CHƯƠNG XXI: SẤM SÉT CỦA THUYỀN TRƯỞNG NEMO
Chúng tôi không vội đứng lên mà chỉ đưa mắt cảnh giác nhìn về phía bìa rừng. Tay tôi khựng lại giữa chừng, miếng thức ăn chưa kịp đưa lên miệng, trong khi bàn tay của anh chàng Ned Land thì đã vội vàng hoàn tất nhiệm vụ đưa trọn miếng ngon vào dạ dày.
"Đá đâu thể tự dưng từ trên trời rớt xuống," Conseil điềm tĩnh nhận xét, "bằng không, người ta đã gọi chúng là thiên thạch mất rồi."
Như để minh chứng thêm sức nặng cho lời nhận xét của cậu, một hòn đá thứ hai lao vút tới với độ ngắm chuẩn xác, đánh bật chiếc đùi chim bồ câu thơm phức đang cầm trên tay Conseil. Ngay lập tức, cả ba chúng tôi bật dậy, khoác vội súng lên vai, trong tư thế sẵn sàng đáp trả bất cứ cuộc tấn công nào.
"Bọn chúng là vượn người sao?" Ned Land lớn tiếng kêu lên.
"Cũng gần như vậy-chúng là những kẻ man rợ."
"Rút về thuyền thôi!" Tôi nói nhanh rồi ba chân bốn cẳng chạy ào ra phía bờ biển.
Thật sự đây là một cuộc rút lui cấp thiết, bởi ngay từ bìa lùm cây đang che khuất đường chân trời phía bên phải, cách chúng tôi chỉ chừng chừng một trăm bước chân, một toán khoảng hai mươi người bản địa lăm lăm cung tên và súng cao su đã hiện hình.
Chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi đang neo đậu cách đó độ sáu mươi feet. Đám người man rợ bắt đầu tiến lại gần; dẫu không chạy nước rút, song dáng điệu của chúng sặc mùi thù địch. Đá và mũi tên từ trong rừng rào rào trút xuống quanh chúng tôi như một trận mưa rào.
Về phần Ned Land, anh nhất quyết không chịu bỏ lại số lương thực quý giá của mình. Mặc cho hiểm nguy cận kề, một tay xách con lợn, tay kia vác mấy con kangaroo, anh chàng người Canada vẫn sải những bước chân thoăn thoắt. Chỉ hai phút sau, chúng tôi đã trờ tới mép nước. Mọi thao tác từ chất lương thực, vũ khí lên thuyền, đẩy thuyền ra khỏi bờ cho đến lúc buông mái chèo đều diễn ra chớp nhoáng. Chúng tôi rời đi chưa được hai tầm dây cáp thì bỗng đâu cả trăm bóng người man rợ vừa tru tréo vừa vung vẩy tay chân điên cuồng, hung hãn lội ào xuống dòng nước ngập ngang lưng. Tôi đảo mắt quan sát về phía con tàu Nautilus, hy vọng sự huyên náo này sẽ thu hút được vài thủy thủ bước ra khỏi bệ tàu. Nhưng không có một động tĩnh nào. Cỗ máy khổng lồ nằm ngự trị ở đằng xa vẫn hoàn toàn im lìm, không một bóng người qua lại.
Khoảng hai mươi phút sau, chúng tôi đã an toàn đặt chân lên boong tàu. Các nắp sập vẫn mở toang. Sau khi cột chặt chiếc thuyền nhỏ, cả ba vội vã chui xuống khoang trong của chiếc Nautilus.
Khi bước xuống phòng khách, tôi chợt vẳng nghe những thanh âm trầm bổng vọng lại. Thuyền trưởng Nemo đang ở đó, cúi rạp người bên phím đàn organ, hoàn toàn chìm đắm trong niềm đê mê của thế giới âm nhạc.
"Thưa Thuyền trưởng!"
Ngài dường như không nghe thấy tiếng gọi của tôi.
"Thưa Thuyền trưởng!" Tôi lặp lại, khẽ đưa tay chạm vào cánh tay ngài.
Ngài khẽ rùng mình, chậm rãi quay đầu lại và cất tiếng: "À! Là ngài đó sao, thưa Giáo sư? Chà, ngài đã có một chuyến đi săn thú vị chứ, có thu thập được nhiều mẫu thực vật lạ không?"
"Vâng, thưa Thuyền trưởng; nhưng thật không may, chúng tôi đã kéo theo một đám sinh vật đi bằng hai chân, và sự xuất hiện của bọn chúng khiến tôi không khỏi lo lắng."
"Sinh vật đi bằng hai chân nào cơ?"
"Là những kẻ man rợ."
"Những kẻ man rợ!" ngài lặp lại câu nói với một giọng điệu đầy mỉa mai. "Ngài ngạc nhiên lắm sao, thưa Giáo sư, khi đặt chân lên một vùng đất xa lạ và vô tình bắt gặp vài kẻ man rợ? Man rợ ư! Trên thế gian này, nơi nào lại không có sự hiện diện của chúng chứ? Thêm nữa, những kẻ mà ngài đang gọi là man rợ kia, liệu chúng có thực sự tồi tệ hơn những kẻ tự xưng là văn minh không?"
"Nhưng thưa Thuyền trưởng--"
"Ngài ước chừng có khoảng bao nhiêu tên?"
"Phải ít nhất một trăm tên."
"Thưa ngài Aronnax," Thuyền trưởng Nemo thản nhiên đáp, những ngón tay của ngài lại chậm rãi đặt lên phím đàn organ, "dù cho tất cả người bản xứ ở Papua này có kéo đến tụ tập trên bãi biển kia, chiếc Nautilus vẫn chẳng có lý do gì phải e sợ trước các cuộc tấn công tầm thường của họ."
