CHƯƠNG XI: TẤT CẢ ĐỀU BẰNG ĐIỆN NĂNG

“Thưa ngài,” Thuyền trưởng Nemo cất lời, chỉ tay vào những thiết bị treo trên vách phòng, “đây là những khí cụ cần thiết để lèo lái con tàu Nautilus. Cũng hệt như ngoài phòng khách, tôi luôn đặt chúng ngay trong tầm mắt. Chúng chỉ cho tôi chính xác vị trí cũng như hải trình giữa đại dương. Hẳn ngài đã quen thuộc với vài món trong số này. Chẳng hạn như nhiệt kế để đo nhiệt độ bên trong tàu Nautilus; hay phong vũ biểu, giúp đo áp suất không khí và dự báo những biến chuyển của tiết trời. Rồi còn ẩm kế để đo độ ẩm của bầu khí quyển; và cả kính dự báo bão - thứ dung dịch bên trong nó mỗi khi vẩn đục sẽ là điềm báo cho những trận cuồng phong đang kéo tới. La bàn thì chỉ lối dẫn đường cho tôi; kính lục phân mượn độ cao của mặt trời mà định vị vĩ độ; còn đồng hồ hàng hải giúp tôi tính toán kinh độ chuẩn xác. Thêm vào đó là những ống kính viễn vọng chuyên dụng cho cả ngày lẫn đêm, thứ tôi vẫn dùng để quét quanh đường chân trời mỗi bận Nautilus ngoi lên mặt nước.”

“Đấy đều là những khí cụ hàng hải quen thuộc,” tôi đáp lời, “và tôi cũng biết cách sử dụng chúng. Nhưng hẳn là những thiết bị còn lại kia được thiết kế để phục vụ cho các nhu cầu đặc thù của chiếc Nautilus. Mặt đồng hồ với cây kim không ngừng dao động này là một áp kế, có phải vậy không?”

“Quả đúng là một áp kế. Nhưng khi được kết nối trực tiếp với dòng nước, nó sẽ đo lường áp suất bên ngoài, đồng thời cũng hé lộ cho chúng ta biết con tàu đang lặn sâu ở mức nào.”

“Thế còn những dụng cụ kia, tôi không đoán được công năng của chúng?”

“Về điểm này, thưa Giáo sư, tôi sẽ giải thích một chút. Ngài có bằng lòng lắng nghe tôi chăng?”

Ngài im lặng vài giây, rồi nói:

"Có một nguồn năng lượng mạnh mẽ, ngoan ngoãn, mau lẹ, dễ dàng điều khiển và đáp ứng được mọi nhu cầu, giữ vai trò chủ chốt trên con tàu của tôi. Mọi hoạt động đều nhờ cậy vào nó. Nó thắp sáng, sưởi ấm không gian, và là động lực vận hành toàn bộ hệ thống máy móc. Thứ năng lượng đó chính là điện."

"Điện sao?" tôi kinh ngạc thốt lên.

"Đúng vậy, thưa ngài."

"Nhưng thưa Thuyền trưởng, ngài đang nắm giữ một tốc độ di chuyển cực lớn, điều vốn không tương xứng với sức mạnh của điện năng. Cho đến nay, sức mạnh động lực học của nó vẫn còn nhiều hạn chế và mới chỉ tạo ra một nguồn lực nhỏ bé."

"Thưa Giáo sư," thuyền trưởng Nemo đáp, "điện của tôi không giống với thứ điện mà thế giới đang dùng. Ngài hẳn đã tỏ tường cấu tạo của nước biển. Trong một nghìn gram nước biển, lượng nước chiếm tới 96,5%, và khoảng hơn 2,6% là natri clorua; phần còn lại là những vi lượng như magie clorua, kali clorua, magie bromua, magie sunfat, cùng với canxi sunfat và canxi cacbonat. Như ngài thấy đấy, lượng natri clorua chiếm một tỉ trọng rất lớn. Chính nguồn natri dồi dào này được tôi chiết xuất trực tiếp từ đại dương để làm nguyên liệu vận hành. Tôi nhờ cậy biển cả về tất cả mọi thứ; đại dương sinh ra điện, và điện lại cung cấp nhiệt năng, ánh sáng cùng sự chuyển động. Tóm lại, điện truyền sự sống cho con tàu Nautilus."

