CHƯƠNG XIX: EO BIỂN TORRES
Trong đêm ngày 27 rạng sáng ngày 28 tháng Mười Hai, tàu Nautilus rời khỏi bờ biển Vanikoro với tốc độ kinh hồn. Mũi tàu hướng thẳng về phía tây nam. Chỉ vỏn vẹn ba ngày, con tàu đã bỏ lại phía sau lưng 750 dặm biển rẽ sóng, vượt qua khoảng không gian vời vợi ngăn cách giữa quần đảo của La Perouse và mũi cực đông nam của Papua.
Sáng tinh mơ ngày 1 tháng Một năm 1863, Conseil cùng tôi bước lên boong tàu lộng gió.
"Thưa ngài, ngài có cho phép tôi gửi đến ngài một lời chúc năm mới bình an không?"
"Trời đất! Conseil, cậu làm như thể tôi đang ngồi yên vị trong phòng làm việc tại Vườn Bách thảo Paris vậy? Thôi được rồi, tôi xin nhận lời chúc tốt lành của cậu, và thực lòng cảm ơn cậu. Nhưng có điều này tôi muốn hỏi, 'Năm mới bình an' trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta thực chất mang ý nghĩa gì? Ý cậu là năm nay sẽ đánh dấu hồi kết cho sự giam cầm này, hay năm nay sẽ lại tiếp tục chứng kiến chúng ta trôi dạt trong chuyến du hành kỳ lạ chưa từng có này?"
"Nói thật, tôi cũng chẳng biết phải trả lời ngài thế nào. Điều duy nhất chắc chắn là chúng ta sẽ còn được chiêm ngưỡng muôn vàn kỳ quan, và quả thực, suốt hai tháng qua, chúng ta làm gì có lấy một phút giây để buồn chán. Điều kỳ diệu cuối cùng bao giờ cũng là điều gây choáng ngợp nhất; và nếu cứ tiếp tục cuộc hành trình này, tôi khó lòng mường tượng nổi hồi kết sẽ ra sao. Theo thiển ý của tôi, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có cơ may trải qua điều tương tự thêm một lần nào nữa. Bởi vậy, tôi thiết nghĩ, mong ngài đừng phật lòng, rằng một năm bình an chính là một năm để chúng ta có thể thu trọn mọi kỳ quan của thế giới vào tầm mắt."
Đến ngày 2 tháng Một, chúng tôi đã vượt qua một chặng đường dài 11.340 dặm, tương đương với 5.250 dặm biển Pháp, kể từ thời điểm rời bến tại vùng biển Nhật Bản. Trải dài trước mũi tàu là những bờ biển hiểm hóc khét tiếng của vùng biển san hô, nằm sừng sững bên dải bờ đông bắc nước Úc. Con tàu lướt đi êm ru, cách bãi đá ngầm đáng sợ chỉ vài dặm-chính là nơi con tàu của thuyền trưởng Cook lừng danh từng đắm chìm vào ngày 10 tháng Sáu năm 1770. Chiếc thuyền của ông ngày ấy đã va phải một khối đá ngầm ác nghiệt; và nếu nó may mắn không chìm nghỉm, thì đó thảy đều nhờ vào một tảng san hô bị đứt gãy sau cú va chạm đã găm chặt vào phần sống tàu bị vỡ nát.
Tôi đã vô cùng khao khát được tận mắt chiêm ngưỡng rạn san hô trải dài 360 dặm biển này, nơi những cơn sóng biển quanh năm gào thét và vỗ vào vách đá với sức mạnh cuồng nộ, tạo nên thứ âm thanh gầm rú như sấm rền. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc ấy, những cánh tà nghiêng đã dìm tàu Nautilus xuống một độ sâu hun hút, tước đi của tôi cơ hội ngắm nhìn những bức tường san hô cao vợi. Tôi đành tự an ủi mình bằng cách nghiên cứu các mẫu cá muôn hình vạn trạng mà tấm lưới vét lên. Trong số những sinh vật biển ấy, tôi đặc biệt để mắt tới vài con germon-một loài cá thu có kích thước lớn tựa cá ngừ, khoác trên mình lớp vảy hai bên sườn ngả ánh xanh dương, cùng những sọc vằn vắt ngang mình sẽ phai mờ ngay khi chúng trút hơi thở cuối cùng.
