CHƯƠNG XXII: NHỮNG LỜI CUỐI CÙNG CỦA THUYỀN TRƯỞNG NEMO

Các tấm ván thép đã sập xuống, khép lại tấn bi kịch kinh hoàng vừa phơi bày trước mắt, nhưng ánh sáng vẫn chưa trở lại phòng khách: bên trong chiếc Nautilus giờ đây chỉ còn bóng tối và sự im lặng chết chóc. Ở độ sâu hàng trăm thước dưới mặt đại dương, con tàu đang lao đi với tốc độ xé nước, bỏ lại phía sau hiện trường hoang tàn ấy. Nó đang hướng về đâu? Ngược lên phương Bắc hay xuôi về phương Nam? Người đàn ông đó định trốn chạy đến phương trời nào sau đòn thù thảm khốc ngần ấy? Tôi lầm lũi trở về phòng. Nơi đó, Ned và Conseil vẫn chìm trong bầu không khí câm lặng nặng nề. Một nỗi sợ hãi tột độ trào dâng trong tôi mỗi khi nghĩ đến Thuyền trưởng Nemo. Bất kể ông từng chịu đựng nỗi đau đớn nhường nào từ bàn tay của những kẻ kia, ông cũng không có quyền nhân danh công lý để giáng xuống một hình phạt tàn nhẫn đến thế. Ông đã biến tôi, dẫu chẳng phải là kẻ đồng lõa, thì cũng bất đắc tự thành nhân chứng cho cuộc báo thù đẫm máu của mình. Mãi đến mười một giờ, ánh sáng điện mới bật sáng trở lại. Tôi bước ra phòng khách. Căn phòng trống huơ trống hoác. Tôi ghé mắt kiểm tra các thiết bị đo lường. Chiếc Nautilus đang nhắm thẳng hướng Bắc với vận tốc hai mươi lăm dặm một giờ, lúc lướt trên mặt sóng, lúc lại lặn sâu ba mươi thước. Đối chiếu với hải đồ, tôi nhận ra chúng tôi đang xuyên qua cửa biển Manche, đường đi đang cuốn phăng cả thân tàu về phía vùng biển phương Bắc với tốc độ kinh hồn bạt vía. Chỉ trong một đêm, chúng tôi đã vượt qua hai trăm dặm Đại Tây Dương. Màn đêm buông thõng, và biển cả chìm lỉm trong bóng tối mịt mùng cho đến khi vầng trăng nhô lên. Tôi quay lại phòng, nhưng trằn trọc mãi không sao chợp mắt nổi. Những cơn ác mộng rùng rợn cứ thế bủa vây lấy tôi. Cảnh tượng tàn sát hãi hùng bám riết lấy tâm trí, liên tục tái hiện trước mắt. Kể từ cái ngày định mệnh ấy, ai mà biết được chiếc Nautilus sẽ cuốn chúng tôi dạt về vùng nào nơi lưu vực Bắc Đại Tây Dương? Nó vẫn duy trì tốc độ điên rồ không lời giải đáp, vẫn lao đi giữa những lớp sương mù dày đặc xứ Bắc cực. Liệu nó sẽ cập bến Spitzbergen, hay dạt vào dải bờ biển Nova Zembla1? Liệu chúng tôi sẽ lang thang qua những vùng biển lạ lẫm, từ Bạch Hải, Biển Kara, Vịnh Obi, cho đến Quần đảo Liarrov và rặng bờ biển châu Á hoang vu nhường ấy? Tôi chịu, không thể nào đoán định nổi. Cảm giác về thời gian trong tôi cũng đã hoàn toàn tê liệt. Những chiếc đồng hồ trên tàu đều đã ngừng gõ nhịp. Dường như, hệt như chốn địa cực, ngày và đêm chẳng còn tuân theo quy luật tuần hoàn của tạo hóa nữa. Tôi có cảm giác mình đang bị hút vào một cõi huyễn hoặc, nơi trí tưởng tượng ma quái của Edgar Poe2 thỏa sức vùng vẫy. Tựa như chàng Gordon Pym3 huyền thoại, lúc nào tôi cũng nơm nớp mường tượng ra cảnh đụng độ "một bóng ma khổng lồ trùm kín mặt, sừng sững gác lối vào cực địa giữa thác nước ào ạt". Theo ước tính của tôi (dù rằng rất có thể tôi đã lầm)-hành trình lao dốc này của chiếc Nautilus đã kéo dài mười lăm hay hai mươi ngày có lẻ. Và tôi chẳng biết nó sẽ còn chìm nổi đến bao giờ, nếu không có một thảm kịch giáng xuống để chấm dứt chuỗi ngày vô định này. Giờ đây, bóng dáng Thuyền trưởng Nemo lẫn người thuyền phó của ông đều bặt tăm. Thậm chí không một thủy thủ nào xuất hiện dù chỉ trong khoảnh khắc. Chiếc Nautilus gần như thường trực lặn sâu dưới đáy đại dương. Mỗi khi chúng tôi nổi lên để nạp không khí, các nắp hầm tự động mở ra rồi đóng lại một cách vô hồn như cỗ máy. Trên bản đồ cũng chẳng còn lưu lại bất kỳ dấu vết định vị nào. Tôi hoàn toàn mất phương hướng. Còn gã thợ săn Canada, khi sức lực và lòng kiên nhẫn đã bị vắt kiệt, cũng giam mình trong phòng. Conseil không tài nào khơi mào được một cuộc trò chuyện với anh; và vì lo sợ rằng trong cơn bấn loạn cùng cực, Ned có thể làm liều, nên anh chàng phụ tá cứ luôn túc trực ngày đêm với lòng tận tụy không ngơi nghỉ. Một buổi sáng nọ (tôi chẳng thể nhớ rõ là ngày thứ mấy), giữa cơn ngái ngủ nặng trĩu lúc rạng đông, một giấc ngủ nhọc nhằn, rã rời, tôi chợt choàng tỉnh. Ned Land đang cúi rạp người bên giường, thì thầm sát tai tôi: “Chúng ta sắp trốn thoát rồi.” Tôi ngồi bật dậy.