Thế rồi, những ngón tay của vị Thuyền trưởng lại lướt bay trên các phím đàn. Tôi chợt nhận ra ngài chỉ chạm vào những phím đen, ngân lên một khúc nhạc mang đậm âm hưởng đặc trưng của vùng Scotland. Chẳng mấy chốc, ngài lại một lần nữa gạt bỏ sự hiện diện của tôi, buông mình vào một cõi mộng mị sâu thẳm mà tôi chẳng nỡ lòng làm phiền. Tôi quay gót bước lên bệ tàu. Màn đêm đã kịp buông mành tự lúc nào, bởi ở vùng vĩ độ thấp này, vầng dương thường lặn khuất rất nhanh mà không hề để lại chút vệt hoàng hôn vương vấn. Hòn đảo giờ đây chỉ còn là một khối đen lờ mờ trước mắt; nhưng vô vàn đốm lửa bập bùng thắp sáng rực rỡ cả một dải bãi biển đã cho thấy đám người bản xứ hoàn toàn không có ý định rời đi. Tôi cứ thế đứng lặng lẽ một mình trong nhiều giờ liền, đôi lúc tâm trí tôi lướt qua bóng dáng của những kẻ man rợ-nhưng tuyệt nhiên không hề gợn chút sợ hãi nào, bởi sự tự tin đầy điềm tĩnh của vị thuyền trưởng dường như đã lây truyền sang tôi-rồi đôi lúc tôi lại quên bẵng đi sự tồn tại của chúng để thả hồn chiêm ngưỡng vẻ đẹp tráng lệ của màn đêm chốn nhiệt đới. Ký ức của tôi xa xăm hướng về nước Pháp dấu yêu, qua hình bóng của những chòm sao hoàng đạo lấp lánh sẽ rạng ngời chỉ trong vài giờ nữa. Ánh trăng bàng bạc chiếu rọi vằng vặc giữa muôn vàn tinh tú lơ lửng nơi thiên đỉnh.
Đêm dài dần trôi qua trong bình yên mà không có bất kỳ rủi ro nào xảy đến, hẳn là những người dân đảo kia vẫn còn khiếp vía trước cảnh tượng một con quái vật biển khổng lồ đang mắc cạn giữa vịnh. Các nắp sập vẫn mở toang, phơi bày một lối vào dễ dàng để thâm nhập vào bên trong con tàu Nautilus.
Sáu giờ sáng ngày 8 tháng 1, tôi đặt chân lên boong tàu. Rạng đông vừa hé lộ. Qua lớp sương mù đang nhẹ nhàng tản mạn, hòn đảo nhanh chóng phô bày đường nét, khởi đầu từ những dải rạn san hô ven bờ rồi từ từ vươn đến những chóp núi đằng xa.
Lũ người bản xứ đã tụ tập đông đúc hơn hẳn hôm qua-dễ chừng đến năm sáu trăm người. Nhân lúc thủy triều rút cạn, một toán đã bước hẳn lên rạn san hô, cách chiếc Nautilus chưa đầy hai tầm dây cáp. Tôi dễ dàng quan sát họ; đây quả thực là những người Papua1 thuần chủng với vóc dáng lực lưỡng, dẻo dai. Họ sở hữu vầng trán cao rộng, không hề bành hay tẹt, cùng hàm răng trắng bóng. Mái tóc xoăn tít, loáng thoáng ánh đỏ, nổi bật trên làn da đen tuyền tựa người Nubia2. Lủng lẳng nơi dái tai bị xẻ và nong rộng là những chuỗi hạt tạc bằng xương thú. Hầu hết đám người hoang dã này đều không mảnh vải che thân. Tôi thoạt thấy vài người phụ nữ vận những chiếc váy phồng tết bằng cỏ dại mộc mạc từ hông xuống ngang gối, quấn hờ bằng một dải thắt lưng vỏ cây. Vài vị thủ lĩnh điểm xuyết trên cổ một món đồ trang sức hình lưỡi liềm cùng những chuỗi vòng hạt thủy tinh đỏ trắng đan xen. Gần như gã nào cũng trang bị cung tên, khiên giáo và đeo vắt vẻo trên vai một tấm lưới đựng đầy đá tròn, thứ vũ khí để họ trổ tài thiện xạ với súng cao su. Một vị thủ lĩnh tiến sát lại gần tàu Nautilus, dán mắt quan sát nó đầy dò xét. Có lẽ ông ta là một "mado3" có vị thế tôn quý, bởi khoác trên mình tấm thảm lá chuối cắt răng cưa sắc sảo và tô điểm bằng những sắc màu rực rỡ.
Ở khoảng cách gần nhường ấy, tôi hoàn toàn có thể dễ dàng hạ gục ông ta. Thế nhưng tôi tự nhủ tốt hơn cứ kiên nhẫn chờ xem chúng giở trò gì. Đứng trước những kẻ hoang dã, người châu Âu chúng ta chẳng thà mạnh tay đánh trả còn hơn là ra đòn trước.
Suốt lúc triều rút, đám thổ dân tha thẩn quanh chiếc Nautilus mà chẳng hề sinh sự. Tôi luôn miệng nghe họ lặp đi lặp lại từ "Assai". Nhìn cử chỉ, tôi hiểu họ đang mời mọc mình lên bờ, nhưng dĩ nhiên là tôi khước từ.
Và thế là hôm ấy, chiếc xuồng của chúng tôi đành nằm im lìm, khiến anh Land vô cùng bực bội vì chẳng thể ra ngoài hoàn tất mẻ dự trữ lương thực.
Anh chàng người Canada khéo tay đành dành cả ngày để chế biến mớ thịt thà, rau củ mang về từ đảo hôm trước. Về phần đám thổ dân hoang dã, khoảng mười một giờ sáng, khi con nước dâng lên nhấn chìm những đỉnh san hô, họ bắt đầu rút dần lên bờ. Dẫu vậy, số lượng trên bãi biển lại tăng lên đáng kể. Có lẽ họ đổ về từ các hòn đảo lân cận, hoặc ngay từ chính vùng đất Papua. Nhưng tuyệt nhiên tôi không thấy bóng dáng một chiếc ca nô nào. Rảnh rỗi sinh nông nổi, tôi nảy ý định buông chiếc lưới kéo xuống vùng nước trong vắt tuyệt mỹ này. Xuyên qua làn nước, tôi có thể chiêm ngưỡng vô số vỏ ốc, động vật hình cây và thảm thực vật biển rực rỡ. Hơn nữa, đây sẽ là ngày cuối cùng Nautilus nấn ná ở vùng biển này, nếu quả thực ngày mai con tàu tiến ra biển lớn như lời Thuyền trưởng Nemo đã hứa.
Thế là tôi gọi Conseil. Cậu mang đến cho tôi một tấm lưới kéo nhỏ gọn và nhẹ bẫng, hệt như loại ngư dân dùng để cào hàu. Nào, bắt tay vào việc thôi! Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi cần mẫn thả lưới nhưng chẳng thu về được món nào thực sự hiếm lạ. Mẻ lưới đầy ắp tai ốc Midas, ốc đàn hạc, ốc melame, và nổi bật nhất là những con ốc búa kiều diễm nhất mà tôi từng thấy. Ngoài ra, chúng tôi cũng vớt lên được vài con hải sâm, trai ngọc và chừng một tá rùa biển nhỏ xíu, hứa hẹn sẽ làm phong phú thêm kho lương thực trên tàu.