"Nhưng nó không tạo ra không khí để ngài hít thở sao?"

"Ồ! Tôi có thể tự sản xuất lượng không khí mình cần, nhưng việc đó không cần thiết, bởi tôi luôn có thể ngoi lên mặt nước bất cứ khi nào tôi muốn. Dù điện không trực tiếp cung cấp không khí để hít thở, nó lại vận hành những cỗ máy bơm mạnh mẽ để nén không khí vào các bể chứa đặc biệt, cho phép tôi kéo dài thời gian lặn dưới đáy biển bao lâu tùy ý. Điện còn mang tới một nguồn sáng đồng đều và liên tục, điều mà ánh sáng mặt trời không có được. Ngài hãy nhìn chiếc đồng hồ này xem; nó chạy bằng điện, và chuyển động của nó đều đặn hơn cả những chiếc đồng hồ hàng hải tinh xảo nhất. Tôi đã chia mặt số thành hai mươi bốn giờ, hệt như những chiếc đồng hồ ở nước Ý1, bởi lẽ nơi đây với tôi chẳng hề tồn tại ngày hay đêm, chẳng có mặt trời hay mặt trăng, mà chỉ duy nhất một nguồn sáng nhân tạo theo tôi xuống tận những tầng biển sâu. Ngài nhìn xem! Ngay lúc này, kim đồng hồ đang chỉ đúng mười giờ sáng."

"Hoàn toàn chính xác."

"Đó chỉ là một ứng dụng khác của điện năng. Chiếc mặt số treo ngay trước mặt chúng ta đây dùng để đo tốc độ của tàu Nautilus. Một sợi dây điện nối liền nó với chân vịt, và chiếc kim sẽ chỉ báo chính xác tốc độ thực tế. Ngài xem! Ngay lúc này, chúng ta đang rẽ sóng với vận tốc đều đặn mười lăm dặm một giờ."

"Thật là một điều kỳ diệu! Và tôi nhận ra rằng, thưa Thuyền trưởng, ngài đã rất đúng khi dùng nguồn năng lượng này để thay thế cho cả sức gió, sức nước và hơi nước."

“Chúng ta vẫn chưa xem xong đâu, ngài Aronnax,” Thuyền trưởng Nemo đứng dậy và cất lời. “Nếu ngài vui lòng đi theo tôi, chúng ta sẽ cùng khám phá phần đuôi của chiếc tàu Nautilus.”

Quả thực, tôi đã tường tận phần trước của chiếc tàu ngầm này với tỷ lệ phân chia vô cùng chuẩn xác, tính từ mũi tàu như sau: phòng ăn dài năm thước Anh, cách biệt với thư viện bằng một vách ngăn chống nước; thư viện cũng dài năm thước Anh; phòng khách thênh thang dài mười thước, ngăn cách với phòng Thuyền trưởng bằng một vách chống nước thứ hai; phòng của ngài Thuyền trưởng dài năm thước; phòng tôi dài hai thước rưỡi; và cuối cùng là một bể chứa không khí dài bảy thước rưỡi, trải dài đến tận mũi tàu. Tổng chiều dài đo được là ba mươi lăm thước Anh, tức một trăm lẻ năm feet. Những vách ngăn này đều được trang bị cửa đóng kín mít bằng các tấm cao su, đảm bảo chiếc Nautilus luôn an toàn tuyệt đối ngay cả trong trường hợp bị rò rỉ nước.

Tôi bước theo Thuyền trưởng Nemo băng qua khoang giữa để tiến đến khu vực trung tâm con tàu. Ngay tại đó, một cái giếng mở ra giữa hai vách ngăn. Một chiếc thang sắt, đính chặt vào vách bằng một chiếc móc sắt, dẫn thẳng lên phía trên. Tôi cất tiếng hỏi Thuyền trưởng xem chiếc thang này dẫn đi đâu.

