CHƯƠNG VIII: VỊNH VIGO

Đại Tây Dương! Một dải nước mênh mông với diện tích hai mươi lăm triệu dặm vuông, trải dài chín ngàn dặm và rộng trung bình hai ngàn bảy trăm dặm. Bờ biển uốn lượn vòng vèo, ôm trọn lấy một chu vi khổng lồ, đón nhận dòng nước từ những con sông vĩ đại nhất hành tinh: St. Lawrence, Mississippi, Amazon, Plata, Orinoco, Niger, Senegal, Elbe, Loire và Rhine. Những dòng sông hùng vĩ ấy mang theo nước từ mọi miền, từ những quốc gia văn minh bậc nhất cho đến những vùng đất hoang sơ tĩnh lặng! Thật là một vùng nước tráng lệ. Mặt biển không ngừng bị cày xới bởi những mũi tàu mang cờ hiệu của mọi quốc gia, và tận cùng của nó là hai mũi đất đầy hiểm nguy, nơi luôn gieo rắc nỗi kinh hoàng cho những người đi biển: Mũi Horn và Mũi Bão Táp1.

Chiếc Nautilus dùng mũi nhọn kiêu hãnh rẽ nước băng lên. Sau ba tháng rưỡi ròng rã, con tàu đã vượt qua gần mười ngàn dặm, một quãng đường còn lớn hơn cả chu vi trái đất. Giờ đây, chúng tôi đang hướng về đâu, và tương lai sẽ cất giấu điều gì? Rời khỏi Eo biển Gibraltar, tàu Nautilus thẳng tiến ra biển khơi, trồi lên mặt sóng, và những chuyến đi dạo hàng ngày trên boong lại được tiếp tục.

Tôi lập tức bước lên boong, đi cùng là anh bạn Ned Land và Conseil. Cách chừng mười hai dặm, Mũi St. Vincent hiện lên mờ ảo, đánh dấu điểm cực tây nam của bán đảo Tây Ban Nha. Một cơn gió nam thổi giật từng hồi. Biển động mạnh, từng đợt sóng cuồn cuộn đổ tới khiến chiếc Nautilus tròng trành dữ dội. Gần như không thể đứng vững trên boong, nơi những con sóng lớn không ngừng chồm lên càn quét qua từng khoảnh khắc. Vì vậy, chúng tôi đành phải quay xuống dưới sau khi vội hít căng lồng ngực chút không khí trong lành.

Tôi trở về phòng mình, Conseil cũng quay lại chỗ nghỉ của cậu ấy. Nhưng anh bạn người Canada, với vẻ mặt đầy tâm sự, đã lặng lẽ bám gót theo tôi. Chuyến vượt Địa Trung Hải chóng vánh vừa qua đã không cho anh cơ hội thực hiện kế hoạch, và anh chẳng buồn giấu giếm vẻ thất vọng tột độ. Khi cánh cửa phòng tôi vừa khép lại, anh ngồi phịch xuống và đăm đăm nhìn tôi trong im lặng.

"Anh bạn Ned," tôi cất lời, "tôi hiểu anh; nhưng anh đừng tự dằn vặt mình như thế. Trốn khỏi chiếc Nautilus trong hoàn cảnh ấy sẽ là một hành động điên rồ."

Ned Land chẳng buồn đáp. Đôi môi mím chặt và hàng lông mày nhíu lại phần nào nói lên rằng ý định tẩu thoát đã bám rễ vào tâm trí anh mãnh liệt đến nhường nào.

"Hãy nghe tôi," tôi tiếp tục; "chúng ta chưa đến mức phải tuyệt vọng đâu. Tàu đang đi dọc bờ biển Bồ Đào Nha thêm một lần nữa. Nước Pháp và Anh quốc cũng chẳng còn cách bao xa, đó sẽ là những nơi trú ẩn an toàn. Giả sử như khi rời Eo biển Gibraltar, chiếc Nautilus tiến thẳng về phía nam, đưa chúng ta đến những vùng biển không bóng lục địa, thì tôi cũng sẽ lo lắng hệt như anh thôi. Nhưng giờ thì rõ ràng Thuyền trưởng Nemo không hề né tránh những vùng biển gần đất liền văn minh, và tôi nghĩ chỉ trong vài ngày tới, anh sẽ có cơ hội hành động an toàn."