Đàn cá bơi lội tung tăng theo sát chúng tôi, hào phóng mang đến cho chúng tôi những bữa ăn tuyệt hảo. Chúng tôi cũng thu hoạch được một mẻ lớn cá tráp ánh vàng, dài độ chừng một inch rưỡi, mùi vị hao hao giống cá dory; và cả những đàn cá chuồn thoăn thoắt tựa những cánh nhạn biển chìm trong lòng đại dương. Vào những đêm tăm tối, chúng thắp sáng cả một vùng không gian và làn nước bằng thứ ánh sáng lân quang diệu kỳ. Lẫn trong các loài thân mềm và động vật hình cây, tôi tìm thấy giữa mắt lưới vài loài alcyonarian1, nhím biển, ốc búa, ốc gai, ốc mặt số, ốc sừng và cả hyallea2. Quần thể thực vật thì được đại diện bởi những loài rong biển nổi kiêu sa, tảo bẹ và macrocyste3, toàn thân ướt đẫm chất nhầy rịn ra từ các lỗ chân lông; và nổi bật trong số đó, tôi may mắn thu được một mẫu Nemastoma Geliniarois tuyệt mỹ, một kỳ quan thiên nhiên xứng đáng được cất giữ cẩn trọng trong các bảo tàng.
Hai ngày sau khi băng qua vùng biển san hô, vào ngày 4 tháng Một, bờ biển Papua dần hiện ra trong tầm mắt. Nhân lúc này, Thuyền trưởng Nemo mới thông báo với tôi rằng ngài dự định tiến thẳng vào Ấn Độ Dương thông qua Eo biển Torres. Cuộc trò chuyện của ngài chỉ vỏn vẹn có chừng ấy.
Eo biển Torres sở hữu bề ngang xấp xỉ ba mươi tư dặm biển; nhưng chặng đường lại bị bủa vây bởi vô số các hòn đảo lớn nhỏ, những bãi cạn và những rạn đá ngầm hiểm hóc, biến việc điều hướng trở thành một thử thách tưởng chừng bất khả thi; bởi lẽ đó, Thuyền trưởng Nemo đã phải thiết lập mọi biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt nhất để đưa tàu vượt qua. Tàu Nautilus, lơ lửng thăng bằng giữa làn nước, rẽ sóng với một tốc độ vừa phải. Chân vịt của tàu quạt vào sóng nước những nhịp chậm rãi, vững chãi tựa như chiếc đuôi khổng lồ của một con cá voi.
Nhân cơ hội hiếm hoi này, tôi cùng hai người bạn đồng hành bước lên boong tàu vắng lặng. Đứng sừng sững trước mặt chúng tôi là buồng lái, và tôi thầm đoán Thuyền trưởng Nemo đang túc trực trong đó để trực tiếp điều hướng cho tàu Nautilus. Trước mắt tôi trải ra những tấm bản đồ xuất sắc vẽ Eo biển Torres, và tôi say sưa ngâm cứu chúng. Bọc quanh tàu Nautilus, đại dương gầm gừ giận dữ. Sóng cuộn trào, ào ạt đổ từ đông nam sang tây bắc với vận tốc hai dặm rưỡi, va đập chát chúa vào những rạn san hô lởm chởm nhô lên khắp chốn.
"Quả là một vùng biển tồi tệ!" anh bạn Ned Land cất tiếng bình phẩm.
"Thực sự là một chốn hiểm ác, và chẳng lấy gì làm lý tưởng cho một con tàu như Nautilus."
"Thuyền trưởng hẳn phải nắm chắc lộ trình của mình như lòng bàn tay, bởi tôi thừa thấy ngoài kia lớp lớp rạn san hô đủ sức cào toạc sống tàu dù chỉ là một cú va chạm khẽ khàng nhất."
