CHƯƠNG XVII: BỐN NGÀN DẶM DƯỚI ĐÁY THÁI BÌNH DƯƠNG
Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 11, tôi đã hoàn toàn rũ bỏ được bao mệt nhọc của ngày hôm trước. Bước lên boong tàu, tôi vừa vặn nghe thấy viên thuyền phó cất lên câu nói quen thuộc như mọi ngày.
Giữa lúc tôi đang say sưa chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của đại dương, Thuyền trưởng Nemo lặng lẽ xuất hiện. Dường như chẳng mảy may bận tâm đến sự hiện diện của tôi, ngài bắt tay vào thực hiện một loạt các quan trắc thiên văn. Xong xuôi đâu đấy, ngài chậm rãi bước tới, tựa mình vào lồng đèn pha, lơ đãng phóng ánh nhìn xa xăm ra mặt biển bao la. Cùng lúc đó, vài thủy thủ của con tàu Nautilus - tất thảy đều là những người đàn ông vạm vỡ và cường tráng - nối gót nhau bước lên boong. Họ đến để kéo lên những tấm lưới đã được giăng mắc suốt đêm qua. Đám thủy thủ này rõ ràng mang gốc gác từ nhiều quốc gia khác nhau, dẫu nét đặc trưng của người châu Âu vẫn in hằn trên từng gương mặt. Tôi dễ dàng nhận ra vài người Ireland với dáng vẻ không thể nhầm lẫn, những người Pháp, vài người Slav, và cả một người Hy Lạp hay có lẽ là người xứ Candia1. Họ đối đãi với nhau bằng thái độ lịch thiệp, nhưng lại chỉ giao tiếp qua cái thứ ngôn ngữ kỳ lạ nọ, thứ ngôn ngữ mà tôi đành bất lực chẳng thể đoán định nổi cội nguồn, và cũng không tài nào dò hỏi họ được.
Những tấm lưới rốt cuộc cũng được kéo lên. Đó là một loại lưới rà cỡ lớn, mang bóng dáng của loại lưới ngư dân vẫn thường dùng dọc bờ biển Normandy. Những chiếc túi lưới khổng lồ này luôn được giữ cho mở rộng thênh thang nhờ sức ép của những con sóng lớn và một sợi xích sắt đính viền quanh các mắt lưới nhỏ hơn. Dưới sức kéo của những thanh đòn bằng sắt, chúng càn lướt qua từng làn nước, thu gom trọn vẹn mọi thứ vô tình ngáng đường. Hôm ấy, mẻ lưới đã cất lên vô vàn những mẫu vật kỳ dị từ vùng biển trù phú này.
Tôi ước chừng mẻ lưới hẳn đã thu về hơn bốn trăm rưỡi ki-lô-gam cá. Quả là một chiến lợi phẩm tuyệt hảo, dẫu điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Thực tình mà nói, họ đã thả lưới dưới đáy nước ròng rã suốt nhiều giờ đồng hồ, gom vào từng mắt lưới vô số các sinh thể muôn hình vạn trạng. Nguồn lương thực thượng hạng của chúng tôi vốn chẳng bao giờ vơi cạn, bởi lẽ tốc độ kinh hồn của chiếc Nautilus quyện hòa cùng sức mê hoặc của luồng ánh sáng điện luôn đủ sức lấp đầy lại kho dự trữ bất cứ khi nào. Ngay tắp lự, những sản vật tươi rói này của biển cả được trút qua cửa hầm, chuyển thẳng xuống khoang của viên quản lý thức ăn; một phần để dùng ngay khi còn tươi ngon, phần còn lại được đem đi muối chua cất trữ.