Ned Land vẫn chằm chằm nhìn tôi. Mãi sau, đôi môi mím chặt của anh mới chịu hé mở, anh cất giọng quả quyết: "Chính là đêm nay."

Tôi sững sờ bật dậy. Quả thực, tôi hoàn toàn chưa chuẩn bị tâm lý đón nhận thông báo này. Tôi muốn nói gì đó với anh bạn người Canada, nhưng lời lẽ cứ như nghẹn lại nơi cổ họng, chẳng thể nào thốt ra.

"Chúng ta từng thỏa thuận sẽ chờ thời cơ," Ned Land nói tiếp, "và giờ thời cơ ấy đã đến. Đêm nay, chúng ta chỉ cách bờ biển Tây Ban Nha vài dặm. Trời lại đang nhiều mây, gió thì thổi rất mạnh. Tôi đã nhận được lời hứa của ngài, ngài Aronnax, và tôi hoàn toàn trông cậy vào ngài."

Thấy tôi vẫn lặng thinh, anh bạn người Canada tiến lại gần.

"Đêm nay, đúng chín giờ," anh trầm giọng. "Tôi đã dặn dò Conseil đâu vào đấy rồi. Vào giờ đó, Thuyền trưởng Nemo chắc chắn đang ở trong phòng riêng, có lẽ ông ta đã ngủ say. Đám kỹ sư lẫn bọn thủy thủ cũng chẳng thể nào thấy được chúng ta. Tôi và Conseil sẽ đến chỗ cầu thang trung tâm. Phần ngài, ngài Aronnax, hãy đợi ở thư viện cách đó vài bước chân và chờ tín hiệu của tôi. Mái chèo, cột buồm và cả cánh buồm đều đã được xếp sẵn trên xuồng. Tôi thậm chí còn vơ vét được chút lương thực phòng thân. Một chiếc cờ lê kiểu Anh cũng đã nằm gọn trong túi để tôi tháo các bu-lông gắn chiếc xuồng với lớp vỏ Nautilus. Mọi thứ đã sẵn sàng cho đêm nay."

"Nhưng biển đang động rất dữ dội."

"Tôi thừa nhận," anh bạn người Canada gật đầu; "nhưng chúng ta bắt buộc phải đánh liều thôi. Tự do là phần thưởng xứng đáng để mạo hiểm. Hơn nữa, chiếc xuồng đủ vững chãi, và với gió thuận, vài dặm đường trên biển chẳng có gì to tát cả. Ai mà biết được, ngày mai tàu có thể bị cuốn đi hàng trăm dặm cách xa đất liền. Chỉ cần ông trời thương tình, mười hay mười một giờ đêm nay, ta sẽ đặt chân lên bờ, cho dù còn sống hay đã chết. Tạm biệt ngài, hẹn gặp lại đêm nay."

Bỏ lại những lời đó, anh bạn người Canada quay bước đi, để mặc tôi chôn chân trong sự câm lặng. Tôi những tưởng khi trót lỡ cơ hội vừa qua, mình sẽ có dư dả thời gian để nhẩn nha suy ngẫm và bàn bạc. Nhưng người bạn đồng hành cứng đầu này chẳng cho tôi một giây nào trì hoãn. Rốt cuộc, tôi còn biết nói gì với anh đây? Ned Land hoàn toàn có lý. Cơ hội đang sờ sờ ra đó và buộc phải nắm lấy. Lẽ nào tôi lại tự rút lại lời hứa, tự chuốc lấy tội danh hủy hoại tương lai của những người bạn đồng hành? Biết đâu ngày mai, Thuyền trưởng Nemo lại chẳng bẻ lái, mang chúng tôi đi xa mãi khỏi những bến bờ đất liền.

Đúng lúc đó, một tiếng rít lớn vang lên báo hiệu các bể chứa nước đang được bơm đầy. Chiếc Nautilus lại từ từ chìm xuống dưới những con sóng bạc đầu của Đại Tây Dương.