“Nó dẫn lên một chiếc thuyền con,” ngài đáp.

“Cái gì! Ngài có cả một chiếc thuyền nữa sao?” tôi thốt lên kinh ngạc.

“Tất nhiên rồi; đó là một chiếc thuyền tuyệt hảo, nhẹ bẫng và không tài nào chìm nổi, cốt để phục vụ những chuyến câu cá hay dạo chơi ngoạn cảnh.”

“Vậy thì mỗi khi muốn bước lên thuyền, ngài buộc phải đưa tàu nổi lên mặt nước chứ?”

“Không hề. Chiếc thuyền này gắn vào phần thân trên của vỏ tàu Nautilus và nằm trong một khoang chứa riêng biệt. Nó có boong tàu, hoàn toàn kín nước, và được siết chặt bằng những bu lông vững chắc. Chiếc thang ngài thấy dẫn lên một nắp hầm trên vỏ tàu Nautilus, vừa vặn ăn khớp với một lỗ hổng tương tự nằm bên mạn thuyền. Xuyên qua hai cửa nắp thông nhau ấy, tôi dễ dàng bước vào chiếc thuyền con. Thủy thủ đoàn sẽ đóng nắp hầm của tàu Nautilus lại; còn tôi tự tay khóa kín nắp hầm bên thuyền bằng ốc siết. Chỉ cần tháo các bu lông ra, chiếc thuyền sẽ nổi lên mặt biển với một tốc độ cực nhanh. Đến khi đó, tôi mới mở tấm nắp boong vốn luôn được chốt chặt cẩn thận từ trước. Tôi dựng cột buồm, kéo căng cánh buồm, nắm lấy mái chèo, và cứ thế khởi hành.”

“Thế nhưng ngài quay lại tàu bằng cách nào?”

“Tôi không quay lại, ngài Aronnax ạ; tàu Nautilus sẽ đến chỗ tôi.”

“Tuân theo lệnh của ngài sao?”

“Theo lệnh của tôi. Một sợi cáp điện nối liền chúng tôi. Tôi chỉ việc đánh đi một bức điện báo, thế là đủ.”

“Thật vậy sao,” tôi thốt lên, sững sờ trước những điều diệu kỳ ấy, “chẳng có cách nào đơn giản hơn thế nữa.”

Vượt qua vòm cầu thang dẫn lên boong, tôi bắt gặp một căn buồng dài chừng sáu feet. Bên trong, Conseil và Ned Land đang ngấu nghiến dùng bữa. Kế đó, một cánh cửa mở ra, dẫn thẳng vào gian bếp dài chín feet nằm giữa những khoang chứa đồ rộng rãi. Tại đây, điện năng vận hành tốt hơn cả khí đốt cho việc nấu nướng. Dưới các bệ lò, những luồng điện truyền tới các tấm xốp bạch kim một nguồn nhiệt lượng luôn được duy trì và phân bổ chuẩn xác. Không chỉ vậy, điện năng còn đun nóng một hệ thống chưng cất, và qua quá trình bay hơi, nó chiết xuất ra nguồn nước ngọt tuyệt hảo. Ngay sát gian bếp là một phòng tắm tiện nghi, luôn sẵn sàng với hai vòi nước nóng lạnh.

Liền kề khu bếp là buồng ngủ dài mười sáu feet dành cho thủy thủ đoàn. Thế nhưng, cánh cửa phòng đã đóng. Tôi không thể quan sát cách bài trí bên trong để đoán xem con tàu Nautilus này cần đến bao nhiêu nhân lực vận hành.

