CHƯƠNG III: VIÊN NGỌC TRAI MƯỜI TRIỆU FRANCS
Bốn giờ sáng hôm sau, tôi giật mình thức giấc bởi người phục vụ mà Thuyền trưởng Nemo đã cắt cử đến. Vội vã trở dậy và thay y phục, tôi bước nhanh vào phòng khách.
Thuyền trưởng Nemo đã đứng đợi sẵn.
"Ngài Aronnax," ngài cất lời, "ngài đã sẵn sàng khởi hành chưa?"
"Tôi sẵn sàng rồi."
"Vậy xin ngài đi theo tôi."
"Còn những người bạn đồng hành của tôi thì sao, thưa Thuyền trưởng?"
"Họ đã nhận được thông báo và đang chờ chúng ta."
"Chúng ta không phải mặc bộ đồ lặn sao?" tôi thắc mắc.
"Chưa đâu. Tôi không muốn để chiếc Nautilus tiến quá sát bờ biển này, và hiện tại chúng ta vẫn còn cách bãi Manaar một khoảng khá xa. Thế nhưng chiếc xuồng đã được chuẩn bị sẵn sàng, nó sẽ đưa chúng ta đến chính xác điểm cần lên bờ, giúp tiết kiệm được một quãng đường đáng kể. Chiếc xuồng cũng chở theo các thiết bị lặn; chúng ta sẽ chỉ mặc chúng vào khi bắt đầu chuyến hải trình dưới đáy đại dương."
Thuyền trưởng Nemo dẫn tôi đến lối cầu thang trung tâm đưa lên boong tàu. Ned và Conseil đã có mặt ở đó, vô cùng rạng rỡ trước ý tưởng về "bữa tiệc giải trí" sắp diễn ra. Năm người thủy thủ của chiếc Nautilus tay lăm lăm mái chèo đã tề tựu đông đủ bên trong chiếc xuồng đang buộc chặt vào mạn tàu.
Đêm vẫn còn vương màn tối mịt mùng. Những tầng mây xám xịt giăng kín bầu trời, thi thoảng mới hé lộ vài vì tinh tú mờ ảo. Phóng tầm mắt về phía đất liền, tôi chẳng thấy gì ngoài một đường viền sẫm màu vắt ngang qua ba phần tư chân trời, kéo dài từ tây nam sang tây bắc. Tàu Nautilus, sau khi lợi dụng bóng đêm để xuôi dọc theo bờ biển phía tây của Ceylon, giờ đây đang neo mình ở phía tây của vùng vịnh-hay nói đúng hơn là một eo biển hẹp-nằm lọt thỏm giữa đất liền và đảo Manaar1. Chính tại nơi này, chìm sâu dưới làn nước tối tăm bí ẩn, là bãi ngọc trai lừng danh-một cánh đồng ngọc trai ngút ngàn vô tận trải dài hơn hai mươi dặm.
Thuyền trưởng Nemo, Ned Land, Conseil và tôi yên vị phía đuôi xuồng. Vị thuyền trưởng bước tới nắm lấy bánh lái; bốn người bạn đồng hành của ngài gò lưng nhịp nhàng theo nhịp chèo, dây neo được tháo tung, và chúng tôi nhẹ nhàng tách khỏi thân tàu.
Chiếc xuồng rẽ sóng nhắm thẳng hướng nam; những người thợ chèo chẳng hề tỏ ra vội vã. Tôi để ý thấy từng nhát chèo của họ xé toạc mặt nước bằng một lực mạnh mẽ, đều đặn tiếp nối nhau mỗi mười giây một lần-chính xác theo phương thức bơi thuyền chuẩn mực của hải quân. Trong khi chiếc xuồng lướt đi bằng chính gia tốc của nó, những giọt nước văng lên rớt xuống mặt sóng tối tăm, vang lên những tiếng giòn giã tựa hồ như những giọt chì nung chảy. Một ngọn sóng nhỏ miên man trải rộng khiến thân xuồng hơi chao nghiêng, và vài nhánh cỏ sam biển khẽ mơn trớn vỗ về trước mũi xuồng.
Tất cả chúng tôi đều chìm trong tĩnh lặng. Thuyền trưởng Nemo đang suy tính điều gì? Có lẽ tâm trí ngài đang hướng về vùng đất phía trước, nơi ngài cho là đã kề cận, hoàn toàn trái ngược với nhận định của người thợ săn Canada khi anh ta khăng khăng rằng khoảng cách hãy còn quá xa. Còn với Conseil, cậu ta có mặt ở đây đơn thuần chỉ vì trí tò mò thúc giục.
Khoảng năm rưỡi, những tia sáng yếu ớt đầu tiên lóe lên nơi chân trời đã khắc họa rõ nét hơn đường viền phía trên của bờ biển. Thoai thoải và bằng phẳng ở phía đông, dải đất nhô cao lên một chút ở phía nam. Chúng tôi vẫn còn cách bờ chừng năm dặm, và khung cảnh vạn vật hãy còn nhòa đi dưới lớp sương mù bảng lảng trên mặt nước. Đúng sáu giờ, cả khoảng không đột ngột bừng sáng-một sự chuyển mình chớp nhoáng mang đậm nét đặc trưng của vùng nhiệt đới, nơi ranh giới của bình minh và hoàng hôn gần như không tồn tại. Những tia nắng mặt trời rực rỡ xuyên thủng lớp rèm mây chất đống nơi chân trời phía đông, và vầng thái dương chói lọi vút lên nhanh chóng. Tôi đã có thể nhìn rõ đất liền với vài bóng cây điểm xuyết đây đó. Chiếc xuồng tiến sát Đảo Manaar, nơi dải đất bo tròn uốn lượn về phía nam. Thuyền trưởng Nemo rời khỏi ghế ngồi, đứng thẳng dậy và phóng tầm mắt quan sát mặt biển bao la.
Theo một cái gật đầu ra hiệu của ngài, mỏ neo nhanh chóng được thả xuống, nhưng sợi dây xích hầu như chẳng mấy xê dịch, bởi độ sâu ở đây chỉ nhỉnh hơn một thước, và vị trí này chính là một trong những điểm nhô cao nhất của bãi ngọc trai.
"Chúng ta đến nơi rồi, ngài Aronnax," Thuyền trưởng Nemo lên tiếng. "Ngài có thấy vịnh biển khép kín kia không? Chỉ một tháng nữa thôi, nơi đây sẽ quy tụ vô số thuyền đánh cá của các thương gia xuất khẩu, và những người thợ lặn của họ sẽ quả cảm lặn ngụp sục sạo khắp vùng nước này. Thật may mắn, vịnh biển này tọa lạc ở một vị trí vô cùng đắc địa cho công việc khai thác. Nó được che chở hoàn toàn khỏi những cơn gió hung hãn nhất; mặt biển quanh đây chẳng mấy khi nổi sóng dữ, điều này hỗ trợ vô cùng đắc lực cho công việc của thợ lặn. Còn bây giờ, chúng ta sẽ khoác đồ lặn vào và bắt đầu chuyến tản bộ."