Tôi đã trải qua một ngày chất chứa nỗi buồn rầu, giằng xé giữa niềm khao khát giành lại quyền tự do và nỗi luyến tiếc khi phải từ bỏ chiếc Nautilus kỳ diệu, bỏ lại phía sau những công trình nghiên cứu đại dương còn dở dang.

Thật là những giờ phút giằng xé tâm can! Có lúc, tôi hình dung cảnh mình cùng các bạn đồng hành đã đặt chân lên bờ an toàn; nhưng cũng có lúc, bất chấp lý trí, tôi lại thầm mong một tình huống bất ngờ nào đó sẽ xảy ra để ngăn cản kế hoạch tẩu thoát của Ned Land.

Hai lần tôi bước vào phòng khách để xem la bàn. Tôi muốn biết liệu hướng đi của chiếc Nautilus đang đưa chúng tôi tới gần hay đẩy chúng tôi ra xa khỏi bờ biển. Nhưng không; con tàu vẫn đang rẽ sóng trong vùng biển của Bồ Đào Nha.

Vì vậy, tôi đành chấp nhận thực tại và chuẩn bị cho chuyến tẩu thoát. Hành lý của tôi chẳng có gì nặng nề; ngoài những xấp ghi chép, tôi không mang theo thứ gì khác.

Còn về Thuyền trưởng Nemo, tôi tự hỏi ông sẽ nghĩ gì về cuộc tẩu thoát này. Nó sẽ gây ra cho ông những rắc rối hay tổn thất gì? Và ông sẽ làm gì nếu kế hoạch của chúng tôi bại lộ hoặc thất bại? Chắc chắn tôi không có cớ gì để phàn nàn về ông; ngược lại, tôi chưa từng nhận được lòng hiếu khách nào hào phóng đến vậy. Dù rời bỏ ông, tôi cũng không đáng bị xem là kẻ vô ơn. Chẳng có lời thề nào trói buộc chúng tôi với ông cả. Ông chỉ mượn sức mạnh của hoàn cảnh, chứ chẳng phải lời hứa hẹn nào từ chúng tôi, để giam lỏng chúng tôi mãi mãi.

Từ chuyến thăm đảo Santorin, tôi đã không còn chạm mặt Thuyền trưởng. Liệu sự tình cờ có xui khiến tôi giáp mặt ông trước giờ khởi hành không? Tôi vừa khao khát điều đó, lại vừa e sợ nó. Tôi dỏng tai lắng nghe xem có tiếng bước chân ông vang lên trong căn phòng bên cạnh hay không. Không một âm thanh nào lọt vào tai tôi. Sự bất an dâng lên nghẹn ứ nơi lồng ngực. Ngày dài chờ đợi này dường như kéo dài vô tận. Từng giờ đồng hồ điểm trôi qua quá đỗi chậm chạp so với nỗi sốt ruột đang thiêu đốt tâm can tôi.

Bữa tối của tôi được phục vụ ngay trong phòng như thường lệ. Tâm trí tôi đang rối bời nên chẳng thiết tha ăn uống. Lúc bảy giờ, tôi rời khỏi bàn ăn. Vẫn còn một trăm hai mươi phút nữa (tôi đã đếm từng phút một) mới đến khoảnh khắc tôi hội quân cùng Ned Land. Nỗi bồn chồn trong tôi tăng lên gấp bội. Mạch đập liên hồi. Tôi không tài nào ngồi yên được. Tôi đi đi lại lại quanh phòng, hy vọng những bước chân không ngừng nghỉ sẽ làm dịu đi tâm hồn đang dậy sóng. Ý nghĩ về sự thất bại trong nỗ lực táo bạo này hóa ra lại là điều ít đau đớn nhất. Điều thực sự khiến tim tôi đập loạn nhịp là viễn cảnh kế hoạch bại lộ trước khi chúng tôi kịp rời khỏi chiếc Nautilus. Khi ấy, tôi sẽ bị giải đến trước mặt Thuyền trưởng Nemo. Có thể ông sẽ tức giận, hoặc tồi tệ hơn, ánh mắt ông sẽ nhuốm màu buồn bã trước sự phản bội của tôi.