Thế nhưng, chính vào khoảnh khắc không ngờ tới nhất, tay tôi đã chạm vào một điều kỳ diệu, hay nói đúng hơn là một kiệt tác dị biệt hiếm có của tạo hóa. Conseil vừa kéo mẻ lưới lên, lổn nhổn toàn những loại vỏ ốc tầm thường. Đột nhiên, cậu thấy tôi lao đến, sục tay vào giữa mớ lộn xộn ấy, lôi ra một chiếc vỏ ốc nhỏ và thảng thốt reo lên.
"Có chuyện gì vậy, thưa ngài?" Cậu kinh ngạc hỏi. "Ngài bị cắn à?"
"Không, cậu bé của tôi; nhưng tôi sẵn lòng đánh đổi cả một ngón tay để có được thứ này!"
"Khám phá gì cơ ạ?"
"Chiếc vỏ ốc này," tôi đáp, đắc ý giơ cao chiến lợi phẩm của mình.
"Nó chỉ đơn giản là một con ốc ô-liu vân đá porphyry4, thuộc chi ô-liu, bộ pectinibranchidæ5, lớp chân bụng, phân lớp động vật thân mềm thôi mà."
"Đúng thế, Conseil. Nhưng cậu xem này, thay vì cuộn từ phải sang trái, con ốc ô-liu này lại cuộn từ trái sang phải cơ!"
"Chuyện đó có thể xảy ra sao ạ?"
"Có chứ, cậu bé của tôi! Đó là một chiếc vỏ ốc xoắn ngược6!"
Hầu hết vỏ ốc đều cuộn theo chiều xoắn thuận. Những trường hợp ngoại lệ vô cùng hiếm hoi, và khi một con ốc mang chiều xoắn ngược, giới sưu tầm sành sỏi sẵn sàng đổi nó lấy khối vàng nặng ngang bằng trọng lượng của chính nó.
Tôi và Conseil mải mê chiêm ngưỡng báu vật vừa vớt được. Tôi thầm nhủ phen này bộ sưu tập bảo tàng của mình sẽ có thêm một tuyệt tác vô giá. Bỗng đâu một hòn đá oan nghiệt từ đám thổ dân bay vụt tới, đánh vỡ tan tành món bảo vật ngay trên tay Conseil. Tôi hét lên một tiếng đau đớn tuyệt vọng! Conseil giận dữ vồ lấy khẩu súng, nhắm thẳng vào gã man rợ đang vung vẩy súng cao su cách đó chừng mười thước. Tôi toan đưa tay ngăn lại nhưng viên đạn của cậu đã xé gió bay đi, bắn nát bươm chiếc vòng tay bùa chú quấn quanh cánh tay gã man rợ.
![[Hình ảnh minh họa]](/sach/twenty-thousand-leagues-under-the-sea/images/M20_IMG01_img05.webp)
Conseil siết chặt khẩu súng trên tay.
"Conseil!" tôi hét lớn. "Conseil!"
"Kìa, thưa ngài! Ngài không thấy tên ăn thịt người kia đã khai hỏa trước sao?"
"Nhưng một chiếc vỏ ốc đâu thể đem ra đánh đổi lấy sinh mạng con người," tôi khuyên can.
"A! Tên vô lại!" Conseil ấm ức kêu lên. "Tôi thà để hắn phang gãy vai mình còn hơn đánh vỡ chiếc vỏ ốc này!"
Tôi biết Conseil đang nói thật lòng, dù chẳng mấy tán đồng với cậu. Thế nhưng, tình hình vừa đột ngột xoay chuyển chỉ trong chớp mắt mà chúng tôi chẳng hề hay biết. Tầm hai mươi chiếc ca nô đã bủa vây chiếc Nautilus. Chúng được đẽo từ những thân cây nguyên khối, dáng dài và hẹp, sinh ra để xé nước lướt đi, giữ thăng bằng nhờ một thanh sào tre dài bồng bềnh dập dềnh. Những gã tay chèo bán khỏa thân khéo léo điều khiển con thuyền, khiến tôi không khỏi phấp phỏng âu lo khi quan sát họ rẽ sóng lao đến. Rõ ràng đám người Papua này đã từng chạm trán người châu Âu và chẳng còn lạ lẫm gì với tàu bè. Thế nhưng, đối mặt với một chiếc ống sắt khổng lồ neo đậu giữa vịnh, không cột buồm, chẳng ống khói, họ sẽ nghĩ sao đây? Chắc chắn chẳng có ý nghĩ gì tốt đẹp, bởi ban đầu họ còn tỏ ra e dè, giữ khoảng cách cẩn trọng. Nhưng khi thấy chiếc Nautilus cứ nằm bất động, chúng dần lấy lại nhuệ khí và bắt đầu xấn tới thăm dò. Việc để chúng đụng chạm vào con tàu là điều tối kỵ cần phải tránh. Thêm vào đó, thứ vũ khí không phát ra tiếng nổ của chúng tôi chỉ e sẽ chẳng đủ sức răn đe đám người man rợ này, bởi chúng thường chỉ e sợ những thứ ầm ĩ. Tia chớp xé trời mà thiếu vắng tiếng sấm gầm gừ thì cũng chẳng khiến mấy ai khiếp đảm, dẫu rằng sức mạnh chết chóc nằm ở ánh chớp, chứ nào phải tiếng vang.
Vừa lúc đó, đám ca nô đã áp sát chiếc Nautilus, trút xuống một cơn mưa mũi tên xối xả.
Tôi lao vội xuống phòng khách nhưng chẳng thấy một bóng người. Đánh liều, tôi gõ cửa phòng Thuyền trưởng. "Mời vào," một giọng nói cất lên.
Bước vào trong, tôi thấy Thuyền trưởng Nemo đang đắm chìm vào những hằng đẳng thức đại số phức tạp, ngập ngụa giữa biển biến số x và các con số.
"Tôi xin lỗi vì đã làm phiền ngài," tôi lịch sự lên tiếng.
"Quả là vậy, thưa ngài Aronnax," Thuyền trưởng điềm nhiên đáp lời, "Nhưng tôi tin ngài ắt hẳn phải có lý do cực kỳ nghiêm trọng mới tìm đến tôi lúc này?"
"Lý do vô cùng cấp bách! Đám thổ dân đã bao vây chúng ta bằng ca nô của chúng, và chỉ vài phút nữa thôi, chúng ta chắc chắn sẽ bị hàng trăm kẻ khát máu này tấn công."
"À!" Thuyền trưởng Nemo vẫn ung dung bình thản, "Vậy là chúng kéo đến bằng ca nô ư?"