Tôi không đáp lời ngài, và trong lúc đăm đăm nhìn những con sóng ẩn chứa vẻ đáng ngờ, tôi bắt đầu khoác lên người bộ đồ lặn nặng trịch với sự trợ giúp từ các thủy thủ. Thuyền trưởng Nemo cùng những người bạn đồng hành của tôi cũng đang bận rộn thay đồ. Tuyệt nhiên không một thủy thủ nào của chiếc Nautilus theo chân chúng tôi trong chuyến viễn du mới mẻ này.
Chẳng mấy chốc, tất cả chúng tôi đều đã bị bọc kín mít đến tận cổ trong lớp trang phục cao su; hệ thống dưỡng khí được nịt chặt vào lưng bằng những sợi dây đai chắc chắn. Còn về thiết bị chiếu sáng Ruhmkorff2, chúng tôi chẳng cần nhờ tới chúng. Ngay trước khi đội chiếc mũ đồng lên đầu, tôi đã cất tiếng hỏi Thuyền trưởng một câu.
"Chúng sẽ trở nên vô dụng thôi," ngài đáp. "Chúng ta không lặn quá sâu, và ánh sáng mặt trời sẽ đủ sức soi tỏ lối đi cho chúng ta. Hơn nữa, việc mang theo luồng sáng điện chói lóa vào vùng nước này e rằng không được khôn ngoan cho lắm; sự rực rỡ của nó rất có thể sẽ thu hút sự chú ý của vài cư dân nguy hiểm ven bờ một cách không đúng lúc chút nào."
Ngay khi Thuyền trưởng Nemo vừa dứt lời, tôi quay sang Conseil và Ned Land. Thế nhưng hai người bạn của tôi đã nhét đầu gài chặt vào chiếc mũ kim loại từ lúc nào, và họ chẳng thể lắng nghe hay hồi đáp được nữa.
Chỉ còn một thắc mắc cuối cùng dành cho Thuyền trưởng Nemo.
"Thế còn vũ khí của chúng ta thì sao?" tôi hỏi; "súng của chúng ta đâu cả rồi?"
"Súng ư! Để làm gì chứ? Chẳng phải những người leo núi vẫn thường lao vào giáp lá cà với loài gấu chỉ bằng một con dao găm cầm tay đó sao, và thép dĩ nhiên phải chắc chắn hơn chì chứ? Đây là một lưỡi dao vô cùng sắc bén; ngài hãy cài nó vào thắt lưng, và chúng ta sẵn sàng lên đường."
Tôi đảo mắt nhìn những người bạn đồng hành; họ cũng đã được trang bị vũ khí đầy đủ như chúng tôi, và thậm chí Ned Land còn đang vung vẩy trên tay một cây lao móc khổng lồ mà anh ta đã cẩn thận đặt vào xuồng trước khi rời chiếc Nautilus.
Làm theo gương Thuyền trưởng, tôi để người ta đội lên đầu chiếc mũ đồng nặng trĩu. Các bình khí trên lưng lập tức hoạt động. Chẳng mấy chốc, từng người một đã đổ bộ xuống dải cát phẳng lì ở độ sâu chừng hai thước nước. Thuyền trưởng Nemo ra hiệu bằng tay. Chúng tôi nối gót ngài, bước dọc theo một con dốc thoai thoải cho tới khi vóc dáng từng người bị những con sóng hoàn toàn nuốt chửng.
Dưới chân chúng tôi, lũ cá thuộc chi monoptera3 - loài thủy tộc kỳ lạ chẳng có vây nào khác ngoài chiếc đuôi - vụt qua vun vút như bầy dẽ giun4 dạt vội trên đầm lầy. Tôi nhận ra loài cá Javanese, thực chất là một loài rắn biển thực thụ dài đến hai thước rưỡi. Bụng chúng mang màu nhợt nhạt, rất dễ bị nhầm với lươn biển nếu chẳng có những sọc vàng chạy dọc hai bên lườn. Thuộc chi stromateus5 với thân hình bầu dục mỏng dẹt, tôi bắt gặp vài sinh vật rực rỡ sắc màu, mang trên lưng chiếc vây uốn cong như lưỡi hái. Đây là giống cá có thịt rất ngon, khi phơi khô và ngâm chua, chúng mang cái tên nổi tiếng là Karawade6. Rồi lại thấy điểm xuyết vài chú cá tranquebar thuộc chi apsiphoroides7, thân mình bọc trong lớp áo giáp vỏ cứng tạo thành từ tám phiến xếp dọc.
Mặt trời nhô cao hơn, rót ánh sáng tỏ rạng qua từng lớp nước. Địa hình dần bề thế và biến đổi. Dải cát mịn lùi lại, nhường chỗ cho một con đường đá tảng lát phẳng tắp, được trải lên một tấm thảm dệt từ các loài động vật thân mềm và động vật dạng cây8. Giữa muôn vàn sinh thể ấy, mắt tôi dừng lại ở đám placenae9 mang những chiếc vỏ mỏng manh xếp không đều, hay giống hàu ostracion10 đặc hữu của Biển Đỏ và Ấn Độ Dương. Lấp ló đây đó là vài bầy lucinae11 vỏ tròn mang sắc cam rực rỡ. Những bụi san hô cá đá vươn dài tới ba thước rưỡi, lấp lóa dưới làn sóng hệt như những chùm bàn tay quỷ dị đang giương vuốt chực chờ vồ lấy bất cứ ai vô tình đi ngang. Lại có cả giống panopyres12 tự tỏa ra ánh lân quang bàng bạc, và sau rốt là những rặng oculines13 xòe tung như những phiến quạt lộng lẫy, góp phần dệt nên một trong những thảm thực vật kỳ vĩ và phong phú bậc nhất chốn đại dương.
Giữa chốn thực vật sinh động ấy, nấp dưới những vòm dây leo thủy sinh lòa xòa, là vương quốc của vô số loài động vật chân khớp với dáng điệu vụng về. Đáng chú ý nhất phải kể đến đám raninae14 với lớp mai tam giác hơi bo tròn, cùng những bầy parthenope15 mang hình thù gớm ghiếc tột độ.
Khoảng bảy giờ, chúng tôi cũng đến được nơi cần đến: những bãi hàu rộng mênh mông, nơi loài hàu ngọc trai đang sinh sôi nảy nở thành hàng triệu hàng triệu cá thể.