“Khi nào chúng ta sẽ đi?” tôi khẽ hỏi.

“Đêm nay. Mọi hoạt động kiểm tra trên chiếc Nautilus dường như đã ngưng bặt. Tất cả bọn họ có vẻ như đang tê liệt hoàn toàn. Ngài sẽ chuẩn bị sẵn sàng chứ, thưa giáo sư?”

“Có; nhưng chúng ta đang ở đâu?”

“Đã nhìn thấy đất liền. Sáng nay tôi đã tranh thủ đo đạc giữa làn sương mù-chúng ta đang cách bờ biển chừng hai mươi dặm về hướng đông.”

“Đó là xứ sở nào?”

“Tôi không rõ; nhưng, dù đó là đâu, chúng ta cũng sẽ tìm được nơi tị nạn.”

“Được, Ned, được. Đêm nay chúng ta sẽ đào tẩu, dẫu cho biển cả này có chực chờ nuốt chửng chúng ta đi chăng nữa.”

“Biển đang động dữ dội, gió giật từng cơn, nhưng khoảng cách hai mươi dặm trên chiếc thuyền nhẹ của tàu Nautilus không thể làm khó tôi được. Tranh thủ lúc đám thủy thủ lơ là, tôi đã lén tuồn được một ít lương khô và vài chai nước.”

“Tôi sẽ sát cánh cùng anh.”

“Nhưng,” người thợ săn Canada gằn giọng, “nếu chẳng may bị phát hiện, tôi sẽ chống trả đến cùng; tôi sẽ buộc chúng phải kết liễu mạng sống của tôi.”

“Chúng ta sẽ cùng sống chết, anh bạn Ned ạ.”

