CHƯƠNG XVII: BỐN NGÀN DẶM DƯỚI ĐÁY THÁI BÌNH DƯƠNG

Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 11, tôi đã hoàn toàn rũ bỏ được bao mệt nhọc của ngày hôm trước. Bước lên boong tàu, tôi vừa vặn nghe thấy viên thuyền phó cất lên câu nói quen thuộc như mọi ngày.

Giữa lúc tôi đang say sưa chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của đại dương, Thuyền trưởng Nemo lặng lẽ xuất hiện. Dường như chẳng mảy may bận tâm đến sự hiện diện của tôi, ngài bắt tay vào thực hiện một loạt các quan trắc thiên văn. Xong xuôi đâu đấy, ngài chậm rãi bước tới, tựa mình vào lồng đèn pha, lơ đãng phóng ánh nhìn xa xăm ra mặt biển bao la. Cùng lúc đó, vài thủy thủ của con tàu Nautilus - tất thảy đều là những người đàn ông vạm vỡ và cường tráng - nối gót nhau bước lên boong. Họ đến để kéo lên những tấm lưới đã được giăng mắc suốt đêm qua. Đám thủy thủ này rõ ràng mang gốc gác từ nhiều quốc gia khác nhau, dẫu nét đặc trưng của người châu Âu vẫn in hằn trên từng gương mặt. Tôi dễ dàng nhận ra vài người Ireland với dáng vẻ không thể nhầm lẫn, những người Pháp, vài người Slav, và cả một người Hy Lạp hay có lẽ là người xứ Candia1. Họ đối đãi với nhau bằng thái độ lịch thiệp, nhưng lại chỉ giao tiếp qua cái thứ ngôn ngữ kỳ lạ nọ, thứ ngôn ngữ mà tôi đành bất lực chẳng thể đoán định nổi cội nguồn, và cũng không tài nào dò hỏi họ được.

Những tấm lưới rốt cuộc cũng được kéo lên. Đó là một loại lưới rà cỡ lớn, mang bóng dáng của loại lưới ngư dân vẫn thường dùng dọc bờ biển Normandy. Những chiếc túi lưới khổng lồ này luôn được giữ cho mở rộng thênh thang nhờ sức ép của những con sóng lớn và một sợi xích sắt đính viền quanh các mắt lưới nhỏ hơn. Dưới sức kéo của những thanh đòn bằng sắt, chúng càn lướt qua từng làn nước, thu gom trọn vẹn mọi thứ vô tình ngáng đường. Hôm ấy, mẻ lưới đã cất lên vô vàn những mẫu vật kỳ dị từ vùng biển trù phú này.

Tôi ước chừng mẻ lưới hẳn đã thu về hơn bốn trăm rưỡi ki-lô-gam cá. Quả là một chiến lợi phẩm tuyệt hảo, dẫu điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Thực tình mà nói, họ đã thả lưới dưới đáy nước ròng rã suốt nhiều giờ đồng hồ, gom vào từng mắt lưới vô số các sinh thể muôn hình vạn trạng. Nguồn lương thực thượng hạng của chúng tôi vốn chẳng bao giờ vơi cạn, bởi lẽ tốc độ kinh hồn của chiếc Nautilus quyện hòa cùng sức mê hoặc của luồng ánh sáng điện luôn đủ sức lấp đầy lại kho dự trữ bất cứ khi nào. Ngay tắp lự, những sản vật tươi rói này của biển cả được trút qua cửa hầm, chuyển thẳng xuống khoang của viên quản lý thức ăn; một phần để dùng ngay khi còn tươi ngon, phần còn lại được đem đi muối chua cất trữ.

Việc đánh bắt kết thúc, nguồn dưỡng khí đã được thay mới. Tôi đinh ninh chiếc Nautilus sắp sửa tiếp tục chuyến du hành dưới đáy biển. Đang rục rịch quay về phòng riêng, thì đột nhiên, chẳng hề rào đón, Thuyền trưởng quay sang tôi cất lời:

"Thưa ngài Giáo sư, chẳng phải đại dương này mang trong mình một sức sống thực thụ sao? Nó cũng biết nổi giận và cũng biết dịu dàng. Hôm qua nó đã say giấc hệt như chúng ta, và giờ đây nó vừa choàng tỉnh sau một đêm tĩnh lặng. Ngài nhìn xem!" ngài nói tiếp, "nó vươn mình thức giấc dưới sự vỗ về của ánh dương. Nó sắp sửa bắt đầu lại nhịp đập thường nhật. Thật là một nghiên cứu đầy lý thú khi được quan sát sự vận hành của cơ thể khổng lồ này. Nó có nhịp đập, có động mạch, có những cơn co thắt; và tôi hoàn toàn đồng tình với nhà bác học Maury2, người đã khám phá ra ở nó một hệ tuần hoàn thực sự, chẳng khác nào sự tuần hoàn máu trong cơ thể sinh vật.