"Vâng, thưa ngài."
"Tốt thôi, thưa ngài, chúng ta sẽ cho đóng ngay các nắp sập lại."
"Chính xác là vậy, và đó là lý do tôi vội vàng đến báo cho ngài-"
"Có gì đơn giản hơn thế chứ," Thuyền trưởng Nemo nhàn nhạt nói. Nhấn một nút điện, ngài truyền lệnh thẳng đến chỗ thủy thủ đoàn.
"Mọi việc đã đâu vào đấy, thưa ngài," vài giây sau, ngài chậm rãi tiếp lời. "Xuồng cứu sinh đã được bảo vệ, và toàn bộ nắp sập đã đóng kín. Tôi đồ rằng ngài không e sợ những 'quý ngài' ngoài kia có thể chọc thủng lớp vỏ bọc mà ngay cả đạn pháo trên chiếc frigate7 của ngài cũng phải chào thua chứ?"
"Ồ không, thưa Thuyền trưởng. Nhưng chúng ta vẫn chưa thoát khỏi vòng nguy hiểm."
"Mối nguy nào vậy, thưa ngài?"
"Đó là ngày mai, cũng tầm giờ này, chúng ta buộc phải mở nắp sập để lấy không khí mới cho chiếc Nautilus. Nếu ngay lúc này đám người Papua chiếm giữ boong tàu, tôi thực chẳng biết ngài sẽ ngăn chúng xâm nhập bằng cách nào."
"Vậy ra, ngài tin rằng chúng sẽ trèo lên tàu của chúng ta ư?"
"Tôi dám chắc điều đó."
"Thế thì, thưa ngài, cứ để chúng đến. Chẳng cớ gì phải ngăn cản cả. Suy cho cùng, đám người Papua này cũng chỉ là những sinh linh đáng thương, và tôi không muốn chuyến dừng chân tại hòn đảo này phải nhuốm máu bất kỳ kẻ khốn cùng nào trong số họ."
Tôi định cáo từ quay bước. Nhưng Thuyền trưởng Nemo đã níu tôi lại, ân cần mời tôi ngồi xuống cạnh ngài. Ngài thăm hỏi tỉ mỉ về những chuyến dạo chơi và hành trình săn bắn của chúng tôi trên đảo; dường như ngài chẳng thể lý giải nổi cơn thèm thịt điên cuồng đang giằng xé anh bạn thợ săn người Canada. Rồi câu chuyện cứ thế trôi man mác qua đủ mọi chủ đề. Dù vẫn giữ vẻ kín kẽ thường thấy, Thuyền trưởng Nemo đã bộc lộ một thái độ thân thiện và ấm áp hơn hẳn.
Quanh đi quẩn lại, chúng tôi vô tình bàn về vị trí hiện tại của chiếc Nautilus-mắc cạn ngay tại eo biển hiểm ác, nơi mà Dumont d'Urville8 năm xưa cũng từng cận kề cái chết. Nhân nhắc đến sự kiện này:
"D'Urville quả là một trong những thủy thủ kiệt xuất nhất của nước ngài," Thuyền trưởng trầm ngâm nói, "một nhà hàng hải lỗi lạc hiếm thấy. Ông ấy xứng đáng là Thuyền trưởng Cook9 của người Pháp các ngài. Nhưng thật là một thân phận khoa học gian truân! Trải qua bao phen chống chọi với bão tuyết Nam Cực, lách qua muôn trùng rạn san hô hiểm hóc của Châu Đại Dương, đương đầu với những kẻ ăn thịt người rợn gáy ở Thái Bình Dương, để rồi cuối cùng phải bỏ mạng đầy bi thảm trên một chuyến tàu hỏa! Nếu con người mang ý chí kiên cường ấy có cơ hội hồi tưởng trong những giây phút lịm dần, ngài thử đoán xem, hình ảnh nào sẽ hiện lên đầu tiên trong dòng suy nghĩ cuối đời ông ấy?"
Nói đến đây, giọng Thuyền trưởng Nemo chợt nghẹn lại vì xúc động. Phút rung cảm hiếm hoi ấy khiến hình ảnh ngài trong mắt tôi trở nên tốt đẹp hơn nhường nào. Đoạn, với tấm hải đồ trải rộng trên tay, chúng tôi cùng nhau ngược dòng thời gian, lần theo những chuyến hải trình vĩ đại của nhà hàng hải người Pháp: những chuyến vòng quanh thế giới, hai phen mắc kẹt giữa băng giá Nam Cực để rồi mở ra những khám phá chấn động về vùng đất Adelaide và Louis Philippe10, cùng những đóng góp to lớn trong việc xác định tọa độ thủy văn cho các hòn đảo trọng yếu khắp Châu Đại Dương.
"Những kỳ tích mà D'Urville của nước ngài đã chạm đến trên mặt biển," Thuyền trưởng Nemo kiêu hãnh tuyên bố, "tôi cũng đã làm được dưới đáy đại dương, thậm chí còn dễ dàng và trọn vẹn hơn bội phần. Những con tàu Astrolabe và Zelee11 mỏng manh, không ngừng bị sóng cuồng gió giật vùi dập, làm sao có thể sánh kịp với bệ phóng tĩnh lặng của chiếc Nautilus, một không gian làm việc bất biến giữa muôn trùng bão tố."
"Ngày mai," Thuyền trưởng nói thêm, từ từ đứng dậy, "đúng hai giờ bốn mươi phút chiều ngày mai, Nautilus sẽ nổi lên và lướt qua Eo biển Torres12 mà chẳng vướng phải lấy một vết xước."
Buông thõng những lời nói dứt khoát và cộc lốc ấy, Thuyền trưởng Nemo hơi cúi đầu chào tôi một cách nhã nhặn. Hiểu rằng đó là lời tiễn khách kín đáo, tôi lặng lẽ trở về phòng mình.
Vừa đẩy cửa, tôi đã bắt gặp Conseil đang đứng đợi, nóng lòng muốn biết kết quả cuộc hội kiến với Thuyền trưởng.
"Cậu bé của tôi," tôi trấn an, "khi tôi ngỏ ý lo ngại rằng chiếc Nautilus của ngài ấy đang bị đám thổ dân Papua đe dọa, Thuyền trưởng chỉ đáp lại bằng một thái độ mỉa mai vô cùng. Tôi chỉ muốn dặn cậu một điều: Hãy đặt trọn niềm tin vào ngài ấy, và cứ an tâm ngủ một giấc thật sâu đi."
"Ngài không cần tôi phục vụ gì thêm sao, thưa ngài?"
"Không cần đâu, cậu bạn của tôi. Mà anh Ned Land đang làm gì thế?"