Thuyền trưởng Nemo đưa tay trỏ về phía đống hàu khổng lồ. Nhìn cảnh tượng trước mắt, tôi thầm hiểu kho báu này là vô tận, bởi lẽ quyền năng kiến tạo của Mẹ Thiên nhiên mãi mãi vượt xa bản năng hủy diệt của con người. Trung thành với bản tính thợ săn, Ned Land vội vã vơ vét những con hàu tuyệt mỹ nhất nhét đầy vào chiếc lưới đeo bên hông. Dẫu vậy, chúng tôi chẳng thể nán lại lâu. Cả đoàn phải bám gót Thuyền trưởng, người đang tự tin rẽ nước mở đường qua những lối đi bí hiểm mà có lẽ chỉ ngài mới tường tận. Nền đáy biển từ từ dốc đứng lên rõ rệt, có lúc vùng vẫy vươn tay là đã chạm được tới mặt nước mây trời. Rồi đột nhiên mực nước của bãi bồi lại tụt xuống thất thường vô chừng. Đôi lúc chúng tôi phải lách mình đi vòng qua những cột đá sừng sững được gọt đẽo hệt như những kim tự tháp khổng lồ. Từ sâu thẳm trong các kẽ nứt tối tăm của vách đá, lũ giáp xác khổng lồ bấu víu trên đôi càng lênh khênh tựa hồ cỗ máy chiến tranh thời trung cổ, dương đôi mắt thao láo trừng trừng dòm ngó chúng tôi. Còn ngay dưới gót giày, từng búi giun đốt đủ loại cứ thế bò lúc nhúc quằn quại.
Chính ngay khoảnh khắc ấy, một hang động thênh thang mở ra trước mắt. Nó khoét sâu vào khối đá tráng lệ và được phủ kín bởi một lớp thảm thực vật đại dương rậm rạp. Thoạt đầu, vòm hang hiện lên đặc quánh một màu tối tăm. Những tia sáng mặt trời thưa thớt dường như bị bóp nghẹt sau từng tầng nước sâu thẳm, rớt xuống chỉ còn lại màn ánh sáng lờ mờ lay lắt của cõi chìm đắm. Thuyền trưởng Nemo sải bước đi vào, chúng tôi lặng lẽ theo sau. Cặp mắt tôi dần quen với vùng bóng tối mờ ảo này. Giờ đây, tôi đã nhìn rõ những mái vòm uốn lượn kỳ dị vươn lên từ các cột trụ thiên tạo. Chúng sừng sững cắm rễ trên bệ đá hoa cương kiên cố, mang dáng dấp bệ vệ tựa những thức cột hùng vĩ trong kiến trúc Tuscan cổ đại16. Tại sao người hoa tiêu bí ẩn kia lại dẫn dắt chúng tôi trôi dạt xuống tận đáy hầm mộ dưới đáy đại dương này? Câu trả lời chợt hiện ra ngay trước mắt. Băng qua một con dốc khá gắt, chân chúng tôi cuối cùng cũng chạm đến đáy của một hõm sâu mang hình phễu tròn. Ngay tại đó, Thuyền trưởng Nemo dừng bước, tay chỉ về phía một vật thể mà tôi chưa kịp nhìn thấu. Đó là một con hàu mang kích thước vô tiền khoáng hậu! Một con tridacne17 khổng lồ hệt như chiếc chén thánh vĩ đại có thể chứa trọn một hồ nước, vươn bề ngang rộng rinh hơn hai thước rưỡi. Chắc chắn nó còn bề thế hơn cả con hàu đang yên vị nơi phòng khách tàu Nautilus. Tôi rón rén tiến lại gần sinh vật thân mềm phi thường nọ. Bằng những bó tơ bám chắc nịch, nó bám chặt mình vào phiến đá hoa cương. Ở nơi cô lập ấy, nó mặc sức sinh trưởng giữa làn nước tĩnh lặng của vòm hang. Tôi nhẩm tính khối lượng của con tridacne này bét ra cũng ngót nghét 600 pound. Một con hàu cỡ đó hẳn phải ngậm tới 30 pound thịt bên trong; ắt chỉ có cái dạ dày phàm ăn của gã khổng lồ Gargantua18 mới mong tiêu diệt nổi vài chục cá thể cỡ này.
Hiển nhiên là Thuyền trưởng Nemo đã quá quen thuộc với sự hiện diện của loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ này. Ngài dường như mang một chủ đích rõ ràng khi cẩn thận tới đây để trực tiếp kiểm tra tình trạng của con tridacne. Lớp vỏ khổng lồ đang hé mở. Thuyền trưởng bước lại gần, nhanh tay luồn lưỡi dao găm vào giữa khe nứt để khóa chặt hai mảnh vỏ, ngăn chúng khép lại. Ngài khẽ khàng dùng tay vén lớp màng đính viền tua rua chùng chình như một tấm áo choàng đang ôm ấp lấy thân hình sinh vật. Ẩn mình ngay giữa những nếp gấp nhục thể, một viên ngọc trai khổng lồ to bằng quả dừa hiện ra chói lóa. Sắc thái khối cầu hoàn mỹ, độ trong suốt đến vô ngần, quyện hòa cùng quầng hào quang lung linh tuyệt mĩ đã biến nó thành một món bảo vật định giá bằng cả một gia tài vô lượng. Bị thói tò mò cám dỗ, tôi chực đưa tay ra để tóm lấy, để được cân đo và chạm lướt trên bề mặt kiêu sa ấy. Thế nhưng, Thuyền trưởng đã dứt khoát ngăn tôi lại. Ngài vẩy tay ra hiệu từ chối rồi thoăn thoắt rút lưỡi dao găm ra ngoài. Lập tức, hai lớp vỏ nặng trịch đóng sầm lại trong tích tắc. Đến tận lúc ấy, tôi mới bừng tỉnh trước ngụ ý của Thuyền trưởng Nemo. Bằng cách để viên ngọc trai nương náu trong tấm áo choàng của con tridacne, ngài đang nuôi dưỡng cho nó lớn lên theo thời gian. Mỗi năm qua đi, những giọt dịch tiết tinh túy của loài nhuyễn thể này lại bồi đắp thêm những tầng lớp đồng tâm mới. Tôi đoán chừng giá trị của báu vật này bèo nhất cũng phải xấp xỉ 500,000 bảng Anh.
Trôi qua chừng mười phút, Thuyền trưởng Nemo bất thần dừng bước. Cứ ngỡ ngài muốn nghỉ chân một chốc trước khi vòng lại tàu. Nhưng không, bằng một cái vẩy tay dứt khoát, ngài ra hiệu cho tất cả ép mình nép sát vào một kẽ nứt sâu hút giữa vách đá. Rồi ngài đưa tay chỉ thẳng về một vùng nước lờ mờ phía trước, nơi tôi đang dán chặt mọi ánh nhìn.
Cách tôi vỏn vẹn năm thước, một cái bóng đen ngòm lù lù hiện ra rồi từ từ chìm nghỉm xuống tận đáy. Một ý nghĩ rợn người về loài cá mập khát máu chợt lóe lên trong tâm trí tôi. Lạy Chúa, hóa ra tôi đã nhầm; và một lần nữa, thứ chúng tôi giáp mặt lại chẳng phải là một con quái vật của chốn đại dương.