Tôi đã hạ quyết tâm đón nhận mọi hậu quả. Người thợ săn rời đi. Tôi bước ra đài quan sát, nơi những đợt sóng hung hãn chực chờ hất văng tôi nhào xuống. Bầu trời vần vũ đầy vẻ hăm dọa; thế nhưng, đất liền đã nằm lẩn khuất trong những vệt bóng tối nâu thẫm kia, và chúng tôi bằng mọi giá phải trốn thoát. Tôi quay trở lại phòng khách, mang trong lòng mớ cảm xúc hỗn độn: vừa sợ hãi lại vừa mong mỏi giáp mặt Thuyền trưởng Nemo, vừa khao khát lại vừa lảng tránh cái nhìn của ông. Tôi có thể nói được gì với ông đây? Liệu tôi có đủ sức che đậy nỗi kinh hoàng hằn sâu trong vô thức mà ông đã gieo rắc vào tâm trí tôi? Không. Tốt hơn cả là tôi không nên chạm trán ông; tốt hơn cả là hãy gạt hình bóng ông ra khỏi tâm trí. Ấy thế mà-- Ngày hôm đó, ngày cuối cùng tôi lưu lại trên chiếc Nautilus, sao mà trôi qua chậm chạp và dài lê thê đến vậy. Tôi thui thủi một mình. Ned Land và Conseil chủ động tránh mặt, sợ rằng sơ suất nhỏ sẽ làm lộ kế hoạch. Tầm sáu giờ, tôi dùng bữa tối, nhưng chẳng có chút cảm giác thèm ăn; tôi đành nhắm mắt nhắm mũi nuốt chửng thức ăn để ép cơ thể không bị kiệt sức. Lúc sáu giờ rưỡi, Ned Land tạt ngang phòng tôi, khẽ dặn dò: “Chúng ta sẽ không gặp lại nhau cho tới lúc khởi hành. Mười giờ đêm nay trăng vẫn chưa lên đâu. Chúng ta sẽ nương theo bóng tối để tẩu thoát. Hãy đến chỗ chiếc thuyền; Conseil và tôi sẽ đợi ngài ở đó.”

Anh chàng người Canada vội vã bước ra ngoài, chẳng hề để tôi kịp thốt lên nửa lời hồi đáp. Nôn nóng muốn kiểm tra xem chiếc Nautilus đang rẽ sóng về đâu, tôi rảo bước tiến vào phòng khách. Chúng tôi đang lao đi với một tốc độ kinh hoàng về hướng đông bắc Đông Bắc, ở độ sâu hơn năm mươi thước dưới đáy đại dương. Tôi đưa mắt ngắm nhìn lần cuối những kỳ quan vô giá của tạo hóa, những kiệt tác nghệ thuật được cất giữ trong viện bảo tàng kỳ vĩ này-một bộ sưu tập độc nhất vô nhị trên thế gian nay sắp sửa phải vùi thây dưới đáy biển sâu thẳm, cùng với chính người đã dày công tạo ra nó. Tôi khao khát khắc sâu một ấn tượng không thể phai mờ về nơi chốn này vào tận sâu thẳm tâm trí mình. Cứ thế, tôi đứng lặng lẽ suốt cả một giờ đồng hồ, đắm chìm trong thứ ánh sáng rực rỡ hắt xuống từ trần nhà, và thu vào tầm mắt từng báu vật đang tỏa ra ánh hào quang lung linh dưới lớp kính bảo vệ. Mãi sau, tôi mới quay bước trở về phòng.