Tình thế quả thực vô cùng hung hiểm, ấy thế mà tàu Nautilus vẫn băng qua những khối đá ngầm sắc lẹm ấy một cách êm ái như có phép màu. Nó không đi theo chính xác tuyến đường mà hai con tàu Astrolabe và Zelee từng đi qua, bởi lộ trình ấy từng mang đến kết cục bi thảm cho Dumont d'Urville. Thay vào đó, con tàu bẻ lái chệch lên phía bắc, men theo dọc Quần đảo Murray, rồi đột ngột quay mũi về hướng tây nam, nhắm thẳng tới Cumberland Passage. Tôi đinh ninh nó sẽ băng qua eo biển ấy, cho đến khi, tàu lại ngoặt về hướng tây bắc, luồn lách qua vô vàn những hòn đảo và bãi đá ngầm vô danh, trực chỉ hướng Island Sound và Canal Mauvais4.
Tôi tự hỏi, phải chăng Thuyền trưởng Nemo đã quá đỗi liều lĩnh khi đánh cược con tàu của mình vào lối đi mà hai con tàu hộ tống của Dumont d'Urville năm xưa từng nếm mùi cay đắng; khi mà, lại một lần nữa bẻ lái, con tàu lao xé nước thẳng về phía tây, nhắm thẳng một đường đến Đảo Gilboa.
Đồng hồ điểm ba giờ chiều. Thủy triều vừa chạm mức triều cường thì bắt đầu chững lại rồi dần rút xuống. Tàu Nautilus đang tiến sát về phía hòn đảo; từ chỗ tôi đứng vẫn có thể chiêm ngưỡng hình bóng độc đáo của những rặng dứa dại viền quanh bờ. Con tàu đang chạy cách bờ chừng hai dặm. Đột nhiên, một chấn động dữ dội dội tới khiến tôi ngã nhào xuống sàn. Chiếc Nautilus vừa đâm sầm vào một dải đá ngầm. Nó nằm bất động, hơi nghiêng thân mình về phía mạn trái.
Lúc gượng đứng dậy được, tôi đã thấy thuyền trưởng Nemo cùng viên thuyền phó đứng trên boong. Họ đang xem xét tình trạng của con tàu và trao đổi với nhau bằng cái thứ phương ngữ đầy bí ẩn nọ.
Tình cảnh của con tàu lúc này quả thực không mấy khả quan. Cách hai dặm về mạn phải, đảo Gilboa hiện ra lừng lững, vươn dài từ hướng bắc sang hướng tây tựa như một cánh tay khổng lồ đang dang rộng. Về phía nam và phía đông, khi nước triều rút đi, những rạn san hô lởm chởm bắt đầu phơi mình lộ liễu. Chúng tôi đã mắc cạn. Tệ hơn nữa, chúng tôi lại mắc cạn ngay tại một vùng biển mà biên độ thủy triều chỉ ở mức trung bình-một bất lợi chí mạng cản trở sự nổi lên của con tàu Nautilus. May thay, con tàu dường như không hề hấn gì, bởi lẽ phần sống tàu đã được cấu trúc vô cùng vững chãi. Nhưng, nếu nó chẳng thể lướt đi hay lay chuyển được nữa, nguy cơ mãi mãi bị chôn chân giữa những rạn đá ngầm này là điều hiện hữu. Và nếu điều đó xảy ra, tuyệt tác tàu ngầm của thuyền trưởng Nemo coi như đến hồi cáo chung.
Trong lúc tôi đang miên man với những suy nghĩ u ám ấy, thì vị thuyền trưởng-với vẻ điềm tĩnh, lạnh lùng và luôn làm chủ mọi tình huống-đã bước đến cạnh tôi.
"Một tai nạn chăng?" tôi cất lời hỏi ngài.
"Không; chỉ là một sự cố mà thôi."
"Nhưng biết đâu sự cố này lại buộc ngài phải trở thành cư dân của chính cái thế giới đất liền mà ngài đang cố trốn chạy?"