Đó là một con người, một con người bằng xương bằng thịt, một ngư dân Ấn Độ tội nghiệp mà tôi đoán hẳn đã đến đây để mót nhặt trước mùa thu hoạch. Tôi có thể nhìn thấy đáy chiếc xuồng độc mộc của anh ta thả neo ngay phía trên đầu, cách chừng vài thước. Anh ta liên tục ngoi lên lặn xuống. Giữa hai bàn chân kẹp một hòn đá đẽo gọt tựa hình ổ đường19, nối với chiếc xuồng bằng một sợi dây thừng để kéo thân mình chìm xuống đáy nhanh hơn. Đó là toàn bộ đồ nghề của anh ta. Chạm đáy ở độ sâu khoảng năm thước, anh ta quỳ gối, vơ vét nhặt nhạnh những con hàu nhét đầy túi lưới. Rồi anh ta lại ngoi lên, trút sạch túi hàu, kéo hòn đá lên và lặp lại thao tác ấy, nhịp nhàng trong khoảng ba mươi giây.
Người thợ lặn hoàn toàn không nhìn thấy chúng tôi. Bóng đen của tảng đá đã che khuất mọi tầm nhìn. Và làm sao người thợ lặn Ấn Độ khốn khổ này có thể ngờ rằng, ngay dưới đáy đại dương sâu thẳm, lại có những con người bằng xương bằng thịt giống như mình đang chăm chú dõi theo từng cử động, không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào trong công cuộc mưu sinh của anh ta? Cứ thế, anh ta ngoi lên lặn xuống vài bận. Mỗi lần ngụp lặn, anh ta chỉ gỡ được không quá mười con hàu, bởi chúng bám chặt vào đá bằng những sợi tơ dẻo dai vô cùng. Và biết bao nhiêu con hàu mà anh ta phải đánh cược cả mạng sống để giành lấy ấy, mấy con chứa ngọc bên trong! Tôi quan sát anh ta thật kỹ lưỡng; những thao tác của anh ta nhịp nhàng, đều đặn; và trong suốt nửa giờ đồng hồ, dường như chẳng có mối nguy hiểm nào đe dọa anh ta.
Ngay khi tôi bắt đầu quen thuộc với cảnh tượng mưu sinh đầy thú vị này, thì đột nhiên, lúc người Ấn Độ đang cặm cụi dưới đáy, tôi thấy anh ta giật mình hoảng hốt, nhỏm bật dậy, tung người định vọt lên mặt nước.
Tôi thấu hiểu ngay nỗi khiếp đảm của anh ta. Một bóng đen khổng lồ lù lù xuất hiện ngay phía trên người thợ lặn xấu số. Đó là một con cá mập to lớn dị thường, đang lao tới theo đường chéo, đôi mắt nó rực lửa và bộ hàm há hoác gớm ghiếc. Sự kinh hoàng tột độ khiến tôi chết lặng, không thể nhúc nhích nổi.
Sinh vật háu đói điên cuồng lao thẳng về phía người Ấn Độ. Anh ta vội tung người sang một bên để né chiếc vây sắc nhọn, nhưng lại không thể thoát khỏi cú quật đuôi như búa bổ trúng ngay lồng ngực, hất văng anh ta chìm nghỉm xuống đáy biển.
Mọi việc diễn ra chớp nhoáng chỉ trong vài giây: con cá mập lộn vòng, ngửa cái bụng trắng hếu lên chuẩn bị ngoạm đôi người thợ lặn xấu số, thì Thuyền trưởng Nemo đột ngột đứng phắt dậy. Tay lăm lăm con dao găm, ngài lao thẳng về phía con quái vật, sẵn sàng trận chiến một mất một còn với nó. Ngay thời khắc ranh giới sinh tử, khi con cá mập há mõm toan cắn đứt đôi người ngư dân bất hạnh, nó chợt nhận ra kẻ thù mới. Lập tức, nó quẫy mình, lao sầm sập về phía ngài Thuyền trưởng.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn mường tượng rõ mồn một tư thế uy dũng của Thuyền trưởng Nemo lúc ấy. Ngài trụ chân vững chãi, chờ đợi con quái vật lao đến với một sự điềm tĩnh đáng kinh ngạc; và đúng lúc nó háu đói xồ tới, ngài lách mình sang một bên lanh lẹ đến khó tin, né trọn cú va đập chết người, đồng thời cắm ngập lưỡi dao găm vào hông nó. Nhưng mọi chuyện đâu dễ dàng kết thúc. Một cuộc ác chiến kinh hoàng bùng nổ.
![[Illustration]](/sach/twenty-thousand-leagues-under-the-sea/images/M25_IMG01_img07.webp)
Một cuộc ác chiến bùng nổ.
Con quái vật dường như đang rống lên, nếu tôi có thể diễn tả như vậy. Máu xối xả tuôn ra từ vết thương hở toác. Nước biển nhuộm một màu đỏ thẫm đục ngầu, che khuất hoàn toàn tầm nhìn của tôi. Tôi chẳng còn thấy gì nữa, cho đến khi, nhanh như chớp, bóng dáng vị Thuyền trưởng gan dạ lại hiện ra. Ngài đang bám chặt lấy một bên vây của con cá mập, đu bám vật lộn với nó trong thế giáp lá cà, và liên tiếp giáng những đòn dao chí mạng vào kẻ thù. Nhưng dường như ngài vẫn chưa tung được đòn kết liễu cuối cùng.
Con quái thú giãy giụa điên cuồng, khuấy đảo mặt nước dữ dội đến mức những luồng sóng ngầm chao đảo chực chờ hất văng cả tôi đi.
Tôi cồn cào muốn lao tới giúp ngài Thuyền trưởng một tay, nhưng nỗi kinh hoàng đã ghim chặt đôi chân, khiến tôi chôn chân tại chỗ, chẳng thể nhúc nhích nổi một li.
Dõi theo đôi mắt hoang dại của con cá mập, tôi chứng kiến từng khoảnh khắc nghẹt thở của trận tử chiến. Thuyền trưởng bị khối cơ thể khổng lồ xô ngã nhào xuống đáy. Bộ hàm gớm ghiếc há hoác ra, sắc lẹm hệt như lưỡi kéo khổng lồ trong một công xưởng, và tôi nghĩ thế là dấu chấm hết cho sinh mạng của ngài Thuyền trưởng; nhưng, nhanh tựa ánh chớp, Ned Land tay lăm lăm cây lao móc đã xông thẳng tới, đâm phập mũi nhọn chí mạng vào con quái thú.
Mặt biển nhuốm đặc một màu máu tanh nồng. Nước cuộn trào tròng trành theo từng nhịp giãy giụa điên loạn của con cá mập trước cơn thịnh nộ tuyệt vọng. Cây lao của Ned Land đã không hề trượt mục tiêu. Đó là tiếng nấc hấp hối của con quái vật. Bị mũi lao đâm xuyên tim, nó quằn quại co giật dữ dội, chấn động kinh hoàng đến mức hất ngã cả Conseil.