Tôi vận lên người bộ đồ đi biển chắc chắn, thu thập hết mọi ghi chép của mình rồi cẩn thận giấu kín chúng trong người. Trái tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi chẳng tài nào kìm hãm nổi nhịp đập điên cuồng ấy. Thể nào sự bối rối và tâm trạng kích động này cũng sẽ tố cáo tôi nếu vô tình chạm phải ánh nhìn sắc lạnh của Thuyền trưởng Nemo. Giờ phút này, ông đang làm gì? Tôi áp tai lắng nghe bên ngoài cửa phòng ông. Có tiếng bước chân trầm đục vang lên. Thuyền trưởng Nemo đang ở trong đó. Ông vẫn chưa chợp mắt. Lúc nào tôi cũng nơm nớp lo sợ sẽ thấy ông đột ngột xuất hiện và chất vấn tại sao tôi lại muốn bỏ trốn. Tôi luôn bị bủa vây trong trạng thái cảnh giác đến tột độ. Trí tưởng tượng phong phú lại càng phóng đại mọi bề. Cảm giác ngột ngạt ấy đến cuối cùng trở nên nhức nhối tới mức, tôi tự hỏi liệu có nên chăng bước thẳng đến phòng Thuyền trưởng, đối diện trực tiếp với ông, và dũng cảm nhìn thẳng vào mắt ông với một thái độ kiên quyết.

Đó quả là một ý nghĩ rồ dại; nhưng may thay, tôi đã kịp thời kìm hãm được sự bốc đồng ấy, ngả người xuống giường mong làm dịu đi những cơn chấn động đang chạy rần rần trong huyết quản. Thần kinh tôi dần lắng xuống đôi chút, nhưng trong bộ não vẫn còn đang căng như dây đàn, tôi lại mường tượng ra toàn bộ hành trình của mình trên chiếc Nautilus; từng sự kiện, dẫu là niềm vui sướng tột cùng hay nỗi rủi ro cay đắng, đã diễn ra kể từ giây phút tôi bị ném khỏi boong tàu Abraham Lincoln-cuộc đi săn dưới đáy biển thẳm, Eo biển Torres, những thổ dân hoang dã ở Papua, sự cố mắc cạn, nghĩa địa san hô đượm buồn, chuyến hành trình vượt kênh đào Suez, Đảo Santorin, người thợ lặn dũng cảm xứ Crete, Vịnh Vigo, lục địa Atlantic chìm đắm, tảng băng trôi vĩ đại, Nam Cực lạnh lẽo, sự giam cầm trong ngục tù băng giá, cuộc tử chiến với bầy mực khổng lồ, cơn bão dữ dội ở Gulf Stream, con tàu Avenger4, và cả cái cảnh tượng kinh hoàng đến rợn người của con tàu bị đánh chìm kéo theo toàn bộ sinh mạng thủy thủ đoàn. Tất cả những ký trực ấy cứ lướt qua trước mắt tôi tựa như những thước phim cuồn cuộn. Trong khoảnh khắc ấy, hình ảnh Thuyền trưởng Nemo bỗng chốc trở nên to lớn dị thường, từng đường nét của ông khoác lên một vẻ đẹp siêu phàm. Đối với tôi, ông không còn là một con người bằng xương bằng thịt, mà đã hóa thân thành người cai quản vùng nước, thành một vị thần uy quyền của biển cả.

Lúc ấy đã là chín rưỡi. Tôi ôm chặt lấy đầu, ngỡ như nó sắp vỡ tung ra thành từng mảnh. Tôi nhắm nghiền mắt lại; tôi chẳng muốn phải suy nghĩ thêm bất cứ điều gì nữa. Vẫn còn nửa giờ đồng hồ nữa phải mỏi mòn chờ đợi, nửa giờ của một cơn ác mộng dai dẳng, một điều hoàn toàn có thể đẩy tôi đến bờ vực của sự điên loạn.

Đúng vào giây phút đó, vẳng đến tai tôi là tiếng đại phong cầm từ xa vọng lại, một bản hòa âm bi ai cất lên khúc ca chẳng thể diễn tả nổi bằng lời, nghe như tiếng khóc than xé lòng của một linh hồn đang khắc khoải muốn phá nát những gông cùm trần thế. Tôi căng mọi giác quan ra lắng nghe, gần như chẳng dám thở mạnh; cứ thế đắm chìm, giống như Thuyền trưởng Nemo, vào trạng thái ngây ngất của một thứ âm nhạc đang kéo lê tinh thần ông trôi dạt đến những giới hạn cuối cùng của sự tồn tại.