Thuyền trưởng Nemo ném về phía tôi một ánh nhìn dò xét đầy kỳ lạ. Ngài khẽ xua tay từ chối, một cử chỉ dứt khoát như muốn ngầm khẳng định rằng, tuyệt nhiên chẳng có thế lực nào đủ sức ép ngài đặt chân lên bờ thêm một lần nào nữa. Rồi ngài cất giọng:
"Hơn nữa, ngài Aronnax, chiếc Nautilus chưa tiêu đời đâu; nó sẽ còn dẫn dắt ngài đi sâu vào giữa muôn vàn kỳ quan thẳm sâu của đại dương. Chuyến hành trình của chúng ta chỉ vừa mới bắt đầu, và tôi chẳng đời nào lại muốn tước đi niềm vinh hạnh được có ngài đồng hành sớm đến vậy."
"Dẫu thế, thuyền trưởng Nemo à," tôi đáp lời, chẳng màng bận tâm đến chút giọng điệu mỉa mai lẩn khuất trong câu nói của ngài, "tàu Nautilus đang mắc cạn ngay giữa biển khơi trống trải. Lực thủy triều ở Thái Bình Dương vốn chẳng hề mạnh mẽ; vậy nên, nếu ngài không tìm cách làm nhẹ thân tàu, tôi thực chẳng hiểu nổi ngài định làm cách nào để nó nổi lên được nữa."
"Thủy triều ở Thái Bình Dương không mạnh: ngài nói rất đúng, thưa Giáo sư. Nhưng tại eo biển Torres này, người bản địa vẫn thường ghi nhận mức chênh lệch xấp xỉ một mét rưỡi giữa lúc triều dâng và lúc triều rút. Hôm nay là ngày mùng bốn tháng Một, và chỉ năm ngày nữa thôi, trăng sẽ tròn. Giờ thì, tôi sẽ vô cùng kinh ngạc nếu cái vệ tinh vĩ đại ấy không chịu cất công nâng những khối nước kia lên đủ cao, ban cho tôi một đặc ân mà tôi nhất định sẽ ghi lòng tạc dạ."
Dứt lời, thuyền trưởng Nemo quay gót, theo sau là viên thuyền phó, họ cùng nhau bước xuống khoang trong của chiếc Nautilus. Còn con tàu, nó vẫn nằm im lìm phơi mình bất động, vững chãi tựa hồ đám polyp san hô đã xây tường gạch đá bao kín quanh nó bằng thứ xi măng vĩnh cửu của chúng vậy.
"Sao rồi, thưa ngài?" Ned Land lên tiếng hỏi ngay khi Thuyền trưởng vừa khuất bóng.
"Chà, anh bạn Ned ạ, chúng ta đành kiên nhẫn chờ đến kỳ thủy triều ngày mùng chín thôi; có vẻ như mặt trăng sẽ rủ lòng thương mà nhấc bổng con tàu này lên một lần nữa."
"Thật thế sao?"
"Hoàn toàn sự thật."
"Vậy Thuyền trưởng không định buông neo luôn cho chắc ăn, bởi thủy triều đằng nào cũng dư sức đẩy con tàu lên sao?" Conseil ngây ngô hỏi.
Người thợ săn gốc Canada liếc nhìn Conseil, đoạn nhún vai đáp:
"Thưa ngài, ngài cứ tin tôi đi, cái cục sắt gỉ này sẽ chẳng bao giờ lênh đênh trên mặt biển hay lặn ngụp dưới đại dương được nữa đâu. Giờ nó chỉ đáng đem bán đồng nát mà thôi. Thế nên, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nói lời tạm biệt với Thuyền trưởng Nemo rồi."