"Nếu ngài thứ lỗi," Conseil đáp, "anh bạn Ned của chúng ta đang miệt mài nướng một chiếc bánh nhân thịt kangaroo. Chắc chắn đó sẽ là một tuyệt tác ẩm thực đấy ạ."
Còn lại một mình, tôi lên giường cố dỗ giấc ngủ, nhưng lòng cứ bồn chồn trằn trọc. Từ trên boong tàu vọng xuống tiếng bước chân rầm rập của đám người man rợ hòa cùng những tiếng hú hét chói tai gợn cả da gà. Đêm dài cứ thế trôi đi, nhưng chẳng hề mảy may làm xáo trộn giấc ngủ bình lặng của thủy thủ đoàn. Sự hiên ngang của đám người khát máu trên đầu họ cũng chẳng khác nào đàn kiến nhỏ nhoi bò lổm ngổm trên những bức tường thành của một pháo đài thép, hoàn toàn chẳng đáng để bận tâm.
Sáu giờ sáng, tôi bừng tỉnh giấc. Những cánh cửa sập vẫn đóng kín bưng. Mặc dù không khí bên trong khoang tàu chưa được làm mới, nhưng những bồn chứa dưỡng khí - vốn luôn được nạp đầy để dự phòng cho mọi tình huống khẩn cấp - giờ đây đã phát huy tác dụng. Chúng lặng lẽ nhả ra vài feet khối oxy tinh khiết, xua tan đi bầu không khí ngột ngạt đang cạn dần dưỡng khí của chiếc Nautilus.
Tôi giam mình trong phòng làm việc mải miết cho đến tận trưa, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng Thuyền trưởng Nemo đâu, dẫu chỉ là thoáng qua. Cả con tàu vẫn im lìm, chẳng mảy may có dấu hiệu nào cho thấy sự rục rịch khởi hành.
Kiên nhẫn nán lại thêm chốc lát, tôi bước sang gian phòng khách lớn. Đồng hồ lúc này điểm hai giờ rưỡi. Chỉ mười phút nữa thôi, thủy triều sẽ vươn tới đỉnh điểm. Nếu Thuyền trưởng Nemo không phải là người tùy hứng buông lời hứa hão, chiếc Nautilus sẽ tức khắc được tự do. Bằng không, có lẽ phải tính bằng tháng, con tàu mới mong thoát khỏi chiếc giường san hô đang bủa vây này.
Đúng lúc ấy, những rung chấn khe khẽ mang tính dự báo bắt đầu lan truyền khắp thân tàu. Tôi lắng nghe rõ tiếng sống tàu đang miết dọc trên mặt đáy đá vôi lởm chởm của rạn san hô.
Đúng hai giờ ba mươi lăm phút, Thuyền trưởng Nemo hiện diện nơi phòng khách.
"Chúng ta chuẩn bị nhổ neo," ngài cất lời.
"Chà!" tôi thốt lên.
"Tôi vừa lệnh mở toàn bộ cửa sập."
"Thế còn đám người Papua thì sao?"
"Những người Papua ư?" Thuyền trưởng Nemo hờ hững đáp, khẽ nhún vai.
"Lẽ nào họ sẽ không ùa vào bên trong tàu Nautilus?"
"Vào bằng cách nào cơ chứ?"
"Thì chỉ việc nhảy ào qua các ô cửa mà ngài vừa mở toang."
"Thưa ngài Aronnax," Thuyền trưởng Nemo bình thản đáp lời, "họ sẽ chẳng thể nào lọt qua các cửa sập của chiếc Nautilus bằng cách đó đâu, ngay cả khi chúng đã mở toang."
Tôi chằm chằm nhìn Thuyền trưởng.
"Ngài chưa hiểu ư?" ngài hỏi.
"Quả thực là rất khó hiểu."
"Thôi được, hãy đến đây, ngài sẽ tận mắt chứng kiến."
Tôi dảo bước tiến về phía cầu thang trung tâm. Nơi đó, Ned Land cùng Conseil đang tò mò nép mình quan sát vài người thủy thủ. Họ đang thao tác mở các cánh cửa sập, trong khi từ bên ngoài, những tiếng la hét đầy phẫn nộ cùng những lời chửi rủa rợn người vọng vào inh ỏi.
Những nắp cổng vừa được hạ xuống từ phía ngoài. Hai mươi gương mặt gớm ghiếc lập tức ló rạng. Thế nhưng, gã thổ dân đầu tiên vừa đặt tay lên bám vào thanh vịn cầu thang thì liền bị một thế lực vô hình nào đó đánh bật ngửa ra sau. Dù tôi chẳng tường tận đó là sức mạnh gì, gã bỏ chạy trối chết, rú lên những tiếng kêu đầy kinh hãi, cơ thể giật nảy lên trong những cơn co giật điên loạn nhất.
Mười gã đồng bọn theo sát phía sau cũng nối gót. Tất thảy bọn chúng đều nhận lấy chung một kết cục thảm hại.
Conseil đứng lặng đi trong niềm ngây ngất. Riêng Ned Land, vốn bị thôi thúc bởi bản năng bạo liệt, liền lao bổ về phía cầu thang. Nhưng ngay cái khoảnh khắc anh vung cả hai tay chộp lấy thanh vịn, đến lượt anh cũng bị hất văng lộn nhào xuống sàn.
"Tôi bị sét đánh trúng rồi!" anh gầm lên, kèm theo một tràng chửi thề tục tĩu.
Sự việc này đã phơi bày tất cả. Thứ đó vốn đâu phải là thanh vịn thông thường; nó thực chất là một sợi cáp kim loại được nạp đầy dòng điện chạy dọc từ boong tàu lên tận bệ đứng. Bất cứ ai chạm tay vào đều phải hứng chịu một cú giật nảy lửa-và cú sốc ấy hoàn toàn có thể đoạt mạng nếu Thuyền trưởng Nemo quyết định dồn toàn bộ nguồn năng lượng chết chóc vào lõi dẫn. Quả thực, có thể nói rằng, giữa bầy người hung hãn kia và con tàu của ngài, Thuyền trưởng đã giăng sẵn một mạng lưới điện từ trường bất khả xâm phạm, kẻ nào cả gan vượt qua ắt phải trả giá đắt.
Trong khi ấy, đám người Papua tuy hậm hực nhưng cũng đành rút lui trong sự tê dại vì khiếp đảm. Về phần chúng tôi, dẫu trong lòng ôm nỗi buồn cười đến nghẹn thở, vẫn cố sức an ủi và xoa bóp cho anh chàng Ned Land tội nghiệp, người lúc này vẫn không ngừng tuôn ra những lời chửi rủa hệt như kẻ bị quỷ mị ám ảnh.