Việc đánh bắt kết thúc, nguồn dưỡng khí đã được thay mới. Tôi đinh ninh chiếc Nautilus sắp sửa tiếp tục chuyến du hành dưới đáy biển. Đang rục rịch quay về phòng riêng, thì đột nhiên, chẳng hề rào đón, Thuyền trưởng quay sang tôi cất lời:
"Thưa ngài Giáo sư, chẳng phải đại dương này mang trong mình một sức sống thực thụ sao? Nó cũng biết nổi giận và cũng biết dịu dàng. Hôm qua nó đã say giấc hệt như chúng ta, và giờ đây nó vừa choàng tỉnh sau một đêm tĩnh lặng. Ngài nhìn xem!" ngài nói tiếp, "nó vươn mình thức giấc dưới sự vỗ về của ánh dương. Nó sắp sửa bắt đầu lại nhịp đập thường nhật. Thật là một nghiên cứu đầy lý thú khi được quan sát sự vận hành của cơ thể khổng lồ này. Nó có nhịp đập, có động mạch, có những cơn co thắt; và tôi hoàn toàn đồng tình với nhà bác học Maury2, người đã khám phá ra ở nó một hệ tuần hoàn thực sự, chẳng khác nào sự tuần hoàn máu trong cơ thể sinh vật.
"Đúng vậy, đại dương thực sự có sự tuần hoàn, và để thúc đẩy nhịp sống đó, Đấng Tạo Hóa đã ban cho nó vạn vật sinh sôi nảy nở-nhiệt lượng, muối, và cả những vi sinh vật nhỏ bé nhất."
Khi cất lên những lời này, Thuyền trưởng Nemo dường như lột xác thành một con người hoàn toàn khác, khơi dậy trong tôi một niềm xúc động lạ thường.
"Hơn nữa," ngài nói thêm, "sự tồn tại đích thực chính là ở đó; và tôi có thể mường tượng ra nền móng của những thị trấn dưới nước, những quần thể nhân loại dưới đáy biển sâu thẳm, mà giống như chiếc Nautilus này, sẽ trồi lên mặt nước mỗi bình minh để hít thở khí trời. Đó sẽ là những thị trấn tự do, những thành bang hoàn toàn độc lập. Thế nhưng, ai mà biết được liệu một kẻ bạo chúa nào đó--"
Thuyền trưởng Nemo bỏ lửng câu nói bằng một cử chỉ đầy dữ dội. Sau đó, ngài quay sang tôi, dường như muốn rũ bỏ một ý nghĩ xót xa nào đó đang ám ảnh tâm trí:
"Ngài Aronnax," ngài hỏi, "ngài có nắm được độ sâu của đại dương không?"
"Thưa ngài Thuyền trưởng, tôi chỉ biết những gì mà các cuộc đo sâu chính thức đã công bố."
"Ngài có thể nói cho tôi nghe được không? Để tôi xem những số liệu đó có phù hợp với mục đích của mình không."
"Đây là một vài con số," tôi đáp, "mà tôi còn nhớ được. Nếu tôi không nhầm, người ta đã đo được độ sâu 8.000 thước ở Bắc Đại Tây Dương, và 2.500 thước ở Địa Trung Hải. Những cuộc đo sâu đáng chú ý nhất từng được thực hiện ở Nam Đại Tây Dương, gần vĩ tuyến ba mươi lăm, cho kết quả 12.000 thước, 14.000 thước, và 15.000 thước. Tóm lại, người ta ước tính rằng nếu san bằng toàn bộ đáy biển, độ sâu trung bình sẽ rơi vào khoảng một và ba phần tư dặm."
"Chà, thưa ngài Giáo sư," Thuyền trưởng đáp lại, "tôi hy vọng chúng tôi sẽ cho ngài thấy những điều còn vĩ đại hơn thế. Còn về độ sâu trung bình của vùng Thái Bình Dương này, tôi xin nói cho ngài hay, nó chỉ vỏn vẹn khoảng 4.000 thước."