Ned Land vội vã đỡ Thuyền trưởng dậy. Thật diệu kỳ, ngài đứng lên mà chẳng mảy may xước xát, lập tức tiến thẳng về phía người thợ lặn Ấn Độ. Nhanh thoăn thoắt, ngài cắt đứt sợi dây thừng buộc anh ta vào tảng đá, ôm chặt lấy cơ thể bất tỉnh ấy vào lòng, rồi nhún gót chân một cú thật mạnh, vọt thẳng lên mặt nước.
Chỉ mất vài giây, ba chúng tôi cũng bơi theo lên mặt nước, vừa được cứu sống khỏi tử thần nhờ một phép màu, rồi tất cả cùng tiến về phía chiếc xuồng của người ngư dân nọ.
Mối bận tâm đầu tiên của Thuyền trưởng Nemo là giành lại sự sống cho người đàn ông bất hạnh. Ban đầu, tôi e rằng nỗ lực của ngài khó lòng thành công. Tuy thời gian chìm dưới nước của sinh linh tội nghiệp ấy chưa quá lâu, nhưng cú đập trời giáng từ chiếc đuôi cá mập rất có thể đã trở thành đòn chí mạng.
Phép màu đã đến, nhờ những cái xoa bóp đầy sức lực của Thuyền trưởng và Conseil, tôi nhận thấy ý thức đang dần mơn trớn trở lại khuôn mặt người thợ lặn. Anh ta từ từ hé mắt. Sự ngỡ ngàng, xen lẫn cả nỗi kinh hoàng tột độ đã choán ngợp ánh nhìn của anh khi thấy bốn chiếc đầu bằng đồng đồ sộ đang cúi gầm xuống trừng trừng nhìn mình! Và rồi, cảm xúc của anh ta hẳn đã hỗn mang đến nhường nào khi Thuyền trưởng Nemo rút từ túi áo ra một túi ngọc trai, nhẹ nhàng đặt vào tay anh! Sự ban ân hào phóng ấy từ một người đàn ông bí ẩn của đại dương dành cho gã Cingalese20 nghèo khổ đã được đón nhận bằng đôi bàn tay run rẩy không ngừng. Ánh mắt bàng hoàng của anh ta lộ rõ sự bối rối, bởi anh chẳng thể biết mình vừa mang ơn những sinh linh siêu phàm nào đã ban cho cả một gia tài lẫn một mạng sống thứ hai.
Theo cái ra hiệu của Thuyền trưởng, chúng tôi quay trở lại bãi san hô, men theo con đường cũ đã đi. Phải mất chừng nửa giờ lội bộ dưới đáy biển, cả nhóm mới về đến nơi chiếc mỏ neo đang giữ chặt chiếc xuồng của tàu Nautilus vào nền đất lạnh.
Khi đã trèo lên xuồng, với sự trợ giúp của các thủy thủ, chúng tôi lần lượt trút bỏ những chiếc mũ đồng nặng trịch khỏi vai.
Lời đầu tiên Thuyền trưởng Nemo cất lên là để dành cho người thợ săn Canada.
"Cảm ơn anh, anh Land," ngài lên tiếng.
"Chỉ là để trả ơn thôi, thưa Thuyền trưởng," Ned Land điềm nhiên đáp lại. "Tôi vẫn luôn nợ ngài điều đó."
Một nụ cười nhàn nhạt, đầy ẩn ý thoáng lướt qua trên bờ môi Thuyền trưởng, chỉ chừng đó mà thôi.
"Về tàu Nautilus," ngài ra lệnh.
Chiếc xuồng nhẹ nhàng rẽ sóng lướt đi. Chỉ vài phút sau, chúng tôi bắt gặp cái xác khổng lồ của con cá mập đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Dựa vào những vệt đen đặc trưng nơi chóp vây, tôi nhận ra ngay đó là loài melanopteron21 khét tiếng đáng sợ của vùng biển Ấn Độ Dương. Chiều dài của con thủy quái này vượt quá hai mươi lăm feet, riêng cái mõm gớm ghiếc của nó đã chiếm trọn một phần ba cơ thể. Đó là một con cá mập đã hoàn toàn trưởng thành, điều dễ dàng nhận biết qua sáu hàm răng nhọn hoắt xếp thành hình tam giác cân sắc lẹm ở hàm trên.
Trong lúc tôi còn đang mải mê quan sát khối xác chết lạnh lẽo ấy, bỗng từ đâu một chục con quái vật phàm ăn khác túa ra quanh chiếc xuồng. Chẳng buồn màng đến sự hiện diện của chúng tôi, lũ cá hung tợn điên cuồng lao vào xâu xé cái xác, tranh giành nhau từng mảng thịt tươm máu.
Đúng tám giờ rưỡi, chúng tôi đã đặt chân trở lại boong tàu Nautilus. Trong không gian tĩnh lặng, tôi để mặc cho tâm trí mình chìm sâu vào những suy tư về chuỗi sự kiện vừa diễn ra trong chuyến thám hiểm Bãi Manaar đầy kịch tính.
Tôi bất giác đúc kết được hai điều sâu sắc từ biến cố này - thứ nhất là lòng can trường vô song của Thuyền trưởng Nemo, và thứ hai, quan trọng hơn, là lòng trắc ẩn ngài dành cho một con người cụ thể, một đại diện của chính cái nhân loại mà ngài đang hắt hủi, trốn chạy dưới tận cùng đáy biển. Dẫu ngài có buông những lời cay nghiệt đến nhường nào, thì sâu thẳm bên trong, người đàn ông kỳ lạ và cô độc ấy vẫn chưa thể bóp nghẹt hoàn toàn nhịp đập của một trái tim ấm nóng.
Khi tôi đem những suy nghĩ này giãi bày với ngài, Thuyền trưởng ngập ngừng đáp lại bằng một chất giọng đượm chút bùi ngùi:
"Người thợ lặn Ấn Độ đó, thưa ngài, vốn dĩ là một người con của một dân tộc đang oằn mình dưới ách áp bức; và bản thân tôi, vẫn luôn như thế, và sẽ mãi mãi như thế cho đến hơi thở cuối cùng, là một người đồng bào của anh ta!"