"Anh bạn Ned này, tôi không bi quan về con tàu Nautilus vững chãi này như anh đâu. Chỉ bốn ngày nữa thôi, chúng ta sẽ biết con nước Thái Bình Dương mang lại điều gì. Hơn nữa, ý định bỏ trốn họa chăng chỉ khả thi nếu trước mắt ta là bờ biển nước Anh hay duyên hải Provence; chứ giữa vùng biển Papua hoang sơ này lại là chuyện hoàn toàn khác. Cứ chờ xem, nếu chiếc Nautilus thực sự không thể tự cứu nổi mình - điều mà tôi cho là một tai họa tồi tệ - thì lúc đó ta tính đến hạ sách ấy vẫn còn kịp chán."
"Nhưng chí ít họ cũng phải biết cách lo xa chứ? Đằng kia là một hòn đảo; trên đảo có cây cối; dưới những tán cây ấy ắt hẳn có thú rừng, mang theo biết bao miếng sườn non và thịt nướng ngon lành mà tôi đang thèm nhỏ dãi đây."
"Về điểm này thì anh bạn Ned nói chí lý," Conseil lên tiếng phụ họa, "và tôi hoàn toàn tán thành. Liệu ngài có thể nài xin người bạn Thuyền trưởng Nemo của ngài cho phép chúng ta lên bờ một chuyến không? Dù chỉ là để đôi chân này không quên mất cảm giác bước đi trên lớp đất đá của hành tinh chúng ta?"
"Tôi có thể mở lời, nhưng e rằng ngài ấy sẽ cự tuyệt."
"Ngài cứ thử vận may xem sao," Conseil khẩn khoản, "như vậy chúng ta cũng sẽ đo lường được lòng thiện chí của Thuyền trưởng đến đâu."
Trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, Thuyền trưởng Nemo lại ân chuẩn lời thỉnh cầu ấy một cách vô cùng dễ dãi. Ngài đồng ý ngay tức lự mà chẳng thèm đòi hỏi tôi phải thề thốt sẽ quay lại tàu. Dẫu vậy, việc băng qua miền New Guinea để tẩu thoát mang quá nhiều rủi ro, và tôi quyết không xúi giục Ned Land làm liều. Thà làm thân tù nhân trên chiếc Nautilus này còn hơn sa vào tay đám thổ dân man rợ.
Đúng tám giờ sáng, mang theo súng và rìu, chúng tôi rời khỏi con tàu Nautilus. Mặt biển tĩnh lặng; một làn gió mơn man thổi từ phía bờ. Conseil và tôi đảm nhận nhịp chèo, đưa con thuyền rẽ sóng lướt nhanh, trong khi Ned vững vàng cầm lái lách qua lối đi hẹp nằm kẹp giữa những rạn san hô. Dưới sự điều khiển điêu luyện, chiếc thuyền lướt đi băng băng trên mặt nước.
Ned Land khó lòng kìm nén được niềm hân hoan tột độ. Trông anh chẳng khác nào một kẻ tù nhân vừa vượt ngục thành công, hoàn toàn mờ mắt trước viễn cảnh sớm muộn gì cũng phải quay trở lại chốn ngục tù.
"Thịt! Chúng ta sắp được ăn thịt rồi; và sẽ là thứ thịt tuyệt hảo nhất trần đời!" anh hân hoan reo lên. "Thịt rừng thực thụ! À không, chắc chắn sẽ ngon lành tựa như bánh mì vậy."
"Tôi chẳng hề nói cá không ngon; dẫu rằng chúng ta không nên lạm dụng quá nhiều; thế nhưng một tảng thịt nai tươi rói, xèo xèo nướng trên than hồng, hẳn sẽ là một sự đổi vị tuyệt diệu cho những bữa ăn vốn đã quá đỗi quen thuộc của chúng ta."
"Cái đồ phàm ăn này!" Conseil trêu chọc, "anh làm tôi cũng phải ứa nước dãi ra rồi đây."
"Vẫn còn phải xem đã," tôi lên tiếng, "liệu những cánh rừng kia có dồi dào thú săn hay không, và biết đâu đấy, chính những con thú ấy lại trở thành kẻ săn mồi đi tìm người thợ săn thì sao."