Nói dứt lời, Thuyền trưởng Nemo sải bước về phía cửa hầm và khuất dạng dưới cầu thang. Tôi bước theo ngài, tiến vào căn phòng khách lớn. Chân vịt lập tức khởi động, và đồng hồ đo tốc độ chỉ đúng hai mươi hải lý một giờ.
Những ngày và cả những tuần sau đó cứ thế trôi qua, Thuyền trưởng Nemo rất hiếm khi lộ diện. Tôi gần như chẳng có dịp giáp mặt ngài. Tuy nhiên, viên thuyền phó vẫn đều đặn vạch lộ trình của con tàu lên bản đồ, nhờ thế mà tôi luôn nắm được chính xác đường đi nước bước của chiếc Nautilus.
Gần như ngày nào cũng vậy, có những lúc các tấm ván thép che kín phòng khách lại được mở tung ra. Khi ấy, chúng tôi mải mê đắm chìm vào những bí ẩn khôn cùng của thế giới dưới đáy đại dương mà chẳng bao giờ biết chán.
Nhìn chung, tàu Nautilus duy trì hướng đi về phía đông nam, luôn giữ mình ở độ sâu từ một trăm đến một trăm rưỡi thước. Thế nhưng một ngày nọ, chẳng hiểu vì lý do gì, con tàu bất ngờ bị kéo chúi xuống nhờ các cánh lái vát nghiêng rồi khẽ chạm vào tận đáy biển sâu. Lúc này, nhiệt kế chỉ mức 4,25 độ C: có vẻ như ở độ sâu này, đây là mức nhiệt độ chung tại mọi vĩ độ.
Vào lúc ba giờ sáng ngày 26 tháng 11, tàu Nautilus vượt qua chí tuyến Bắc ở kinh độ 172 độ. Đến ngày 27, con tàu tiến tới quần đảo Sandwich, nơi vị thuyền trưởng Cook lừng danh đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 14 tháng 2 năm 1779. Tính đến thời điểm ấy, chúng tôi đã vượt qua 4.860 dặm kể từ điểm xuất phát. Sáng hôm đó, khi bước lên boong tàu, tôi đưa mắt nhìn về phía đầu gió và nhận ra đảo Hawaii vươn lên giữa muôn trùng khơi cách chúng tôi chừng hai dặm. Đây là hòn đảo lớn nhất trong bảy hòn đảo hợp thành quần đảo này. Tôi có thể nhìn rõ những dải đất canh tác trải dài, những dãy núi điệp trùng chạy song song với bờ biển, cùng những ngọn núi lửa sừng sững vươn lên không trung, có ngọn còn cao vượt cả Mouna-Rea3 sừng sững ở độ cao 5.000 thước so với mặt nước biển. Trong mẻ lưới kéo lên hôm ấy, lẫn giữa muôn vàn sinh vật biển, tôi bắt gặp vài nhánh tảo hình quạt cùng những khóm polyp san hô yêu kiều, những tạo vật đặc trưng của vùng đại dương này. Hướng đi của tàu Nautilus vẫn kiên định là hướng đông nam. Nó cắt ngang đường xích đạo vào ngày 1 tháng 12 ở kinh độ 142 độ; và đến ngày 4 cùng tháng, sau khi vút qua một vùng biển êm đềm mà chẳng gặp hiện tượng gì đáng chú ý, chúng tôi đã trông thấy quần đảo Marquesas. Từ cự ly ba dặm, đỉnh núi Martin trên đảo Nouka-Hiva - hòn đảo rộng lớn nhất của quần đảo thuộc Pháp này - đã lọt vào tầm mắt tôi. Tôi chỉ kịp chiêm ngưỡng những ngọn núi rậm rạp cây rừng in bóng mờ ảo trên nền trời, bởi Thuyền trưởng Nemo không hề có ý định đưa tàu đi ngược chiều gió. Tại vùng biển này, những mẻ lưới đã mang về vô số loài cá tuyệt đẹp: vài con mang bộ vây xanh biếc cùng chiếc đuôi vàng óng rực rỡ, phần thịt của chúng mang một hương vị thơm ngon tuyệt hảo; vài con khác thì da dẻ trơn tuột gần như không có vảy, nhưng lại sở hữu mùi vị tinh tế đến khó tả; lại có những con mang bộ hàm đầy xương, lớp da ánh lên sắc vàng kim, hương vị ngon chẳng kém gì cá ngừ; tất cả đều là nguồn thực phẩm vô giá đối với chúng tôi. Sau khi bỏ lại phía sau những hòn đảo kiều diễm được lá cờ nước Pháp chở che này, từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 12, con tàu Nautilus đã tiếp tục lướt qua một chặng đường đằng đẵng chừng 2.000 hải lý.