Nhưng đúng vào giờ khắc ấy, chiếc Nautilus, được nâng bổng lên bởi những con sóng thủy triều cuối cùng, đã hiên ngang từ bỏ chiếc giường san hô vào đúng phút thứ bốn mươi như lời Thuyền trưởng đã ấn định. Những cánh chân vịt bắt đầu xé nước một cách nhịp nhàng và đầy oai vệ. Tốc độ cứ thế tăng dần, và, lướt êm ru trên mặt đại dương bao la, con tàu đã bỏ lại sau lưng một cách vẹn toàn và kiêu hãnh những eo biển hiểm nghèo nhất của vùng Torres.
-
Người bản địa sinh sống trên đảo New Guinea và các vùng phụ cận thuộc Châu Đại Dương. Vào thế kỷ 19, họ thường bị người phương Tây nhìn nhận dưới lăng kính kỳ bí do lối sống cách biệt với thế giới bên ngoài. ↩
-
Người Nubia là một nhóm dân tộc bản địa có nguồn gốc từ vùng Nubia (dọc theo sông Nile, thuộc Nam Ai Cập và Bắc Sudan ngày nay), nổi tiếng trong lịch sử cổ đại với nền văn minh rực rỡ và đặc trưng làn da sẫm màu. ↩
-
Một thuật ngữ địa phương được những nhà thám hiểm phương Tây dùng để chỉ vị thủ lĩnh, tộc trưởng hoặc người có địa vị tôn quý trong các bộ lạc bản địa tại khu vực này. ↩
-
Porphyry là một loại đá magma có cấu trúc các tinh thể lớn nổi bật trên nền đá hạt mịn. Ốc vân đá porphyry mang lớp vỏ có hoa văn lốm đốm, đan xen màu sắc tương tự như bề mặt loại đá tự nhiên này. ↩
-
Một thuật ngữ phân loại sinh học cũ thời Victoria dùng để chỉ nhóm ốc biển có mang hình chiếc lược (pectinibranch), hiện nay phần lớn được xếp vào phân lớp Caenogastropoda. ↩
-
Hầu hết các loài ốc đều có vỏ cuộn theo chiều kim đồng hồ (xoắn thuận/dextral). Hiện tượng vỏ ốc cuộn ngược chiều kim đồng hồ (xoắn nghịch/sinistral) là một đột biến di truyền cực kỳ hiếm gặp, khiến chúng trở thành báu vật vô giá đối với giới sưu tầm. ↩
-
Khinh hạm (frigate) là loại tàu chiến chạy bằng buồm cỡ trung bình phổ biến trong thế kỷ 18-19, được trang bị hỏa lực mạnh, di chuyển nhanh nhẹn, thường dùng cho các nhiệm vụ tuần tra, trinh sát hoặc hộ tống. ↩
-
Jules Sébastien César Dumont d'Urville (1790-1842) là một nhà thám hiểm, chuyên gia thực vật học và sĩ quan hải quân vĩ đại người Pháp, nổi tiếng với các cuộc thám hiểm Thái Bình Dương, Nam Cực và Châu Đại Dương. ↩
-
James Cook (1728-1779) là nhà thám hiểm, hoa tiêu và chuyên gia vẽ bản đồ kiệt xuất của Hải quân Hoàng gia Anh. Ông đã thực hiện ba chuyến hải trình lịch sử, lập bản đồ chi tiết cho Thái Bình Dương, New Zealand và Úc. ↩
-
Vùng đất Adélie là một dải lãnh thổ ở Nam Cực được d'Urville khám phá năm 1840 và đặt theo tên vợ ông (Adèle). Bán đảo Louis Philippe cũng nằm tại Nam Cực, được ông đặt tên để tôn vinh Vua Louis Philippe I của nước Pháp. ↩
-
L'Astrolabe và La Zélée là hai con tàu thám hiểm lừng danh của Hải quân Pháp đã cùng Dumont d'Urville thực hiện chuyến hải trình lịch sử khám phá Nam Cực và Châu Đại Dương từ năm 1837 đến 1840. ↩
-
Một vùng biển hẹp nằm giữa mũi cực bắc của lục địa Úc và đảo New Guinea. Tuyến đường hàng hải này khét tiếng là nguy hiểm do có vô số rạn san hô, bãi cạn và các hòn đảo nhỏ đan xen dày đặc. ↩
CHAPTER XXI CAPTAIN NEMO’S THUNDERBOLT
We looked at the edge of the forest without rising, my hand stopping in the action of putting it to my mouth, Ned Land’s completing its office.
“Stones do not fall from the sky,” remarked Conseil, “or they would merit the name aerolites.”
A second stone, carefully aimed, that made a savoury pigeon’s leg fall from Conseil’s hand, gave still more weight to his observation. We all three arose, shouldered our guns, and were ready to reply to any attack.
“Are they apes?” cried Ned Land.
“Very nearly-they are savages.”
“To the boat!” I said, hurrying to the sea.
It was indeed necessary to beat a retreat, for about twenty natives armed with bows and slings appeared on the skirts of a copse that masked the horizon to the right, hardly a hundred steps from us.
Our boat was moored about sixty feet from us. The savages approached us, not running, but making hostile demonstrations. Stones and arrows fell thickly.
Ned Land had not wished to leave his provisions; and, in spite of his imminent danger, his pig on one side and kangaroos on the other, he went tolerably fast. In two minutes we were on the shore. To load the boat with provisions and arms, to push it out to sea, and ship the oars, was the work of an instant. We had not gone two cable-lengths, when a hundred savages, howling and gesticulating, entered the water up to their waists. I watched to see if their apparition would attract some men from the Nautilus on to the platform. But no. The enormous machine, lying off, was absolutely deserted.
Twenty minutes later we were on board. The panels were open. After making the boat fast, we entered into the interior of the Nautilus.
I descended to the drawing-room, from whence I heard some chords. Captain Nemo was there, bending over his organ, and plunged in a musical ecstasy.
“Captain!”
He did not hear me.
“Captain!” I said, touching his hand.
He shuddered, and, turning round, said, “Ah! it is you, Professor? Well, have you had a good hunt, have you botanised successfully?”
“Yes Captain; but we have unfortunately brought a troop of bipeds, whose vicinity troubles me.”
“What bipeds?”
“Savages.”
“Savages!” he echoed, ironically. “So you are astonished, Professor, at having set foot on a strange land and finding savages? Savages! where are there not any? Besides, are they worse than others, these whom you call savages?”