-
Hòn đảo (Mannar) nằm ở phía tây bắc Sri Lanka. Eo biển giữa đảo này và bờ biển Ấn Độ được gọi là Vịnh Mannar, nơi quy tụ vô số bãi ngọc trai trù phú. ↩
-
Loại đèn điện di động an toàn phát minh vào thế kỷ 19, hoạt động nhờ cuộn cảm ứng Ruhmkorff. Nó tạo ra ánh sáng hồ quang trong ống thủy tinh kín, chuyên dùng cho thợ mỏ và thợ lặn vì không sợ bị dập tắt hay gây cháy nổ. ↩
-
Một nhóm cá thuộc bộ lươn biển (Synbranchiformes) có vây tiêu giảm, thân hình thon dài như loài rắn, giúp chúng dễ dàng trườn qua các vùng bùn lầy ven biển. ↩
-
Loài chim nước nhỏ bé với chiếc mỏ dài, đôi chân cao chuyên sống ở bãi lầy ngập nước. Chúng có phản xạ rất lanh lẹ và thường chạy thoăn thoắt lẩn trốn trong bùn cỏ khi gặp nguy hiểm. ↩
-
Chi cá chim biển (Stromateidae) đặc trưng bởi thân mình mỏng và dẹt theo chiều dọc, bơi lội linh hoạt và thường di chuyển thành đàn lớn trong các vùng biển nhiệt đới. ↩
-
Món cá ngâm chua phơi khô nổi tiếng của vùng Nam Á. Đây là cách bảo quản thực phẩm truyền thống của ngư dân khu vực Ấn Độ Dương để dự trữ cá trong những chuyến đi biển dài ngày. ↩
-
Chi cá bọc giáp (Agonidae) với cơ thể không được phủ vảy thông thường mà được bảo vệ bởi những phiến xương cứng ráp liền nhau như một bộ áo giáp hiệp sĩ thời trung cổ. ↩
-
Thuật ngữ sinh học cổ (Zoophyte) dùng ở thế kỷ 19 để chỉ các loài động vật biển sống bám cố định và có hình dáng trông như cành nhánh thực vật, điển hình như san hô, bọt biển hay hải quỳ. ↩
-
Chi nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Placuna) nổi tiếng với lớp vỏ cực kỳ mỏng, dẹt và trong mờ. Ở nhiều nơi thuộc châu Á, lớp vỏ xuyên sáng của loài này từng được dùng làm vật liệu lợp cửa sổ thay cho kính. ↩
-
Thực chất 'Ostracion' là tên chi của các loài cá nóc hòm có thân hình vỏ xương cứng tựa như chiếc hộp vuông. Có thể ở đây Jules Verne đã dùng thuật ngữ này để miêu tả hình thù góc cạnh của một loại hàu biển đặc thù vùng nhiệt đới. ↩
-
Họ động vật thân mềm hai mảnh vỏ (Lucinidae) có lớp vỏ dạng đĩa tròn xoe đặc trưng, thường sống vùi sâu mình trong lớp cát hay bùn tại các thảm cỏ biển. ↩
-
Tên gọi khoa học của một nhóm sinh vật biển kỳ lạ có khả năng tự phát sáng sinh học (phát lân quang), thắp lên những luồng sáng mờ ảo giữa đáy đại dương tăm tối. ↩
-
Một chi san hô cứng (Oculina) thường phát triển thành dạng nhánh rậm rạp như những bụi cây non. Chúng đóng vai trò sống còn trong việc xây dựng hệ sinh thái rạn nứt nẻ cho vô số loài sinh vật khác trú ẩn. ↩
-
Phân họ cua ếch (Raninidae), mang thân hình thon dài bo tròn cùng lớp vỏ nhẵn bóng. Không bò ngang như các loài cua khác, chúng thường di chuyển giật lùi và thích đào hang giấu mình thật nhanh dưới cát. ↩
-
Chi cua biển có lớp mai vô cùng sần sùi, gai góc và lởm chởm. Lớp vỏ ngụy trang gớm ghiếc này giúp chúng ẩn mình tuyệt đối giữa các rạn san hô chết hoặc những dải đá sỏi dưới đáy biển. ↩
-
Thức cột Tuscan (Tuscan order) là một trong những phong cách kiến trúc La Mã cổ điển với thiết kế thân cột trụ đá tròn trơn nhẵn, chân đế vững chãi và không hề có họa tiết chạm trổ điêu khắc cầu kỳ trên đầu cột. ↩
-
Tên khoa học của chi trai tai tượng (Tridacna) vùng nhiệt đới Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đây là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khổng lồ có kích cỡ đồ sộ và tuổi thọ lớn nhất thế giới, thường nằm ẩn mình trong các rạn san hô. ↩
-
Nhân vật chính trong tiểu thuyết trào phúng kinh điển của đại văn hào Pháp François Rabelais (thế kỷ 16). Gargantua là một gã khổng lồ vui nhộn với sức ăn uống vô độ, trở thành biểu tượng văn học cho sự phàm ăn tục uống vĩ đại. ↩
-
Ổ đường (sugarloaf) là tên gọi những khối đường cát tinh luyện được đúc theo khuôn hình nón hoặc hình chóp bầu phổ biến vào thế kỷ 19 trước khi có đường viên nhỏ. Hòn đá đẽo theo hình thù này giúp nó thuôn nhọn, xé nước chìm xuống đáy biển nhanh hơn. ↩
-
Từ cũ chỉ người Sinhalese, một nhóm dân tộc bản địa chiếm đa số tại quốc đảo Sri Lanka. Rất nhiều ngư dân lặn ngọc trai kiếm sống bằng nghề này ở vùng vịnh Manaar là người thuộc tộc Sinhalese. ↩
-
Cá mập vây đen (Carcharhinus melanopterus). Đặc điểm nhận dạng nổi bật dễ thấy của chúng là các dải màu đen sẫm in rõ ở phần chóp của các vây nhô lên; chúng thường lượn lờ săn mồi quanh các rạn san hô nông sát bờ. ↩
CHAPTER III A PEARL OF TEN MILLIONS
The next morning at four o’clock I was awakened by the steward whom Captain Nemo had placed at my service. I rose hurriedly, dressed, and went into the saloon.
Captain Nemo was awaiting me.
“M. Aronnax,” said he, “are you ready to start?”
“I am ready.”
“Then please to follow me.”
“And my companions, Captain?”
“They have been told and are waiting.”
“Are we not to put on our diver’s dresses?” asked I.
“Not yet. I have not allowed the Nautilus to come too near this coast, and we are some distance from the Manaar Bank; but the boat is ready, and will take us to the exact point of disembarking, which will save us a long way. It carries our diving apparatus, which we will put on when we begin our submarine journey.”
Captain Nemo conducted me to the central staircase, which led on the platform. Ned and Conseil were already there, delighted at the idea of the “pleasure party” which was preparing. Five sailors from the Nautilus, with their oars, waited in the boat, which had been made fast against the side.
The night was still dark. Layers of clouds covered the sky, allowing but few stars to be seen. I looked on the side where the land lay, and saw nothing but a dark line enclosing three parts of the horizon, from south-west to north-west. The Nautilus, having returned during the night up the western coast of Ceylon, was now west of the bay, or rather gulf, formed by the mainland and the Island of Manaar. There, under the dark waters, stretched the pintadine bank, an inexhaustible field of pearls, the length of which is more than twenty miles.
Captain Nemo, Ned Land, Conseil, and I took our places in the stern of the boat. The master went to the tiller; his four companions leaned on their oars, the painter was cast off, and we sheered off.