"Ngài nói chí phải, thưa ngài Aronnax," người thợ săn Canada đáp lời, hai hàm răng của anh chàng có vẻ sắc lẻm tựa như lưỡi rìu; "nhưng tôi thà xơi thịt hổ - một miếng thăn hổ - còn hơn, nếu hòn đảo này chẳng bói ra được một loài thú bốn chân nào khác."
"Anh bạn Ned lại bắt đầu nóng lòng rồi kìa," Conseil xen vào.
"Bất kể là con gì đi chăng nữa," Ned Land quả quyết, "mọi giống loài bốn chân không mang lông vũ, hay những sinh vật hai chân không mọc lông vũ, đều sẽ được chào đón nồng nhiệt bằng phát súng đầu tiên của tôi."
"Tuyệt thật! Cái thói liều lĩnh của anh Ned lại bắt đầu trỗi dậy rồi đấy," tôi cảm thán.
"Xin ngài đừng bận tâm, thưa ngài Aronnax," người thợ săn Canada tự tin đáp trả; "chưa đầy hai mươi lăm phút nữa, tôi sẽ bày ra cho ngài một món ăn thịnh soạn theo đúng phong cách của tôi."
Đúng tám giờ rưỡi, chiếc thuyền con của tàu Nautilus trượt êm ái lên một dải cát dày, sau khi đã may mắn lách qua vòng cung san hô bao bọc quanh đảo Gilboa.
-
Một bộ san hô mềm có cấu trúc linh hoạt và hình dáng đa dạng như cành cây hay rẻ quạt, khác biệt với các loại san hô tạo rạn có bộ xương canxi cứng cáp. ↩
-
Một nhóm ốc biển phù du (thường được gọi là bướm biển) có lớp vỏ mỏng trong suốt, bơi lội tự do trong nước bằng hai cấu trúc mở rộng giống như đôi cánh. ↩
-
Tảo bẹ khổng lồ (Macrocystis), một chi tảo nâu khổng lồ có thể vươn dài hàng chục mét và tạo thành những thảm thực vật rậm rạp dưới đáy biển. ↩
-
Địa danh tiếng Pháp mang nghĩa là "Lạch Xấu" hay "Eo biển Nguy hiểm", do nhà thám hiểm Dumont d'Urville đặt tên để phản ánh sự hiểm trở, đầy rạn san hô và dòng chảy xiết của lối đi này. ↩
CHAPTER XIX TORRES STRAITS
During the night of the 27th or 28th of December, the Nautilus left the shores of Vanikoro with great speed. Her course was south-westerly, and in three days she had gone over the 750 leagues that separated it from La Perouse’s group and the south-east point of Papua.
Early on the 1st of January, 1863, Conseil joined me on the platform.
“Master, will you permit me to wish you a happy New Year?”
“What! Conseil; exactly as if I was at Paris in my study at the Jardin des Plantes? Well, I accept your good wishes, and thank you for them. Only, I will ask you what you mean by a ‘Happy New Year’ under our circumstances? Do you mean the year that will bring us to the end of our imprisonment, or the year that sees us continue this strange voyage?”
“Really, I do not know how to answer, master. We are sure to see curious things, and for the last two months we have not had time for dullness. The last marvel is always the most astonishing; and, if we continue this progression, I do not know how it will end. It is my opinion that we shall never again see the like. I think then, with no offence to master, that a happy year would be one in which we could see everything.”
On 2nd January we had made 11,340 miles, or 5,250 French leagues, since our starting-point in the Japan Seas. Before the ship’s head stretched the dangerous shores of the coral sea, on the north-east coast of Australia. Our boat lay along some miles from the redoubtable bank on which Cook’s vessel was lost, 10th June, 1770. The boat in which Cook was struck on a rock, and, if it did not sink, it was owing to a piece of coral that was broken by the shock, and fixed itself in the broken keel.
I had wished to visit the reef, 360 leagues long, against which the sea, always rough, broke with great violence, with a noise like thunder. But just then the inclined planes drew the Nautilus down to a great depth, and I could see nothing of the high coral walls. I had to content myself with the different specimens of fish brought up by the nets. I remarked, among others, some germons, a species of mackerel as large as a tunny, with bluish sides, and striped with transverse bands, that disappear with the animal’s life.