Ngày 11 tháng 12, khi ánh sáng ban ngày rọi xuống, tôi đang miệt mài đọc sách trong phòng khách lớn. Ned Land và Conseil mải mê ngắm nhìn làn nước tỏa sáng lung linh qua những ô cửa sổ hé mở. Chiếc Nautilus hoàn toàn bất động. Trong lúc các bể chứa đang được bơm đầy nước, thân tàu neo mình ở độ sâu một ngàn thước, chìm trong vùng biển hiếm khi có bóng dáng con người lui tới, và ngay cả những bầy cá lớn cũng thưa thớt bặt tăm.
Lúc ấy, tôi đang đắm chìm trong cuốn sách đầy sức hút của Jean Mace, Những Tên Nô Lệ Của Dạ Dày4, và đương chiêm nghiệm vài bài học vô giá từ đó, thì Conseil lên tiếng cắt ngang dòng suy tưởng.
"Thưa ngài, ngài có thể quá bộ tới đây một lát được không?" cậu hỏi, chất giọng lộ rõ vẻ tò mò.
"Có chuyện gì thế, Conseil?"
"Tôi muốn ngài xem thứ này."
Tôi vội đứng dậy, bước tới tựa khuỷu tay lên bậu cửa kính và phóng tầm mắt ra ngoài.
Dưới ánh sáng điện chói lòa, một khối đen ngòm khổng lồ, hoàn toàn bất động, đang trôi lơ lửng giữa làn nước. Tôi nheo mắt quan sát, cố gắng đoán định hình thù của loài sinh vật biển khổng lồ này. Nhưng một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong tâm trí tôi. "Một con tàu!" tôi thốt lên, giọng lầm bầm nửa lớn nửa nhỏ.
"Vâng," người thợ săn Canada điềm nhiên đáp, "một con tàu đắm đang chìm theo chiều thẳng đứng."
Ned Land nói chẳng sai; chúng tôi đang ở sát rạt một chiếc tàu rách nát, nơi những đoạn dây buồm tơi tả vẫn còn lủng lẳng vắt vẻo trên dây xích. Sống tàu dường như vẫn còn nguyên vẹn, và có lẽ nó mới chỉ đắm cách đây vài giờ đồng hồ. Ba khúc gốc của cột buồm, gãy gập cách đài chỉ huy chừng hai feet, là minh chứng cho thấy con tàu đã phải hy sinh những trụ cột oai hùng nhất của mình. Giờ đây, nằm nghiêng ngả sang một bên và no căng nước biển, nó đang chìm nghỉm dần về phía mạn trái. Bộ khung xương tàn tạ của báu vật từng một thời kiêu hãnh rẽ sóng nay trở thành một cảnh tượng bi thương vô hạn khi nằm trơ trọi dưới đáy đại dương. Thế nhưng, xót xa hơn cả vẫn là thảm cảnh diễn ra trên đài chỉ huy, nơi vài thi thể vẫn còn nằm đó, bị trói nghiến bởi những cuộn dây thừng. Tôi đếm được năm người-bốn người đàn ông, một trong số đó vẫn hiên ngang đứng bên bánh lái, và một người phụ nữ đứng cạnh boong tàu phía sau, đang ôm ghì lấy một đứa trẻ sơ sinh trong vòng tay. Cô ấy vẫn còn độ tuổi thanh xuân. Nhờ thứ ánh sáng chói lòa tỏa ra từ con tàu Nautilus, tôi vẫn nhận rõ từng đường nét trên khuôn mặt người thiếu phụ xấu số, thứ mà nước biển chưa kịp tàn phá. Trong một nỗ lực tuyệt vọng tột cùng, cô đã cố vươn cao, nâng đứa con đỏ hỏn của mình lên khỏi đỉnh đầu-sinh linh bé bỏng tội nghiệp làm sao!