Tôi muốn thu vào tầm mắt hình ảnh phòng khách lần cuối. Tôi bước xuống cầu thang, tiến vào căn bảo tàng nơi tôi đã trải qua biết bao giờ phút say mê và hữu ích. Tôi ngắm nhìn toàn bộ sự tráng lệ và những kho báu của nó, với tâm thế của một kẻ đang đứng trước ngưỡng cửa lưu đày vĩnh viễn, một người cất bước ra đi để không bao giờ quay lại.

Những kỳ quan tuyệt mỹ của tạo hóa, những kiệt tác nghệ thuật vô giá - nơi tâm hồn tôi đã nương náu suốt bao ngày qua - tôi sắp phải vĩnh viễn bỏ lại phía sau! Tôi thèm khát được nhìn lần cuối qua những ô cửa sổ phòng khách để ngắm nhìn làn nước của Đại Tây Dương. Nhưng những tấm ván kim loại đã đóng kín mít, và một lớp áo giáp thép đã vô tình ngăn cách tôi với đại dương bao la mà tôi chưa kịp khám phá tường tận.

Khi đi ngang qua phòng khách, tôi rảo bước đến gần cánh cửa góc thông với phòng của Thuyền trưởng. Thật ngạc nhiên, cánh cửa ấy lại đang hé mở. Tôi bất giác lùi lại một bước. Nếu Thuyền trưởng Nemo đang ở trong đó, ông ấy chắc chắn sẽ nhìn thấy tôi. Thế nhưng, vì không nghe thấy bất kỳ động tĩnh nào, tôi đánh liều bước đến gần hơn. Căn phòng hoàn toàn trống trải. Tôi khẽ đẩy cửa và bước vào vài bước. Nơi này vẫn mang vẻ khắc khổ, lạnh lẽo hệt như buồng giam của một tu sĩ.

Đột nhiên, đồng hồ điểm tám giờ. Tiếng ngân vang đầu tiên của tiếng chuông đã giật tôi tỉnh khỏi cơn mộng mị. Tôi run rẩy như thể có một con mắt vô hình đang soi thấu tận cùng những suy nghĩ thầm kín nhất trong tâm trí, và tôi vội lãnh lao ra khỏi căn phòng.

Ở đó, ánh mắt tôi dừng lại nơi chiếc la bàn. Hướng đi của chiếc Nautilus vẫn là hướng bắc. Tốc kế hiển thị một tốc độ vừa phải, trong khi áp kế cho thấy chúng tôi đang ở độ sâu khoảng sáu mươi feet.

Tôi quay trở lại phòng mình, tròng thêm lớp áo ấm. Tôi xỏ đôi ủng đi biển, đội chiếc mũ da rái cá và khoác lên mình chiếc áo rộng may bằng sợi byssus2 lót lông hải cẩu. Tôi đã sẵn sàng, và giờ chỉ còn việc chờ đợi. Sự im lặng sâu thẳm bao trùm lấy con tàu, chỉ bị xé toạc bởi tiếng rung nhè nhẹ của chân vịt. Tôi dỏng tai lắng nghe đầy căng thẳng. Liệu có giọng nói oang oang nào đột ngột vang lên thông báo rằng anh bạn Ned Land đã bị bắt quả tang đang lên kế hoạch tẩu thoát không? Một nỗi sợ hãi tột độ bủa vây lấy tôi, và tôi đã cố gắng trong vô vọng để tìm lại sự điềm tĩnh vốn có của mình.

Vào lúc chín giờ kém vài phút, tôi lại áp sát tai vào cửa phòng Thuyền trưởng. Vẫn không có chút động tĩnh nào. Tôi rời khỏi phòng mình, rón rén quay trở lại phòng khách. Nơi đây đang chìm trong ánh sáng lờ mờ, mờ ảo và hoàn toàn vắng lặng.

Tôi hé mở cánh cửa thông sang thư viện. Vẫn là thứ ánh sáng le lói đó, vẫn là sự cô liêu, tĩnh mịch đến nao lòng. Tôi đứng nép mình gần cánh cửa dẫn ra cầu thang trung tâm, hồi hộp chờ đợi ám hiệu của Ned Land.