The boat went towards the south; the oarsmen did not hurry. I noticed that their strokes, strong in the water, only followed each other every ten seconds, according to the method generally adopted in the navy. Whilst the craft was running by its own velocity, the liquid drops struck the dark depths of the waves crisply like spats of melted lead. A little billow, spreading wide, gave a slight roll to the boat, and some samphire reeds flapped before it.
We were silent. What was Captain Nemo thinking of? Perhaps of the land he was approaching, and which he found too near to him, contrary to the Canadian’s opinion, who thought it too far off. As to Conseil, he was merely there from curiosity.
About half-past five the first tints on the horizon showed the upper line of coast more distinctly. Flat enough in the east, it rose a little to the south. Five miles still lay between us, and it was indistinct owing to the mist on the water. At six o’clock it became suddenly daylight, with that rapidity peculiar to tropical regions, which know neither dawn nor twilight. The solar rays pierced the curtain of clouds, piled up on the eastern horizon, and the radiant orb rose rapidly. I saw land distinctly, with a few trees scattered here and there. The boat neared Manaar Island, which was rounded to the south. Captain Nemo rose from his seat and watched the sea.
At a sign from him the anchor was dropped, but the chain scarcely ran, for it was little more than a yard deep, and this spot was one of the highest points of the bank of pintadines.
“Here we are, M. Aronnax,” said Captain Nemo. “You see that enclosed bay? Here, in a month will be assembled the numerous fishing boats of the exporters, and these are the waters their divers will ransack so boldly. Happily, this bay is well situated for that kind of fishing. It is sheltered from the strongest winds; the sea is never very rough here, which makes it favourable for the diver’s work. We will now put on our dresses, and begin our walk.”
I did not answer, and, while watching the suspected waves, began with the help of the sailors to put on my heavy sea-dress. Captain Nemo and my companions were also dressing. None of the Nautilus men were to accompany us on this new excursion.
Soon we were enveloped to the throat in india-rubber clothing; the air apparatus fixed to our backs by braces. As to the Ruhmkorff apparatus, there was no necessity for it. Before putting my head into the copper cap, I had asked the question of the Captain.
“They would be useless,” he replied. “We are going to no great depth, and the solar rays will be enough to light our walk. Besides, it would not be prudent to carry the electric light in these waters; its brilliancy might attract some of the dangerous inhabitants of the coast most inopportunely.”
As Captain Nemo pronounced these words, I turned to Conseil and Ned Land. But my two friends had already encased their heads in the metal cap, and they could neither hear nor answer.
One last question remained to ask of Captain Nemo.
“And our arms?” asked I; “our guns?”
“Guns! What for? Do not mountaineers attack the bear with a dagger in their hand, and is not steel surer than lead? Here is a strong blade; put it in your belt, and we start.”
I looked at my companions; they were armed like us, and, more than that, Ned Land was brandishing an enormous harpoon, which he had placed in the boat before leaving the Nautilus.
Then, following the Captain’s example, I allowed myself to be dressed in the heavy copper helmet, and our reservoirs of air were at once in activity. An instant after we were landed, one after the other, in about two yards of water upon an even sand. Captain Nemo made a sign with his hand, and we followed him by a gentle declivity till we disappeared under the waves.
Over our feet, like coveys of snipe in a bog, rose shoals of fish, of the genus monoptera, which have no other fins but their tail. I recognized the Javanese, a real serpent two and a half feet long, of a livid colour underneath, and which might easily be mistaken for a conger eel if it were not for the golden stripes on its side. In the genus stromateus, whose bodies are very flat and oval, I saw some of the most brilliant colours, carrying their dorsal fin like a scythe; an excellent eating fish, which, dried and pickled, is known by the name of Karawade; then some tranquebars, belonging to the genus apsiphoroides, whose body is covered with a shell cuirass of eight longitudinal plates.
The heightening sun lit the mass of waters more and more. The soil changed by degrees. To the fine sand succeeded a perfect causeway of boulders, covered with a carpet of molluscs and zoophytes. Amongst the specimens of these branches I noticed some placenae, with thin unequal shells, a kind of ostracion peculiar to the Red Sea and the Indian Ocean; some orange lucinae with rounded shells; rockfish three feet and a half long, which raised themselves under the waves like hands ready to seize one. There were also some panopyres, slightly luminous; and lastly, some oculines, like magnificent fans, forming one of the richest vegetations of these seas.
In the midst of these living plants, and under the arbours of the hydrophytes, were layers of clumsy articulates, particularly some raninae, whose carapace formed a slightly rounded triangle; and some horrible looking parthenopes.
At about seven o’clock we found ourselves at last surveying the oyster-banks on which the pearl-oysters are reproduced by millions.
Captain Nemo pointed with his hand to the enormous heap of oysters; and I could well understand that this mine was inexhaustible, for Nature’s creative power is far beyond man’s instinct of destruction. Ned Land, faithful to his instinct, hastened to fill a net which he carried by his side with some of the finest specimens. But we could not stop. We must follow the Captain, who seemed to guide himself by paths known only to himself. The ground was sensibly rising, and sometimes, on holding up my arm, it was above the surface of the sea. Then the level of the bank would sink capriciously. Often we rounded high rocks scarped into pyramids. In their dark fractures huge crustacea, perched upon their high claws like some war-machine, watched us with fixed eyes, and under our feet crawled various kinds of annelides.
At this moment there opened before us a large grotto dug in a picturesque heap of rocks and carpeted with all the thick warp of the submarine flora. At first it seemed very dark to me. The solar rays seemed to be extinguished by successive gradations, until its vague transparency became nothing more than drowned light. Captain Nemo entered; we followed. My eyes soon accustomed themselves to this relative state of darkness. I could distinguish the arches springing capriciously from natural pillars, standing broad upon their granite base, like the heavy columns of Tuscan architecture. Why had our incomprehensible guide led us to the bottom of this submarine crypt? I was soon to know. After descending a rather sharp declivity, our feet trod the bottom of a kind of circular pit. There Captain Nemo stopped, and with his hand indicated an object I had not yet perceived. It was an oyster of extraordinary dimensions, a gigantic tridacne, a goblet which could have contained a whole lake of holy-water, a basin the breadth of which was more than two yards and a half, and consequently larger than that ornamenting the saloon of the Nautilus. I approached this extraordinary mollusc. It adhered by its filaments to a table of granite, and there, isolated, it developed itself in the calm waters of the grotto. I estimated the weight of this tridacne at 600 lbs. Such an oyster would contain 30 lbs. of meat; and one must have the stomach of a Gargantua to demolish some dozens of them.