-với vòng tay thơ dại vẫn đang bám chặt lấy cổ mẹ. Tư thế của bốn gã thủy thủ vạm vỡ trông thật rợn người, cơ thể họ biến dạng vặn vẹo bởi những cơn co giật cuối cùng, dấu vết của sự vùng vẫy tuyệt vọng hòng thoát khỏi những sợi dây thừng đang cột chặt họ vào con tàu đang chìm dần. Chỉ riêng người cầm lái là giữ được vẻ điềm tĩnh đến lạ thường; với khuôn mặt cương nghị và sáng ngời, mái tóc hoa râm bết chặt vào vầng trán, và đôi bàn tay vẫn nắm chặt lấy vô lăng, ông lão dường như ngay cả trong giây phút sinh tử ấy, vẫn đang lèo lái ba phần cột buồm gãy nát xuyên qua những tầng sâu thẳm của đại dương mênh mông.
Thật là một cảnh tượng kinh hoàng đến tột độ! Chúng tôi chết lặng; trái tim đập liên hồi thình thịch trước thảm kịch đắm tàu này, cứ ngỡ như thời gian đã ngưng đọng, lưu giữ trọn vẹn những khoảnh khắc sinh tử cuối cùng từ đời thực. Và kìa, lọt vào tầm mắt tôi là những bầy cá mập khổng lồ, đang rẽ nước lao tới với đôi mắt hau háu đói khát, bị dẫn dụ bởi mùi máu thịt của con người.
Đúng lúc ấy, chiếc Nautilus chuyển hướng, lượn một vòng quanh xác tàu đắm, và trong chớp mắt, tôi đã kịp đọc được dòng chữ khắc sau phần đuôi tàu-"The Florida, Sunderland5."
-
Candia là tên gọi cũ của đảo Crete, hòn đảo lớn nhất và đông dân nhất của Hy Lạp. ↩
-
Matthew Fontaine Maury (1806-1873), sĩ quan hải quân Mỹ, được mệnh danh là "Cha đẻ của Hải dương học hiện đại" nhờ những nghiên cứu tiên phong về các dòng hải lưu và hướng gió. ↩
-
Tên gọi cũ của Mauna Kea (hoặc Mauna Loa), ngọn núi lửa lớn nhất trên đảo Hawaii. ↩
-
Tác phẩm khoa học phổ thông "Les Serviteurs de l'estomac" (xuất bản năm 1866) của nhà giáo dục người Pháp Jean Macé (1815-1894), mượn hình ảnh ẩn dụ sinh động để giải thích về hệ tiêu hóa và cơ thể người. ↩
-
Một thành phố cảng ở Đông Bắc nước Anh, từng là một trong những trung tâm đóng tàu thương mại lớn nhất thế giới vào thế kỷ 19. ↩
CHAPTER XVII FOUR THOUSAND LEAGUES UNDER THE PACIFIC
The next morning, the 18th of November, I had quite recovered from my fatigues of the day before, and I went up on to the platform, just as the second lieutenant was uttering his daily phrase.