"Đúng vậy, đại dương thực sự có sự tuần hoàn, và để thúc đẩy nhịp sống đó, Đấng Tạo Hóa đã ban cho nó vạn vật sinh sôi nảy nở-nhiệt lượng, muối, và cả những vi sinh vật nhỏ bé nhất."

Khi cất lên những lời này, Thuyền trưởng Nemo dường như lột xác thành một con người hoàn toàn khác, khơi dậy trong tôi một niềm xúc động lạ thường.

"Hơn nữa," ngài nói thêm, "sự tồn tại đích thực chính là ở đó; và tôi có thể mường tượng ra nền móng của những thị trấn dưới nước, những quần thể nhân loại dưới đáy biển sâu thẳm, mà giống như chiếc Nautilus này, sẽ trồi lên mặt nước mỗi bình minh để hít thở khí trời. Đó sẽ là những thị trấn tự do, những thành bang hoàn toàn độc lập. Thế nhưng, ai mà biết được liệu một kẻ bạo chúa nào đó--"

Thuyền trưởng Nemo bỏ lửng câu nói bằng một cử chỉ đầy dữ dội. Sau đó, ngài quay sang tôi, dường như muốn rũ bỏ một ý nghĩ xót xa nào đó đang ám ảnh tâm trí:

"Ngài Aronnax," ngài hỏi, "ngài có nắm được độ sâu của đại dương không?"

"Thưa ngài Thuyền trưởng, tôi chỉ biết những gì mà các cuộc đo sâu chính thức đã công bố."

"Ngài có thể nói cho tôi nghe được không? Để tôi xem những số liệu đó có phù hợp với mục đích của mình không."

"Đây là một vài con số," tôi đáp, "mà tôi còn nhớ được. Nếu tôi không nhầm, người ta đã đo được độ sâu 8.000 thước ở Bắc Đại Tây Dương, và 2.500 thước ở Địa Trung Hải. Những cuộc đo sâu đáng chú ý nhất từng được thực hiện ở Nam Đại Tây Dương, gần vĩ tuyến ba mươi lăm, cho kết quả 12.000 thước, 14.000 thước, và 15.000 thước. Tóm lại, người ta ước tính rằng nếu san bằng toàn bộ đáy biển, độ sâu trung bình sẽ rơi vào khoảng một và ba phần tư dặm."

"Chà, thưa ngài Giáo sư," Thuyền trưởng đáp lại, "tôi hy vọng chúng tôi sẽ cho ngài thấy những điều còn vĩ đại hơn thế. Còn về độ sâu trung bình của vùng Thái Bình Dương này, tôi xin nói cho ngài hay, nó chỉ vỏn vẹn khoảng 4.000 thước."

Nói dứt lời, Thuyền trưởng Nemo sải bước về phía cửa hầm và khuất dạng dưới cầu thang. Tôi bước theo ngài, tiến vào căn phòng khách lớn. Chân vịt lập tức khởi động, và đồng hồ đo tốc độ chỉ đúng hai mươi hải lý một giờ.

Những ngày và cả những tuần sau đó cứ thế trôi qua, Thuyền trưởng Nemo rất hiếm khi lộ diện. Tôi gần như chẳng có dịp giáp mặt ngài. Tuy nhiên, viên thuyền phó vẫn đều đặn vạch lộ trình của con tàu lên bản đồ, nhờ thế mà tôi luôn nắm được chính xác đường đi nước bước của chiếc Nautilus.

Gần như ngày nào cũng vậy, có những lúc các tấm ván thép che kín phòng khách lại được mở tung ra. Khi ấy, chúng tôi mải mê đắm chìm vào những bí ẩn khôn cùng của thế giới dưới đáy đại dương mà chẳng bao giờ biết chán.

Nhìn chung, tàu Nautilus duy trì hướng đi về phía đông nam, luôn giữ mình ở độ sâu từ một trăm đến một trăm rưỡi thước. Thế nhưng một ngày nọ, chẳng hiểu vì lý do gì, con tàu bất ngờ bị kéo chúi xuống nhờ các cánh lái vát nghiêng rồi khẽ chạm vào tận đáy biển sâu. Lúc này, nhiệt kế chỉ mức 4,25 độ C: có vẻ như ở độ sâu này, đây là mức nhiệt độ chung tại mọi vĩ độ.