“But Captain--”
“How many have you counted?”
“A hundred at least.”
“M. Aronnax,” replied Captain Nemo, placing his fingers on the organ stops, “when all the natives of Papua are assembled on this shore, the Nautilus will have nothing to fear from their attacks.”
The Captain’s fingers were then running over the keys of the instrument, and I remarked that he touched only the black keys, which gave his melodies an essentially Scotch character. Soon he had forgotten my presence, and had plunged into a reverie that I did not disturb. I went up again on to the platform: night had already fallen; for, in this low latitude, the sun sets rapidly and without twilight. I could only see the island indistinctly; but the numerous fires, lighted on the beach, showed that the natives did not think of leaving it. I was alone for several hours, sometimes thinking of the natives-but without any dread of them, for the imperturbable confidence of the Captain was catching-sometimes forgetting them to admire the splendours of the night in the tropics. My remembrances went to France in the train of those zodiacal stars that would shine in some hours’ time. The moon shone in the midst of the constellations of the zenith.
The night slipped away without any mischance, the islanders frightened no doubt at the sight of a monster aground in the bay. The panels were open, and would have offered an easy access to the interior of the Nautilus.
At six o’clock in the morning of the 8th January I went up on to the platform. The dawn was breaking. The island soon showed itself through the dissipating fogs, first the shore, then the summits.
The natives were there, more numerous than on the day before-five or six hundred perhaps-some of them, profiting by the low water, had come on to the coral, at less than two cable-lengths from the Nautilus. I distinguished them easily; they were true Papuans, with athletic figures, men of good race, large high foreheads, large, but not broad and flat, and white teeth. Their woolly hair, with a reddish tinge, showed off on their black shining bodies like those of the Nubians. From the lobes of their ears, cut and distended, hung chaplets of bones. Most of these savages were naked. Amongst them, I remarked some women, dressed from the hips to knees in quite a crinoline of herbs, that sustained a vegetable waistband. Some chiefs had ornamented their necks with a crescent and collars of glass beads, red and white; nearly all were armed with bows, arrows, and shields and carried on their shoulders a sort of net containing those round stones which they cast from their slings with great skill. One of these chiefs, rather near to the Nautilus, examined it attentively. He was, perhaps, a “mado” of high rank, for he was draped in a mat of banana-leaves, notched round the edges, and set off with brilliant colours.
I could easily have knocked down this native, who was within a short length; but I thought that it was better to wait for real hostile demonstrations. Between Europeans and savages, it is proper for the Europeans to parry sharply, not to attack.
During low water the natives roamed about near the Nautilus, but were not troublesome; I heard them frequently repeat the word “Assai,” and by their gestures I understood that they invited me to go on land, an invitation that I declined.
So that, on that day, the boat did not push off, to the great displeasure of Master Land, who could not complete his provisions.
This adroit Canadian employed his time in preparing the viands and meat that he had brought off the island. As for the savages, they returned to the shore about eleven o’clock in the morning, as soon as the coral tops began to disappear under the rising tide; but I saw their numbers had increased considerably on the shore. Probably they came from the neighbouring islands, or very likely from Papua. However, I had not seen a single native canoe. Having nothing better to do, I thought of dragging these beautiful limpid waters, under which I saw a profusion of shells, zoophytes, and marine plants. Moreover, it was the last day that the Nautilus would pass in these parts, if it float in open sea the next day, according to Captain Nemo’s promise.
I therefore called Conseil, who brought me a little light drag, very like those for the oyster fishery. Now to work! For two hours we fished unceasingly, but without bringing up any rarities. The drag was filled with midas-ears, harps, melames, and particularly the most beautiful hammers I have ever seen. We also brought up some sea-slugs, pearl-oysters, and a dozen little turtles that were reserved for the pantry on board.
But just when I expected it least, I put my hand on a wonder, I might say a natural deformity, very rarely met with. Conseil was just dragging, and his net came up filled with divers ordinary shells, when, all at once, he saw me plunge my arm quickly into the net, to draw out a shell, and heard me utter a cry.
“What is the matter, sir?” he asked in surprise. “Has master been bitten?”
“No, my boy; but I would willingly have given a finger for my discovery.”
“What discovery?”
“This shell,” I said, holding up the object of my triumph.
“It is simply an olive porphyry, genus olive, order of the pectinibranchidæ, class of gasteropods, sub-class mollusca.”
“Yes, Conseil; but, instead of being rolled from right to left, this olive turns from left to right.”
“Is it possible?”
“Yes, my boy; it is a left shell.”
Shells are all right-handed, with rare exceptions; and, when by chance their spiral is left, amateurs are ready to pay their weight in gold.
Conseil and I were absorbed in the contemplation of our treasure, and I was promising myself to enrich the museum with it, when a stone unfortunately thrown by a native struck against, and broke, the precious object in Conseil’s hand. I uttered a cry of despair! Conseil took up his gun, and aimed at a savage who was poising his sling at ten yards from him. I would have stopped him, but his blow took effect and broke the bracelet of amulets which encircled the arm of the savage.
![[Illustration]](/sach/twenty-thousand-leagues-under-the-sea/images/M20_IMG01_img05.webp)
Conseil seized his gun
“Conseil!” cried I. “Conseil!”
“Well, sir! do you not see that the cannibal has commenced the attack?”
“A shell is not worth the life of a man,” said I.
“Ah! the scoundrel!” cried Conseil; “I would rather he had broken my shoulder!”
Conseil was in earnest, but I was not of his opinion. However, the situation had changed some minutes before, and we had not perceived. A score of canoes surrounded the Nautilus. These canoes, scooped out of the trunk of a tree, long, narrow, well adapted for speed, were balanced by means of a long bamboo pole, which floated on the water. They were managed by skilful, half-naked paddlers, and I watched their advance with some uneasiness. It was evident that these Papuans had already had dealings with the Europeans and knew their ships. But this long iron cylinder anchored in the bay, without masts or chimneys, what could they think of it? Nothing good, for at first they kept at a respectful distance. However, seeing it motionless, by degrees they took courage, and sought to familiarise themselves with it. Now this familiarity was precisely what it was necessary to avoid. Our arms, which were noiseless, could only produce a moderate effect on the savages, who have little respect for aught but blustering things. The thunderbolt without the reverberations of thunder would frighten man but little, though the danger lies in the lightning, not in the noise.
At this moment the canoes approached the Nautilus, and a shower of arrows alighted on her.
I went down to the saloon, but found no one there. I ventured to knock at the door that opened into the Captain’s room. “Come in,” was the answer.