I was admiring the magnificent aspect of the ocean when Captain Nemo appeared. He did not seem to be aware of my presence, and began a series of astronomical observations. Then, when he had finished, he went and leant on the cage of the watch-light, and gazed abstractedly on the ocean. In the meantime, a number of the sailors of the Nautilus, all strong and healthy men, had come up onto the platform. They came to draw up the nets that had been laid all night. These sailors were evidently of different nations, although the European type was visible in all of them. I recognised some unmistakable Irishmen, Frenchmen, some Sclaves, and a Greek, or a Candiote. They were civil, and only used that odd language among themselves, the origin of which I could not guess, neither could I question them.
The nets were hauled in. They were a large kind of “chaluts,” like those on the Normandy coasts, great pockets that the waves and a chain fixed in the smaller meshes kept open. These pockets, drawn by iron poles, swept through the water, and gathered in everything in their way. That day they brought up curious specimens from those productive coasts.
I reckoned that the haul had brought in more than nine hundredweight of fish. It was a fine haul, but not to be wondered at. Indeed, the nets are let down for several hours, and enclose in their meshes an infinite variety. We had no lack of excellent food, and the rapidity of the Nautilus and the attraction of the electric light could always renew our supply. These several productions of the sea were immediately lowered through the panel to the steward’s room, some to be eaten fresh, and others pickled.
The fishing ended, the provision of air renewed, I thought that the Nautilus was about to continue its submarine excursion, and was preparing to return to my room, when, without further preamble, the Captain turned to me, saying:
“Professor, is not this ocean gifted with real life? It has its tempers and its gentle moods. Yesterday it slept as we did, and now it has woke after a quiet night. Look!” he continued, “it wakes under the caresses of the sun. It is going to renew its diurnal existence. It is an interesting study to watch the play of its organisation. It has a pulse, arteries, spasms; and I agree with the learned Maury, who discovered in it a circulation as real as the circulation of blood in animals.
“Yes, the ocean has indeed circulation, and to promote it, the Creator has caused things to multiply in it-caloric, salt, and animalculae.”
When Captain Nemo spoke thus, he seemed altogether changed, and aroused an extraordinary emotion in me.
“Also,” he added, “true existence is there; and I can imagine the foundations of nautical towns, clusters of submarine houses, which, like the Nautilus, would ascend every morning to breathe at the surface of the water, free towns, independent cities. Yet who knows whether some despot--”
Captain Nemo finished his sentence with a violent gesture. Then, addressing me as if to chase away some sorrowful thought:
“M. Aronnax,” he asked, “do you know the depth of the ocean?”
“I only know, Captain, what the principal soundings have taught us.”
“Could you tell me them, so that I can suit them to my purpose?”
“These are some,” I replied, “that I remember. If I am not mistaken, a depth of 8,000 yards has been found in the North Atlantic, and 2,500 yards in the Mediterranean. The most remarkable soundings have been made in the South Atlantic, near the thirty-fifth parallel, and they gave 12,000 yards, 14,000 yards, and 15,000 yards. To sum up all, it is reckoned that if the bottom of the sea were levelled, its mean depth would be about one and three-quarter leagues.”
“Well, Professor,” replied the Captain, “we shall show you better than that I hope. As to the mean depth of this part of the Pacific, I tell you it is only 4,000 yards.”
Having said this, Captain Nemo went towards the panel, and disappeared down the ladder. I followed him, and went into the large drawing-room. The screw was immediately put in motion, and the log gave twenty miles an hour.
During the days and weeks that passed, Captain Nemo was very sparing of his visits. I seldom saw him. The lieutenant pricked the ship’s course regularly on the chart, so I could always tell exactly the route of the Nautilus.
Nearly every day, for some time, the panels of the drawing-room were opened, and we were never tired of penetrating the mysteries of the submarine world.
The general direction of the Nautilus was south-east, and it kept between 100 and 150 yards of depth. One day, however, I do not know why, being drawn diagonally by means of the inclined planes, it touched the bed of the sea. The thermometer indicated a temperature of 4.25 (cent.): a temperature that at this depth seemed common to all latitudes.
