long Island, some miles from the port of New York. I can describe this strife of the elements! for, instead of fleeing to the depths of the sea, Captain Nemo, by an unaccountable caprice, would brave it at the surface. The wind blew from the south-west at first. Captain Nemo, during the squalls, had taken his place on the platform. He had made himself fast, to prevent being washed overboard by the monstrous waves. I had hoisted myself up, and made myself fast also, dividing my admiration between the tempest and this extraordinary man who was coping with it. The raging sea was swept by huge cloud-drifts, which were actually saturated with the waves. The Nautilus, sometimes lying on its side, sometimes standing up like a mast, rolled and pitched terribly. About five o’clock a torrent of rain fell, that lulled neither sea nor wind. The hurricane blew nearly forty leagues an hour. It is under these conditions that it overturns houses, breaks iron gates, displaces twenty-four pounders. However, the Nautilus, in the midst of the tempest, confirmed the words of a clever engineer, “There is no well-constructed hull that cannot defy the sea.” This was not a resisting rock; it was a steel spindle, obedient and movable, without rigging or masts, that braved its fury with impunity. However, I watched these raging waves attentively. They measured fifteen feet in height, and 150 to 175 yards long, and their speed of propagation was thirty feet per second. Their bulk and power increased with the depth of the water. Such waves as these, at the Hebrides, have displaced a mass weighing 8,400 lbs. They are they which, in the tempest of December 23rd, 1864, after destroying the town of Yeddo, in Japan, broke the same day on the shores of America. The intensity of the tempest increased with the night. The barometer, as in 1860 at Reunion during a cyclone, fell seven-tenths at the close of day. I saw a large vessel pass the horizon struggling painfully. She was trying to lie to under half steam, to keep up above the waves. It was probably one of the steamers of the line from New York to Liverpool, or Havre. It soon disappeared in the gloom. At ten o’clock in the evening the sky was on fire. The atmosphere was streaked with vivid lightning. I could not bear the brightness of it; while the captain, looking at it, seemed to envy the spirit of the tempest. A terrible noise filled the air, a complex noise, made up of the howls of the crushed waves, the roaring of the wind, and the claps of thunder. The wind veered suddenly to all points of the horizon; and the cyclone, rising in the east, returned after passing by the north, west, and south, in the inverse course pursued by the circular storm of the southern hemisphere. Ah, that Gulf Stream! It deserves its name of the King of Tempests. It is that which causes those formidable cyclones, by the difference of temperature between its air and its currents. A shower of fire had succeeded the rain. The drops of water were changed to sharp spikes. One would have thought that Captain Nemo was courting a death worthy of himself, a death by lightning. As the Nautilus, pitching dreadfully, raised its steel spur in the air, it seemed to act as a conductor, and I saw long sparks burst from it. Crushed and without strength I crawled to the panel, opened it, and descended to the saloon. The storm was then at its height. It was impossible to stand upright in the interior of the Nautilus. Captain Nemo came down about twelve. I heard the reservoirs filling by degrees, and the Nautilus sank slowly beneath the waves. Through the open windows in the saloon I saw large fish terrified, passing like phantoms in the water. Some were struck before my eyes. The Nautilus was still descending. I thought that at about eight fathoms deep we should find a calm. But no! the upper beds were too violently agitated for that. We had to seek repose at more than twenty-five fathoms in the bowels of the deep. But there, what quiet, what silence, what peace! Who could have told that such a hurricane had been let loose on the surface of that ocean?