Đúng lúc đó, sự rung chuyển của chân vịt giảm đi rõ rệt rồi ngừng bặt. Sự im lặng bao trùm không gian, giờ đây chỉ còn bị phá vỡ bởi nhịp đập thình thịch từ chính trái tim tôi. Đột nhiên, một cú xóc nhẹ truyền qua thân tàu. Tôi nhận ra rằng chiếc Nautilus đã nằm im lìm dưới đáy đại dương. Nỗi bất an trong tôi dâng trào tột độ. Ám hiệu của anh bạn người Canada vẫn bặt vô âm tín. Trong khoảnh khắc, tôi đã muốn đi tìm Ned Land để van nài anh hoãn lại nỗ lực táo bạo này. Bằng một linh cảm mơ hồ, tôi nhận ra rằng chúng tôi không còn giong buồm trong những điều kiện bình thường nữa.

Vào khoảnh khắc đó, cánh cửa phòng khách lớn bật mở, và Thuyền trưởng Nemo bước vào. Vừa thoáng thấy tôi, không một lời mào đầu, ông cất giọng nhã nhặn:

"À, thưa ngài! Tôi đang đi tìm ngài. Ngài có am tường lịch sử Tây Ban Nha không?"

Thường thì, một người có thể thuộc nằm lòng lịch sử quê hương mình; nhưng với tôi lúc bấy giờ, khi tâm trí đang rối bời và đầu óc hoàn toàn trống rỗng, tôi chẳng thể thốt lên nổi một lời về chủ đề ấy.

"Sao nào," Thuyền trưởng Nemo tiếp lời, "ngài nghe rõ câu hỏi của tôi chứ! Ngài có biết lịch sử Tây Ban Nha không?"

"Chỉ đôi chút thôi," tôi đáp.

"Chà, những học giả uyên bác đôi khi cũng cần học thêm đấy," Thuyền trưởng nói. "Đến đây, xin ngài ngồi xuống, tôi sẽ kể cho ngài nghe một giai thoại kỳ lạ trong dòng chảy lịch sử nước này. Thưa ngài, hãy lắng nghe cho kỹ," ông dặn dò; "câu chuyện này hẳn sẽ khơi gợi sự hứng thú nơi ngài ở một khía cạnh nào đó, bởi nó mang đến lời giải đáp cho một bí ẩn mà chắc chắn bấy lâu nay ngài vẫn chưa thể tỏ tường."

"Tôi xin lắng nghe, thưa Thuyền trưởng," tôi cất lời, dẫu chẳng thể đoán định người đối thoại đang muốn dẫn dắt mình về đâu, và thầm tự hỏi liệu sự biến này có gây trở ngại cho kế hoạch tẩu thoát của chúng tôi chăng.

"Thưa ngài, nếu ngài không phiền, chúng ta hãy quay ngược dòng thời gian về năm 1702. Hẳn ngài chẳng xa lạ gì với việc vị quốc vương của ngài, Louis XIV, từng ngạo mạn cho rằng chỉ cần một cái vung tay của đấng quân vương là đủ sức thâu tóm cả dãy Pyrenees dưới trướng, nên đã áp đặt Công tước xứ Anjou, cháu trai của mình, lên cai trị thần dân Tây Ban Nha. Vị hoàng tử này, dưới đế hiệu Philip V, đã trị vì một cách tồi tệ, dẫn đến sự trỗi dậy của một phe đối lập hùng mạnh ở hải ngoại. Quả thật, vào năm trước đó, các hoàng gia Hà Lan, Áo và Anh đã ký kết một hiệp ước liên minh tại The Hague, rắp tâm tước đoạt vương miện Tây Ban Nha khỏi đầu Philip V để trao cho một vị đại công tước mà họ đã sớm ban tước xưng Charles III.