Vào lúc ba giờ sáng ngày 26 tháng 11, tàu Nautilus vượt qua chí tuyến Bắc ở kinh độ 172 độ. Đến ngày 27, con tàu tiến tới quần đảo Sandwich, nơi vị thuyền trưởng Cook lừng danh đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 14 tháng 2 năm 1779. Tính đến thời điểm ấy, chúng tôi đã vượt qua 4.860 dặm kể từ điểm xuất phát. Sáng hôm đó, khi bước lên boong tàu, tôi đưa mắt nhìn về phía đầu gió và nhận ra đảo Hawaii vươn lên giữa muôn trùng khơi cách chúng tôi chừng hai dặm. Đây là hòn đảo lớn nhất trong bảy hòn đảo hợp thành quần đảo này. Tôi có thể nhìn rõ những dải đất canh tác trải dài, những dãy núi điệp trùng chạy song song với bờ biển, cùng những ngọn núi lửa sừng sững vươn lên không trung, có ngọn còn cao vượt cả Mouna-Rea3 sừng sững ở độ cao 5.000 thước so với mặt nước biển. Trong mẻ lưới kéo lên hôm ấy, lẫn giữa muôn vàn sinh vật biển, tôi bắt gặp vài nhánh tảo hình quạt cùng những khóm polyp san hô yêu kiều, những tạo vật đặc trưng của vùng đại dương này. Hướng đi của tàu Nautilus vẫn kiên định là hướng đông nam. Nó cắt ngang đường xích đạo vào ngày 1 tháng 12 ở kinh độ 142 độ; và đến ngày 4 cùng tháng, sau khi vút qua một vùng biển êm đềm mà chẳng gặp hiện tượng gì đáng chú ý, chúng tôi đã trông thấy quần đảo Marquesas. Từ cự ly ba dặm, đỉnh núi Martin trên đảo Nouka-Hiva - hòn đảo rộng lớn nhất của quần đảo thuộc Pháp này - đã lọt vào tầm mắt tôi. Tôi chỉ kịp chiêm ngưỡng những ngọn núi rậm rạp cây rừng in bóng mờ ảo trên nền trời, bởi Thuyền trưởng Nemo không hề có ý định đưa tàu đi ngược chiều gió. Tại vùng biển này, những mẻ lưới đã mang về vô số loài cá tuyệt đẹp: vài con mang bộ vây xanh biếc cùng chiếc đuôi vàng óng rực rỡ, phần thịt của chúng mang một hương vị thơm ngon tuyệt hảo; vài con khác thì da dẻ trơn tuột gần như không có vảy, nhưng lại sở hữu mùi vị tinh tế đến khó tả; lại có những con mang bộ hàm đầy xương, lớp da ánh lên sắc vàng kim, hương vị ngon chẳng kém gì cá ngừ; tất cả đều là nguồn thực phẩm vô giá đối với chúng tôi. Sau khi bỏ lại phía sau những hòn đảo kiều diễm được lá cờ nước Pháp chở che này, từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 12, con tàu Nautilus đã tiếp tục lướt qua một chặng đường đằng đẵng chừng 2.000 hải lý.

Ngày 11 tháng 12, khi ánh sáng ban ngày rọi xuống, tôi đang miệt mài đọc sách trong phòng khách lớn. Ned Land và Conseil mải mê ngắm nhìn làn nước tỏa sáng lung linh qua những ô cửa sổ hé mở. Chiếc Nautilus hoàn toàn bất động. Trong lúc các bể chứa đang được bơm đầy nước, thân tàu neo mình ở độ sâu một ngàn thước, chìm trong vùng biển hiếm khi có bóng dáng con người lui tới, và ngay cả những bầy cá lớn cũng thưa thớt bặt tăm.

Lúc ấy, tôi đang đắm chìm trong cuốn sách đầy sức hút của Jean Mace, Những Tên Nô Lệ Của Dạ Dày4, và đương chiêm nghiệm vài bài học vô giá từ đó, thì Conseil lên tiếng cắt ngang dòng suy tưởng.

"Thưa ngài, ngài có thể quá bộ tới đây một lát được không?" cậu hỏi, chất giọng lộ rõ vẻ tò mò.

"Có chuyện gì thế, Conseil?"

"Tôi muốn ngài xem thứ này."

Tôi vội đứng dậy, bước tới tựa khuỷu tay lên bậu cửa kính và phóng tầm mắt ra ngoài.

Dưới ánh sáng điện chói lòa, một khối đen ngòm khổng lồ, hoàn toàn bất động, đang trôi lơ lửng giữa làn nước. Tôi nheo mắt quan sát, cố gắng đoán định hình thù của loài sinh vật biển khổng lồ này. Nhưng một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong tâm trí tôi. "Một con tàu!" tôi thốt lên, giọng lầm bầm nửa lớn nửa nhỏ.

"Vâng," người thợ săn Canada điềm nhiên đáp, "một con tàu đắm đang chìm theo chiều thẳng đứng."