Captain Nemo was evidently acquainted with the existence of this bivalve, and seemed to have a particular motive in verifying the actual state of this tridacne. The shells were a little open; the Captain came near and put his dagger between to prevent them from closing; then with his hand he raised the membrane with its fringed edges, which formed a cloak for the creature. There, between the folded plaits, I saw a loose pearl, whose size equalled that of a coco-nut. Its globular shape, perfect clearness, and admirable lustre made it altogether a jewel of inestimable value. Carried away by my curiosity, I stretched out my hand to seize it, weigh it, and touch it; but the Captain stopped me, made a sign of refusal, and quickly withdrew his dagger, and the two shells closed suddenly. I then understood Captain Nemo’s intention. In leaving this pearl hidden in the mantle of the tridacne he was allowing it to grow slowly. Each year the secretions of the mollusc would add new concentric circles. I estimated its value at £500,000 at least.
After ten minutes Captain Nemo stopped suddenly. I thought he had halted previously to returning. No; by a gesture he bade us crouch beside him in a deep fracture of the rock, his hand pointed to one part of the liquid mass, which I watched attentively.
About five yards from me a shadow appeared, and sank to the ground. The disquieting idea of sharks shot through my mind, but I was mistaken; and once again it was not a monster of the ocean that we had anything to do with.
It was a man, a living man, an Indian, a fisherman, a poor devil who, I suppose, had come to glean before the harvest. I could see the bottom of his canoe anchored some feet above his head. He dived and went up successively. A stone held between his feet, cut in the shape of a sugar loaf, whilst a rope fastened him to his boat, helped him to descend more rapidly. This was all his apparatus. Reaching the bottom, about five yards deep, he went on his knees and filled his bag with oysters picked up at random. Then he went up, emptied it, pulled up his stone, and began the operation once more, which lasted thirty seconds.
The diver did not see us. The shadow of the rock hid us from sight. And how should this poor Indian ever dream that men, beings like himself, should be there under the water watching his movements and losing no detail of the fishing? Several times he went up in this way, and dived again. He did not carry away more than ten at each plunge, for he was obliged to pull them from the bank to which they adhered by means of their strong byssus. And how many of those oysters for which he risked his life had no pearl in them! I watched him closely; his manœuvres were regular; and for the space of half an hour no danger appeared to threaten him.
I was beginning to accustom myself to the sight of this interesting fishing, when suddenly, as the Indian was on the ground, I saw him make a gesture of terror, rise, and make a spring to return to the surface of the sea.
I understood his dread. A gigantic shadow appeared just above the unfortunate diver. It was a shark of enormous size advancing diagonally, his eyes on fire, and his jaws open. I was mute with horror and unable to move.
The voracious creature shot towards the Indian, who threw himself on one side to avoid the shark’s fins; but not its tail, for it struck his chest and stretched him on the ground.
This scene lasted but a few seconds: the shark returned, and, turning on his back, prepared himself for cutting the Indian in two, when I saw Captain Nemo rise suddenly, and then, dagger in hand, walk straight to the monster, ready to fight face to face with him. The very moment the shark was going to snap the unhappy fisherman in two, he perceived his new adversary, and, turning over, made straight towards him.
I can still see Captain Nemo’s position. Holding himself well together, he waited for the shark with admirable coolness; and, when it rushed at him, threw himself on one side with wonderful quickness, avoiding the shock, and burying his dagger deep into its side. But it was not all over. A terrible combat ensued.
![[Illustration]](/sach/twenty-thousand-leagues-under-the-sea/images/M25_IMG01_img07.webp)
A terrible combat began
The shark had seemed to roar, if I might say so. The blood rushed in torrents from its wound. The sea was dyed red, and through the opaque liquid I could distinguish nothing more. Nothing more until the moment when, like lightning, I saw the undaunted Captain hanging on to one of the creature’s fins, struggling, as it were, hand to hand with the monster, and dealing successive blows at his enemy, yet still unable to give a decisive one.
The shark’s struggles agitated the water with such fury that the rocking threatened to upset me.
I wanted to go to the Captain’s assistance, but, nailed to the spot with horror, I could not stir.
I saw the haggard eye; I saw the different phases of the fight. The Captain fell to the earth, upset by the enormous mass which leant upon him. The shark’s jaws opened wide, like a pair of factory shears, and it would have been all over with the Captain; but, quick as thought, harpoon in hand, Ned Land rushed towards the shark and struck it with its sharp point.
The waves were impregnated with a mass of blood. They rocked under the shark’s movements, which beat them with indescribable fury. Ned Land had not missed his aim. It was the monster’s death-rattle. Struck to the heart, it struggled in dreadful convulsions, the shock of which overthrew Conseil.
But Ned Land had disentangled the Captain, who, getting up without any wound, went straight to the Indian, quickly cut the cord which held him to his stone, took him in his arms, and, with a sharp blow of his heel, mounted to the surface.
We all three followed in a few seconds, saved by a miracle, and reached the fisherman’s boat.
Captain Nemo’s first care was to recall the unfortunate man to life again. I did not think he could succeed. I hoped so, for the poor creature’s immersion was not long; but the blow from the shark’s tail might have been his death-blow.
Happily, with the Captain’s and Conseil’s sharp friction, I saw consciousness return by degrees. He opened his eyes. What was his surprise, his terror even, at seeing four great copper heads leaning over him! And, above all, what must he have thought when Captain Nemo, drawing from the pocket of his dress a bag of pearls, placed it in his hand! This munificent charity from the man of the waters to the poor Cingalese was accepted with a trembling hand. His wondering eyes showed that he knew not to what super-human beings he owed both fortune and life.
At a sign from the Captain we regained the bank, and, following the road already traversed, came in about half an hour to the anchor which held the canoe of the Nautilus to the earth.
Once on board, we each, with the help of the sailors, got rid of the heavy copper helmet.
Captain Nemo’s first word was to the Canadian.
“Thank you, Master Land,” said he.
“It was in revenge, Captain,” replied Ned Land. “I owed you that.”
A ghastly smile passed across the Captain’s lips, and that was all.
“To the Nautilus,” said he.
The boat flew over the waves. Some minutes after we met the shark’s dead body floating. By the black marking of the extremity of its fins, I recognised the terrible melanopteron of the Indian Seas, of the species of shark so properly called. It was more than twenty-five feet long; its enormous mouth occupied one-third of its body. It was an adult, as was known by its six rows of teeth placed in an isosceles triangle in the upper jaw.
Whilst I was contemplating this inert mass, a dozen of these voracious beasts appeared round the boat; and, without noticing us, threw themselves upon the dead body and fought with one another for the pieces.
At half-past eight we were again on board the Nautilus. There I reflected on the incidents which had taken place in our excursion to the Manaar Bank.
Two conclusions I must inevitably draw from it-one bearing upon the unparalleled courage of Captain Nemo, the other upon his devotion to a human being, a representative of that race from which he fled beneath the sea. Whatever he might say, this strange man had not yet succeeded in entirely crushing his heart.
When I made this observation to him, he answered in a slightly moved tone:
“That Indian, sir, is an inhabitant of an oppressed country; and I am still, and shall be, to my last breath, one of them!”