"Tây Ban Nha buộc phải đứng lên chống lại liên minh ấy; nhưng đất nước này lại rơi vào tình cảnh gần như hoàn toàn vô bị cả về binh lính lẫn thủy thủ. Tuy nhiên, họ sẽ chẳng bao giờ thiếu hụt tiền tài, chỉ cần những chiếc thuyền buồm khổng lồ chở đầy vàng bạc châu báu từ châu Mỹ có thể an toàn cập bến. Và vào khoảng cuối năm 1702, họ ngóng trông một đoàn tàu hộ tống mang theo khối tài sản kếch xù, được nước Pháp bảo vệ bằng một hạm đội gồm hai mươi ba chiến hạm do Đô đốc Chateau-Renaud chỉ huy, bởi bấy giờ các chiến thuyền của liên minh đang càn quét khắp vùng Đại Tây Dương. Lẽ ra đoàn tàu này dự định cập cảng Cadiz, nhưng khi hay tin một hạm đội Anh đang tuần tra vùng biển ấy, vị Đô đốc quyết định chuyển hướng tiến về một bến cảng của Pháp.

"Các chỉ huy Tây Ban Nha của đoàn tàu lập tức phản đối quyết định này. Họ khăng khăng đòi cập bến một hải cảng của Tây Ban Nha, và nếu không phải là Cadiz, thì điểm đến phải là Vịnh Vigo, nằm trên bờ biển tây bắc của xứ sở bò tót, nơi chưa hề bị phong tỏa.

"Thế là Đô đốc Chateau-Renaud đã mạo hiểm tuân theo mệnh lệnh này, và những chiếc thuyền buồm đồ sộ đã tiến thẳng vào Vịnh Vigo.

"Thật không may, nơi đây lại là một vùng nước mở, chẳng thể phòng thủ bằng bất cứ cách nào. Do đó, họ buộc phải gấp rút dỡ hàng khỏi những con tàu trước khi hạm đội liên minh kịp ập đến; và lẽ ra họ đã có đủ thời gian để hoàn tất, nếu không có một sự ganh đua khốn kiếp bất ngờ nảy sinh.

"Ngài vẫn đang theo dõi mạch câu chuyện chứ?" Thuyền trưởng Nemo khẽ hỏi.

"Tôi vẫn đang chăm chú nghe đây," tôi đáp, tâm trí vẫn mịt mờ về ẩn ý đằng sau bài học lịch sử này.

"Vậy tôi xin tiếp tục. Chuyện đã diễn ra như thế này. Các thương gia ở Cadiz vốn nắm giữ một đặc quyền, cho phép họ tiếp nhận mọi hàng hóa từ Tây Ấn3 chuyển về. Giờ đây, việc bốc dỡ những thỏi vàng bạc ấy tại cảng Vigo đồng nghĩa với việc tước đoạt đi quyền lợi của họ. Họ đâm đơn khiếu nại lên triều đình Madrid, và được vị vua Philip nhu nhược chuẩn tấu rằng đoàn tàu, thay vì bốc dỡ, sẽ bị cô lập tại vùng biển Vigo cho đến tận khi quân địch rút lui.

"Nhưng ngay trong lúc quyết định ấy được ban ra, vào ngày 22 tháng 10 năm 1702, những chiến hạm Anh đã tiến đánh Vịnh Vigo. Đô đốc Chateau-Renaud, dẫu bị áp đảo về lực lượng, vẫn anh dũng nghênh chiến. Nhưng rồi, khi nhận ra khối kho báu kia chắc chắn sẽ rơi vào tay quân thù, ông đã ra lệnh châm lửa đốt và đánh đắm mọi chiếc thuyền buồm. Những con tàu kiêu hãnh chìm dần xuống đáy biển sâu, mang theo toàn bộ sự giàu có khổng lồ của chúng."

Thuyền trưởng Nemo ngừng lời. Tôi đành thú thật rằng mình vẫn chẳng thể hiểu nổi vì sao câu chuyện lịch sử này lại đáng để tôi bận tâm.

"Và rồi sao nữa?" tôi cất tiếng hỏi.

"Chà, ngài Aronnax," Thuyền trưởng Nemo điềm nhiên đáp, "ngay lúc này, chúng ta đang ở chính Vịnh Vigo đó; và việc ngài có muốn khám phá những bí ẩn sâu thẳm của nó hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào ngài."