Ned Land nói chẳng sai; chúng tôi đang ở sát rạt một chiếc tàu rách nát, nơi những đoạn dây buồm tơi tả vẫn còn lủng lẳng vắt vẻo trên dây xích. Sống tàu dường như vẫn còn nguyên vẹn, và có lẽ nó mới chỉ đắm cách đây vài giờ đồng hồ. Ba khúc gốc của cột buồm, gãy gập cách đài chỉ huy chừng hai feet, là minh chứng cho thấy con tàu đã phải hy sinh những trụ cột oai hùng nhất của mình. Giờ đây, nằm nghiêng ngả sang một bên và no căng nước biển, nó đang chìm nghỉm dần về phía mạn trái. Bộ khung xương tàn tạ của báu vật từng một thời kiêu hãnh rẽ sóng nay trở thành một cảnh tượng bi thương vô hạn khi nằm trơ trọi dưới đáy đại dương. Thế nhưng, xót xa hơn cả vẫn là thảm cảnh diễn ra trên đài chỉ huy, nơi vài thi thể vẫn còn nằm đó, bị trói nghiến bởi những cuộn dây thừng. Tôi đếm được năm người-bốn người đàn ông, một trong số đó vẫn hiên ngang đứng bên bánh lái, và một người phụ nữ đứng cạnh boong tàu phía sau, đang ôm ghì lấy một đứa trẻ sơ sinh trong vòng tay. Cô ấy vẫn còn độ tuổi thanh xuân. Nhờ thứ ánh sáng chói lòa tỏa ra từ con tàu Nautilus, tôi vẫn nhận rõ từng đường nét trên khuôn mặt người thiếu phụ xấu số, thứ mà nước biển chưa kịp tàn phá. Trong một nỗ lực tuyệt vọng tột cùng, cô đã cố vươn cao, nâng đứa con đỏ hỏn của mình lên khỏi đỉnh đầu-sinh linh bé bỏng tội nghiệp làm sao!-với vòng tay thơ dại vẫn đang bám chặt lấy cổ mẹ. Tư thế của bốn gã thủy thủ vạm vỡ trông thật rợn người, cơ thể họ biến dạng vặn vẹo bởi những cơn co giật cuối cùng, dấu vết của sự vùng vẫy tuyệt vọng hòng thoát khỏi những sợi dây thừng đang cột chặt họ vào con tàu đang chìm dần. Chỉ riêng người cầm lái là giữ được vẻ điềm tĩnh đến lạ thường; với khuôn mặt cương nghị và sáng ngời, mái tóc hoa râm bết chặt vào vầng trán, và đôi bàn tay vẫn nắm chặt lấy vô lăng, ông lão dường như ngay cả trong giây phút sinh tử ấy, vẫn đang lèo lái ba phần cột buồm gãy nát xuyên qua những tầng sâu thẳm của đại dương mênh mông.

Thật là một cảnh tượng kinh hoàng đến tột độ! Chúng tôi chết lặng; trái tim đập liên hồi thình thịch trước thảm kịch đắm tàu này, cứ ngỡ như thời gian đã ngưng đọng, lưu giữ trọn vẹn những khoảnh khắc sinh tử cuối cùng từ đời thực. Và kìa, lọt vào tầm mắt tôi là những bầy cá mập khổng lồ, đang rẽ nước lao tới với đôi mắt hau háu đói khát, bị dẫn dụ bởi mùi máu thịt của con người.

Đúng lúc ấy, chiếc Nautilus chuyển hướng, lượn một vòng quanh xác tàu đắm, và trong chớp mắt, tôi đã kịp đọc được dòng chữ khắc sau phần đuôi tàu-"The Florida, Sunderland5."



  1. Candia là tên gọi cũ của đảo Crete, hòn đảo lớn nhất và đông dân nhất của Hy Lạp. 

  2. Matthew Fontaine Maury (1806-1873), sĩ quan hải quân Mỹ, được mệnh danh là "Cha đẻ của Hải dương học hiện đại" nhờ những nghiên cứu tiên phong về các dòng hải lưu và hướng gió. 

  3. Tên gọi cũ của Mauna Kea (hoặc Mauna Loa), ngọn núi lửa lớn nhất trên đảo Hawaii. 

  4. Tác phẩm khoa học phổ thông "Les Serviteurs de l'estomac" (xuất bản năm 1866) của nhà giáo dục người Pháp Jean Macé (1815-1894), mượn hình ảnh ẩn dụ sinh động để giải thích về hệ tiêu hóa và cơ thể người. 

  5. Một thành phố cảng ở Đông Bắc nước Anh, từng là một trong những trung tâm đóng tàu thương mại lớn nhất thế giới vào thế kỷ 19.