Dưới cùng là bức vách ngăn thứ tư, ranh giới phân tách khu vực này với buồng máy. Cánh cửa mở ra. Tôi bước qua và thấy mình đang đứng giữa một gian phòng ngập tràn ánh sáng. Nơi đây, Thuyền trưởng Nemo - hẳn phải là một kỹ sư tài ba - đã tự mình thiết kế hệ thống cơ khí động lực cho con tàu. Không gian buồng máy kéo dài chừng sáu mươi lăm feet, được chia làm hai khu vực phân biệt. Nửa đầu tiên chứa các cỗ máy sản sinh điện năng; nửa còn lại là hệ thống truyền động kết nối trực tiếp với trục chân vịt. Đầy hứng thú, tôi quan sát mọi thứ xung quanh, tìm hiểu cơ chế vận hành của chiếc Nautilus.

"Như ngài thấy đấy," Thuyền trưởng bắt đầu giải thích, "tôi chọn dùng các bình điện của Bunsen2 thay vì của Ruhmkorff. Thiết bị của Ruhmkorff3 sẽ không thể cung cấp sức mạnh mà tôi cần. Bình điện của Bunsen dẫu ít về số lượng nhưng lại to lớn và mạnh mẽ hơn; thực tiễn đã chứng minh đó là sự lựa chọn tối ưu. Điện năng sinh ra được dẫn truyền lên phía trước. Tại đó, dòng điện chạy qua những khối nam châm điện khổng lồ, tác động lên một hệ thống đòn bẩy và bánh răng tinh vi để truyền động lực tới trục chân vịt. Bánh chân vịt khổng lồ này, với đường kính mười chín feet và bước xoắn đạt hai mươi ba feet, có thể xoay nhịp nhàng một trăm hai mươi vòng mỗi giây."

"Với sức mạnh ấy, ngài đạt tới tốc độ bao nhiêu?"

"Năm mươi dặm một giờ."

"Tôi từng chứng kiến con tàu Nautilus xoay xở trước mũi tàu Abraham Lincoln, và tôi cũng có đánh giá riêng về vận tốc của nó. Nhưng chỉ sức mạnh thôi thì chưa đủ. Chúng ta cần phải thấy được hướng đi. Phải có khả năng điều hướng con tàu sang trái, qua phải, lặn xuống hay nổi lên. Làm thế nào ngài có thể đưa nó chìm xuống những vùng sâu nhất của đại dương, nơi ngài phải chịu đựng sức cản gia tăng được tính bằng hàng trăm đơn vị áp suất khí quyển? Làm thế nào ngài đưa nó trở lại mặt nước? Và bằng cách nào ngài duy trì được trạng thái cân bằng giữa một môi trường như thế? Liệu tôi có đang hỏi quá nhiều không?"

"Không đâu, thưa Giáo sư," Thuyền trưởng đáp, sau một thoáng ngập ngừng. "Bởi lẽ ngài sẽ không bao giờ rời khỏi con tàu này nữa. Xin mời ngài trở lại phòng khách, nơi làm việc của chúng ta. Tại đó, tôi sẽ giải thích mọi điều ngài muốn biết về chiếc Nautilus."



  1. Vào thế kỷ 19, hệ thống tính giờ ở Ý sử dụng mặt đồng hồ chia thành 24 giờ thay vì 12 giờ (AM và PM) như ở phần lớn châu Âu. Thuyền trưởng Nemo dùng hệ thống này vì con tàu hoạt động hoàn toàn độc lập với chu kỳ ngày đêm trên mặt đất. ↩

  2. Pin Bunsen (do nhà hóa học người Đức Robert Bunsen phát minh năm 1841) là một loại pin điện hóa phổ biến ở thế kỷ 19. Nó có khả năng tạo ra dòng điện lớn và ổn định, thích hợp để làm nguồn cung cấp động năng chính. ↩

  3. Ám chỉ cuộn cảm Ruhmkorff (phát minh bởi Heinrich Ruhmkorff năm 1851), một loại thiết bị điện từ có khả năng tạo ra điện áp rất cao nhưng dòng điện sinh ra lại yếu, do đó không thể cung cấp đủ sức mạnh để vận hành hệ thống chân vịt khổng lồ của tàu. ↩