Thuyền trưởng đứng dậy, ra hiệu cho tôi bước theo. Lúc này, tôi đã kịp trấn tĩnh lại nên lặng lẽ tuân lệnh. Phòng khách tối om, nhưng qua lớp kính trong suốt, mặt nước lấp lánh những quầng sáng kỳ ảo. Tôi đưa mắt nhìn ra ngoài.

Trong bán kính chừng nửa dặm quanh chiếc Nautilus, làn nước như được tắm mình trong thứ ánh sáng điện rực rỡ. Đáy biển trải những dải cát sạch sẽ và sáng sủa. Vài thành viên thủy thủ đoàn trong bộ đồ lặn đang tất bật dọn dẹp những chiếc thùng gỗ mục nát, những chiếc hòm rỗng nằm ngổn ngang giữa các xác tàu đen sì. Từ những chiếc hòm và thùng gỗ ấy tuôn trào những thỏi vàng bạc, những dòng thác đồng piastre4 cùng vô số đồ trang sức lấp lánh. Bãi cát chất đầy của cải. Thu gom trọn vẹn món chiến lợi phẩm vô giá, những người thợ lặn oằn mình mang gánh nặng quý giá ấy trở về chiếc Nautilus cất giữ, rồi lại tiếp tục lao ra với công cuộc trục vớt vàng bạc dường như không bao giờ cạn kiệt này.

Đến lúc này, tôi mới chợt hiểu ra. Đây chính là hiện trường của trận hải chiến ngày 22 tháng 10 năm 1702. Chính tại nơi đây, những chiếc thuyền buồm khổng lồ chở đầy kho báu của Chính phủ Tây Ban Nha đã chìm sâu vào lòng biển. Thuyền trưởng Nemo đã tìm đến tận nơi này, tùy theo nhu cầu của riêng mình, để chất lên chiếc Nautilus hàng triệu đô la ấy. Quả thực, nhờ có ông và chỉ vì một mình ông mà châu Mỹ đã dâng hiến toàn bộ lượng kim loại quý giá của mình. Ông là người thừa kế duy nhất, chẳng phải san sẻ cùng ai, đối với những kho báu từng bị tước đoạt từ tay người Inca và từ những nạn nhân của kẻ chinh phục Ferdinand Cortez5.

"Ngài có biết chăng, thưa ngài," ông khẽ mỉm cười, cất tiếng hỏi, "rằng đại dương lại ôm ấp những nguồn của cải khổng lồ đến vậy?"

"Tôi có biết," tôi đáp, "người ta từng ước tính khối tài sản đang chìm khuất dưới vùng nước này lên tới hai triệu."

"Chẳng có gì phải bàn cãi; thế nhưng để khai thác được ngần ấy, chi phí bỏ ra sẽ vượt xa cả lợi nhuận thu về. Còn ở đây thì ngược lại, tôi chỉ việc nhặt nhạnh lại những gì con người đã đánh mất - và không chỉ riêng ở Vịnh Vigo này, mà còn ở hàng ngàn bến cảng khác nơi từng chứng kiến những vụ đắm tàu, vốn đã được đánh dấu rành rẽ trên tấm bản đồ dưới đáy biển của tôi. Bây giờ thì ngài đã hiểu nguồn gốc của những triệu đô la mà tôi đang nắm giữ rồi chứ?"

"Tôi hiểu rồi, thưa Thuyền trưởng. Nhưng xin phép cho tôi được thưa với ông điều này, trong việc khám phá Vịnh Vigo, ông chỉ đang ra tay trước một hội đối thủ mà thôi."

"Hội nào vậy?"

"Một hội đã nhận được đặc quyền từ Chính phủ Tây Ban Nha để tìm kiếm những xác thuyền buồm bị vùi lấp đó. Các cổ đông đang bị lóa mắt bởi sức cám dỗ của một món hời khổng lồ, bởi họ định giá những xác tàu đắm ngập tràn của cải này lên tới năm trăm triệu."

"Chúng từng trị giá năm trăm triệu," Thuyền trưởng Nemo điềm nhiên đáp lời, "nhưng giờ thì chẳng còn được như vậy nữa."