These fish followed us in shoals, and furnished us with very delicate food. We took also a large number of gilt-heads, about one and a half inches long, tasting like dorys; and flying pyrapeds like submarine swallows, which, in dark nights, light alternately the air and water with their phosphorescent light. Among the molluscs and zoophytes, I found in the meshes of the net several species of alcyonarians, echini, hammers, spurs, dials, cerites, and hyalleae. The flora was represented by beautiful floating seaweeds, laminariae, and macrocystes, impregnated with the mucilage that transudes through their pores; and among which I gathered an admirable Nemastoma Geliniarois, that was classed among the natural curiosities of the museum.
Two days after crossing the coral sea, 4th January, we sighted the Papuan coasts. On this occasion, Captain Nemo informed me that his intention was to get into the Indian Ocean by the Strait of Torres. His communication ended there.
The Torres Straits are nearly thirty-four leagues wide; but they are obstructed by an innumerable quantity of islands, islets, breakers, and rocks, that make its navigation almost impracticable; so that Captain Nemo took all needful precautions to cross them. The Nautilus, floating betwixt wind and water, went at a moderate pace. Her screw, like a cetacean’s tail, beat the waves slowly.
Profiting by this, I and my two companions went up on to the deserted platform. Before us was the steersman’s cage, and I expected that Captain Nemo was there directing the course of the Nautilus. I had before me the excellent charts of the Straits of Torres, and I consulted them attentively. Round the Nautilus the sea dashed furiously. The course of the waves, that went from south-east to north-west at the rate of two and a half miles, broke on the coral that showed itself here and there.
“This is a bad sea!” remarked Ned Land.
“Detestable indeed, and one that does not suit a boat like the Nautilus.”
“The Captain must be very sure of his route, for I see there pieces of coral that would do for its keel if it only touched them slightly.”
Indeed the situation was dangerous, but the Nautilus seemed to slide like magic off these rocks. It did not follow the routes of the Astrolabe and the Zelee exactly, for they proved fatal to Dumont d’Urville. It bore more northwards, coasted the Islands of Murray, and came back to the south-west towards Cumberland Passage. I thought it was going to pass it by, when, going back to north-west, it went through a large quantity of islands and islets little known, towards the Island Sound and Canal Mauvais.
I wondered if Captain Nemo, foolishly imprudent, would steer his vessel into that pass where Dumont d’Urville’s two corvettes touched; when, swerving again, and cutting straight through to the west, he steered for the Island of Gilboa.
It was then three in the afternoon. The tide began to recede, being quite full. The Nautilus approached the island, that I still saw, with its remarkable border of screw-pines. He stood off it at about two miles distant. Suddenly a shock overthrew me. The Nautilus just touched a rock, and stayed immovable, laying lightly to port side.
When I rose, I perceived Captain Nemo and his lieutenant on the platform. They were examining the situation of the vessel, and exchanging words in their incomprehensible dialect.
She was situated thus: Two miles, on the starboard side, appeared Gilboa, stretching from north to west like an immense arm. Towards the south and east some coral showed itself, left by the ebb. We had run aground, and in one of those seas where the tides are middling-a sorry matter for the floating of the Nautilus. However, the vessel had not suffered, for her keel was solidly joined. But, if she could neither glide off nor move, she ran the risk of being for ever fastened to these rocks, and then Captain Nemo’s submarine vessel would be done for.
I was reflecting thus, when the Captain, cool and calm, always master of himself, approached me.
“An accident?” I asked.
“No; an incident.”
“But an incident that will oblige you perhaps to become an inhabitant of this land from which you flee?”
Captain Nemo looked at me curiously, and made a negative gesture, as much as to say that nothing would force him to set foot on terra firma again. Then he said:
“Besides, M. Aronnax, the Nautilus is not lost; it will carry you yet into the midst of the marvels of the ocean. Our voyage is only begun, and I do not wish to be deprived so soon of the honour of your company.”