I entered, and found Captain Nemo deep in algebraical calculations of x and other quantities.
“I am disturbing you,” said I, for courtesy’s sake.
“That is true, M. Aronnax,” replied the Captain; “but I think you have serious reasons for wishing to see me?”
“Very grave ones; the natives are surrounding us in their canoes, and in a few minutes we shall certainly be attacked by many hundreds of savages.”
“Ah!” said Captain Nemo quietly, “they are come with their canoes?”
“Yes, sir.”
“Well, sir, we must close the hatches.”
“Exactly, and I came to say to you--”
“Nothing can be more simple,” said Captain Nemo. And, pressing an electric button, he transmitted an order to the ship’s crew.
“It is all done, sir,” said he, after some moments. “The pinnace is ready, and the hatches are closed. You do not fear, I imagine, that these gentlemen could stave in walls on which the balls of your frigate have had no effect?”
“No, Captain; but a danger still exists.”
“What is that, sir?”
“It is that to-morrow, at about this hour, we must open the hatches to renew the air of the Nautilus. Now, if, at this moment, the Papuans should occupy the platform, I do not see how you could prevent them from entering.”
“Then, sir, you suppose that they will board us?”
“I am certain of it.”
“Well, sir, let them come. I see no reason for hindering them. After all, these Papuans are poor creatures, and I am unwilling that my visit to the island should cost the life of a single one of these wretches.”
Upon that I was going away; But Captain Nemo detained me, and asked me to sit down by him. He questioned me with interest about our excursions on shore, and our hunting; and seemed not to understand the craving for meat that possessed the Canadian. Then the conversation turned on various subjects, and, without being more communicative, Captain Nemo showed himself more amiable.
Amongst other things, we happened to speak of the situation of the Nautilus, run aground in exactly the same spot in this strait where Dumont d’Urville was nearly lost. Apropos of this:
“This D’Urville was one of your great sailors,” said the Captain to me, “one of your most intelligent navigators. He is the Captain Cook of you Frenchmen. Unfortunate man of science, after having braved the icebergs of the South Pole, the coral reefs of Oceania, the cannibals of the Pacific, to perish miserably in a railway train! If this energetic man could have reflected during the last moments of his life, what must have been uppermost in his last thoughts, do you suppose?”
So speaking, Captain Nemo seemed moved, and his emotion gave me a better opinion of him. Then, chart in hand, we reviewed the travels of the French navigator, his voyages of circumnavigation, his double detention at the South Pole, which led to the discovery of Adelaide and Louis Philippe, and fixing the hydrographical bearings of the principal islands of Oceania.
“That which your D’Urville has done on the surface of the seas,” said Captain Nemo, “that have I done under them, and more easily, more completely than he. The Astrolabe and the Zelee, incessantly tossed about by the hurricane, could not be worth the Nautilus, quiet repository of labour that she is, truly motionless in the midst of the waters.
“To-morrow,” added the Captain, rising, “to-morrow, at twenty minutes to three p.m., the Nautilus shall float, and leave the Strait of Torres uninjured.”
Having curtly pronounced these words, Captain Nemo bowed slightly. This was to dismiss me, and I went back to my room.
There I found Conseil, who wished to know the result of my interview with the Captain.
“My boy,” said I, “when I feigned to believe that his Nautilus was threatened by the natives of Papua, the Captain answered me very sarcastically. I have but one thing to say to you: Have confidence in him, and go to sleep in peace.”
“Have you no need of my services, sir?”
“No, my friend. What is Ned Land doing?”
“If you will excuse me, sir,” answered Conseil, “friend Ned is busy making a kangaroo-pie which will be a marvel.”
I remained alone and went to bed, but slept indifferently. I heard the noise of the savages, who stamped on the platform, uttering deafening cries. The night passed thus, without disturbing the ordinary repose of the crew. The presence of these cannibals affected them no more than the soldiers of a masked battery care for the ants that crawl over its front.
At six in the morning I rose. The hatches had not been opened. The inner air was not renewed, but the reservoirs, filled ready for any emergency, were now resorted to, and discharged several cubic feet of oxygen into the exhausted atmosphere of the Nautilus.
I worked in my room till noon, without having seen Captain Nemo, even for an instant. On board no preparations for departure were visible.
I waited still some time, then went into the large saloon. The clock marked half-past two. In ten minutes it would be high-tide: and, if Captain Nemo had not made a rash promise, the Nautilus would be immediately detached. If not, many months would pass ere she could leave her bed of coral.
However, some warning vibrations began to be felt in the vessel. I heard the keel grating against the rough calcareous bottom of the coral reef.
At five-and-twenty minutes to three, Captain Nemo appeared in the saloon.
“We are going to start,” said he.
“Ah!” replied I.
“I have given the order to open the hatches.”
“And the Papuans?”
“The Papuans?” answered Captain Nemo, slightly shrugging his shoulders.
“Will they not come inside the Nautilus?”
“How?”
“Only by leaping over the hatches you have opened.”
“M. Aronnax,” quietly answered Captain Nemo, “they will not enter the hatches of the Nautilus in that way, even if they were open.”
I looked at the Captain.
“You do not understand?” said he.
“Hardly.”
“Well, come and you will see.”
I directed my steps towards the central staircase. There Ned Land and Conseil were slyly watching some of the ship’s crew, who were opening the hatches, while cries of rage and fearful vociferations resounded outside.
The port lids were pulled down outside. Twenty horrible faces appeared. But the first native who placed his hand on the stair-rail, struck from behind by some invisible force, I know not what, fled, uttering the most fearful cries and making the wildest contortions.
Ten of his companions followed him. They met with the same fate.
Conseil was in ecstasy. Ned Land, carried away by his violent instincts, rushed on to the staircase. But the moment he seized the rail with both hands, he, in his turn, was overthrown.
“I am struck by a thunderbolt,” cried he, with an oath.
This explained all. It was no rail; but a metallic cable charged with electricity from the deck communicating with the platform. Whoever touched it felt a powerful shock-and this shock would have been mortal if Captain Nemo had discharged into the conductor the whole force of the current. It might truly be said that between his assailants and himself he had stretched a network of electricity which none could pass with impunity.
Meanwhile, the exasperated Papuans had beaten a retreat paralysed with terror. As for us, half laughing, we consoled and rubbed the unfortunate Ned Land, who swore like one possessed.
But at this moment the Nautilus, raised by the last waves of the tide, quitted her coral bed exactly at the fortieth minute fixed by the Captain. Her screw swept the waters slowly and majestically. Her speed increased gradually, and, sailing on the surface of the ocean, she quitted safe and sound the dangerous passes of the Straits of Torres.