"Đúng thế," tôi tiếp lời; "và một lời cảnh báo gửi đến những cổ đông đó hẳn sẽ là một nghĩa cử nhân đạo. Nhưng ai mà biết được liệu lời cảnh tỉnh ấy có được đón nhận tử tế hay không? Điều mà những tay cờ bạc thường xót xa nhất, ít khi là vì tiếc tiền, mà là vì phải đánh mất đi những ảo mộng ngốc nghếch của mình. Rốt cuộc, tôi ít thấy xót thương cho họ hơn là hàng ngàn những con người kém may mắn khác. Bởi đối với những sinh linh khốn khổ ấy, lượng tài sản khổng lồ này nếu được phân bổ đúng cách sẽ mang lại biết bao lợi ích, trong khi với các cổ đông kia, chúng mãi mãi chỉ là thứ cằn cỗi vô tri."

Tôi vừa thốt lên những lời đầy trăn trở ấy thì đã nhận ra rằng nó hẳn đã làm tổn thương Thuyền trưởng Nemo.

"Cằn cỗi vô tri sao!" ông thốt lên, giọng điệu bỗng trở nên kích động. "Thế ngài có nghĩ rằng, thưa ngài, những sự giàu có này đã bị lãng phí chỉ vì tôi đã thu gom chúng không? Ngài nghĩ rằng tôi đã cất công nhặt nhạnh những kho báu này chỉ vì lợi ích của riêng mình sao? Ai nói với ngài rằng tôi đã không sử dụng chúng vào những mục đích cao đẹp? Ngài tưởng tôi không biết rằng trên mặt đất kia vẫn còn những con người đang đọa đày đau khổ, những chủng tộc bị đè nén áp bức, những sinh linh khốn cùng cần được ủi an và những nạn nhân đang mỏi mòn chờ đợi công lý sao? Ngài không hiểu hay sao?"

Thuyền trưởng Nemo khựng lại ở những lời cuối cùng, có lẽ vì hối hận rằng mình đã lỡ lời nói quá nhiều. Thế nhưng tôi đã mường tượng ra được, bất kể động cơ nào đã thôi thúc ông chối bỏ thế gian để tìm kiếm sự độc lập dưới đáy đại dương, nó vẫn lưu giữ trong ông bản ngã của một con người. Trái tim ông vẫn thổn thức vì những nỗi đau của nhân loại, và lòng nhân ái bao la của ông vẫn luôn hướng về những cá nhân và những chủng tộc đang bị chà đạp. Và ngay khoảnh khắc ấy, tôi đã hiểu những triệu đô la kia được dành cho ai, những triệu đô la mà Thuyền trưởng Nemo đã âm thầm chuyển đi khi chiếc Nautilus đang tuần tra trên vùng biển của đảo Crete.



  1. Mũi Horn (cực Nam châu Mỹ) và Mũi Bão Táp (hay Mũi Hảo Vọng ở cực Nam châu Phi) là hai mỏm đất giao cắt giữa các đại dương, khét tiếng với những trận bão hung dữ và sóng khổng lồ, là nỗi khiếp sợ của thủy thủ thời bấy giờ. 

  2. Byssus (hay tơ biển) là những sợi tơ tự nhiên vô cùng bền chắc do một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ tiết ra. Thuyền trưởng Nemo đã tận dụng vật liệu này từ đại dương để dệt thành vải may quần áo. 

  3. Tây Ấn (West Indies) là thuật ngữ lịch sử chỉ vùng quần đảo Caribe và châu Mỹ, nơi đế quốc Tây Ban Nha khai thác lượng lớn vàng bạc và sản vật quý giá để chở về châu Âu. 

  4. Piastre (hay đồng peso bạc của Tây Ban Nha) là đồng tiền đúc bằng bạc có giá trị cao, được sử dụng như đồng tiền thanh toán quốc tế phổ biến nhất trong mạng lưới thương mại toàn cầu từ thế kỷ 16 đến 19. 

  5. Ferdinand Cortez (Hernán Cortés) là nhà chinh phạt người Tây Ban Nha, người đã dẫn đầu cuộc thám hiểm lật đổ đế quốc Aztec (thuộc Mexico ngày nay) vào thế kỷ 16 để cướp đoạt số lượng vàng bạc khổng lồ.