At three o’clock in the morning of the 26th of November the Nautilus crossed the tropic of Cancer at 172° long. On 27th instant it sighted the Sandwich Islands, where Cook died, February 14, 1779. We had then gone 4,860 leagues from our starting-point. In the morning, when I went on the platform, I saw two miles to windward, Hawaii, the largest of the seven islands that form the group. I saw clearly the cultivated ranges, and the several mountain-chains that run parallel with the side, and the volcanoes that overtop Mouna-Rea, which rise 5,000 yards above the level of the sea. Besides other things the nets brought up, were several flabellariae and graceful polypi, that are peculiar to that part of the ocean. The direction of the Nautilus was still to the south-east. It crossed the equator December 1, in 142° long.; and on the 4th of the same month, after crossing rapidly and without anything in particular occurring, we sighted the Marquesas group. I saw, three miles off, Martin’s peak in Nouka-Hiva, the largest of the group that belongs to France. I only saw the woody mountains against the horizon, because Captain Nemo did not wish to bring the ship to the wind. There the nets brought up beautiful specimens of fish: some with azure fins and tails like gold, the flesh of which is unrivalled; some nearly destitute of scales, but of exquisite flavour; others, with bony jaws, and yellow-tinged gills, as good as bonitos; all fish that would be of use to us. After leaving these charming islands protected by the French flag, from the 4th to the 11th of December the Nautilus sailed over about 2,000 miles.
During the daytime of the 11th of December I was busy reading in the large drawing-room. Ned Land and Conseil watched the luminous water through the half-open panels. The Nautilus was immovable. While its reservoirs were filled, it kept at a depth of 1,000 yards, a region rarely visited in the ocean, and in which large fish were seldom seen.
I was then reading a charming book by Jean Mace, The Slaves of the Stomach, and I was learning some valuable lessons from it, when Conseil interrupted me.
“Will master come here a moment?” he said, in a curious voice.
“What is the matter, Conseil?”
“I want master to look.”
I rose, went, and leaned on my elbows before the panes and watched.
In a full electric light, an enormous black mass, quite immovable, was suspended in the midst of the waters. I watched it attentively, seeking to find out the nature of this gigantic cetacean. But a sudden thought crossed my mind. “A vessel!” I said, half aloud.
“Yes,” replied the Canadian, “a disabled ship that has sunk perpendicularly.”
Ned Land was right; we were close to a vessel of which the tattered shrouds still hung from their chains. The keel seemed to be in good order, and it had been wrecked at most some few hours. Three stumps of masts, broken off about two feet above the bridge, showed that the vessel had had to sacrifice its masts. But, lying on its side, it had filled, and it was heeling over to port. This skeleton of what it had once been was a sad spectacle as it lay lost under the waves, but sadder still was the sight of the bridge, where some corpses, bound with ropes, were still lying. I counted five-four men, one of whom was standing at the helm, and a woman standing by the poop, holding an infant in her arms. She was quite young. I could distinguish her features, which the water had not decomposed, by the brilliant light from the Nautilus. In one despairing effort, she had raised her infant above her head-poor little thing!-whose arms encircled its mother’s neck. The attitude of the four sailors was frightful, distorted as they were by their convulsive movements, whilst making a last effort to free themselves from the cords that bound them to the vessel. The steersman alone, calm, with a grave, clear face, his grey hair glued to his forehead, and his hand clutching the wheel of the helm, seemed even then to be guiding the three broken masts through the depths of the ocean.
What a scene! We were dumb; our hearts beat fast before this shipwreck, taken as it were from life and photographed in its last moments. And I saw already, coming towards it with hungry eyes, enormous sharks, attracted by the human flesh.
However, the Nautilus, turning, went round the submerged vessel, and in one instant I read on the stern-“The Florida, Sunderland.”