“However, Captain Nemo,” I replied, without noticing the ironical turn of his phrase, “the Nautilus ran aground in open sea. Now the tides are not strong in the Pacific; and, if you cannot lighten the Nautilus, I do not see how it will be reinflated.”
“The tides are not strong in the Pacific: you are right there, Professor; but in Torres Straits one finds still a difference of a yard and a half between the level of high and low seas. To-day is 4th January, and in five days the moon will be full. Now, I shall be very much astonished if that satellite does not raise these masses of water sufficiently, and render me a service that I should be indebted to her for.”
Having said this, Captain Nemo, followed by his lieutenant, re-descended to the interior of the Nautilus. As to the vessel, it moved not, and was immovable, as if the coralline polypi had already walled it up with their indestructible cement.
“Well, sir?” said Ned Land, who came up to me after the departure of the Captain.
“Well, friend Ned, we will wait patiently for the tide on the 9th instant; for it appears that the moon will have the goodness to put it off again.”
“Really?”
“Really.”
“And this Captain is not going to cast anchor at all since the tide will suffice?” said Conseil, simply.
The Canadian looked at Conseil, then shrugged his shoulders.
“Sir, you may believe me when I tell you that this piece of iron will navigate neither on nor under the sea again; it is only fit to be sold for its weight. I think, therefore, that the time has come to part company with Captain Nemo.”
“Friend Ned, I do not despair of this stout Nautilus, as you do; and in four days we shall know what to hold to on the Pacific tides. Besides, flight might be possible if we were in sight of the English or Provencal coast; but on the Papuan shores, it is another thing; and it will be time enough to come to that extremity if the Nautilus does not recover itself again, which I look upon as a grave event.”
“But do they know, at least, how to act circumspectly? There is an island; on that island there are trees; under those trees, terrestrial animals, bearers of cutlets and roast beef, to which I would willingly give a trial.”
“In this, friend Ned is right,” said Conseil, “and I agree with him. Could not master obtain permission from his friend Captain Nemo to put us on land, if only so as not to lose the habit of treading on the solid parts of our planet?”
“I can ask him, but he will refuse.”
“Will master risk it?” asked Conseil, “and we shall know how to rely upon the Captain’s amiability.”
To my great surprise, Captain Nemo gave me the permission I asked for, and he gave it very agreeably, without even exacting from me a promise to return to the vessel; but flight across New Guinea might be very perilous, and I should not have counselled Ned Land to attempt it. Better to be a prisoner on board the Nautilus than to fall into the hands of the natives.
At eight o’clock, armed with guns and hatchets, we got off the Nautilus. The sea was pretty calm; a slight breeze blew on land. Conseil and I rowing, we sped along quickly, and Ned steered in the straight passage that the breakers left between them. The boat was well handled, and moved rapidly.
Ned Land could not restrain his joy. He was like a prisoner that had escaped from prison, and knew not that it was necessary to re-enter it.
“Meat! We are going to eat some meat; and what meat!” he replied. “Real game! no, bread, indeed.”
“I do not say that fish is not good; we must not abuse it; but a piece of fresh venison, grilled on live coals, will agreeably vary our ordinary course.”
“Glutton!” said Conseil, “he makes my mouth water.”
“It remains to be seen,” I said, “if these forests are full of game, and if the game is not such as will hunt the hunter himself.”
“Well said, M. Aronnax,” replied the Canadian, whose teeth seemed sharpened like the edge of a hatchet; “but I will eat tiger-loin of tiger-if there is no other quadruped on this island.”
“Friend Ned is uneasy about it,” said Conseil.
“Whatever it may be,” continued Ned Land, “every animal with four paws without feathers, or with two paws without feathers, will be saluted by my first shot.”
“Very well! Master Land’s imprudences are beginning.”
“Never fear, M. Aronnax,” replied the Canadian; “I do not want twenty-five minutes to offer you a dish, of my sort.”
At half-past eight the Nautilus boat ran softly aground on a heavy sand, after having happily passed the coral reef that surrounds the Island of Gilboa.