Thế rồi, một ý nghĩ bất chợt xẹt qua khiến tôi sởn gai ốc. Thuyền trưởng Nemo đã rời khỏi phòng. Ông đang ở ngay tại phòng khách, nơi mà tôi buộc phải đi qua nếu muốn trốn thoát. Tại đó, tôi sẽ phải chạm trán ông lần cuối cùng. Ông sẽ nhìn thấy tôi, và biết đâu đấy, sẽ lên tiếng hỏi han. Chỉ cần một cử chỉ của ông thôi cũng đủ để tiêu diệt tôi, chỉ một lời nói duy nhất cũng đủ để vĩnh viễn giam cầm tôi trên con tàu này.

Nhưng đồng hồ đã điểm gần mười giờ. Đã đến lúc tôi phải bước ra khỏi phòng, để hội ngộ cùng những người bạn đồng hành của mình.

Tôi tuyệt đối không được do dự, dẫu cho chính Thuyền trưởng Nemo có hiện diện ngay trước mắt tôi đi chăng nữa. Tôi cẩn trọng hé mở cánh cửa; và ngay cả trong khoảnh khắc ấy, khi cánh cửa vừa xoay nhẹ trên bản lề, nó dường như cũng phát ra một âm thanh đinh tai nhức óc. Hoặc cũng có thể, tất cả chỉ là do trí tưởng tượng của tôi mà thôi.

Tôi rón rén lẻn qua những bậc thang tăm tối của chiếc Nautilus, cứ qua mỗi bậc lại phải khựng lại để dằn xuống nhịp tim đang đập thình thịch. Tới trước cửa phòng khách, tôi khẽ khàng đẩy cửa. Cả căn phòng chìm khuất trong bóng tối hun hút. Âm vang từ chiếc đại phong cầm lơ lửng, khe khẽ rót vào không gian. Thuyền trưởng Nemo đang ở đó. Ông không hề hay biết sự xuất hiện của tôi. Thậm chí dẫu cho nơi đây có ngập tràn ánh sáng đi chăng nữa, tôi tin rằng ông cũng chẳng màng để mắt tới, bởi tâm trí ông lúc này đã hoàn toàn chìm đắm trong một trạng thái ngây ngất miên man.

Tôi trườn dọc theo mặt thảm, cẩn trọng để không phát ra dẫu chỉ là một tiếng động nhỏ nhất có thể tố giác mình. Phải mất ít nhất năm phút chật vật, tôi mới chạm tới được cánh cửa phía đối diện dẫn sang thư viện.

Ngay khi tôi toan mở cửa, một tiếng thở dài não nuột cất lên từ phía Thuyền trưởng Nemo khiến tôi đứng sững lại như trời trồng. Tôi biết ông đang chậm rãi đứng lên. Qua dải ánh sáng mờ ảo từ thư viện hắt ngang phòng khách, tôi thậm chí còn nhìn rõ bóng dáng ông. Ông lặng lẽ tiến về phía tôi, hai tay khoanh trước ngực, lướt đi vô hồn tựa một bóng ma thay vì là những bước chân của người phàm. Lồng ngực ông phập phồng bật ra từng tiếng nức nở nghẹn ngào, và rồi tôi nghe ông thì thào những lời này-những thanh âm cuối cùng lọt vào tai tôi:

“Lạy Thượng Đế! Con xin Người, đủ rồi! Đủ rồi!”

Phải chăng đó là lời xưng tội đầy ăn năn đang thốt lên từ tận cùng lương tri của người đàn ông ấy?

Trong nỗi tuyệt vọng tột cùng, tôi lao vụt qua thư viện, leo lên chiếc cầu thang trung tâm, bám theo lối đi dẫn lên boong trên rồi vội vã chui vào chiếc thuyền nhỏ. Tôi lách mình qua cái lỗ hổng mà hai người bạn đồng hành của tôi đã lọt vào từ trước.

“Đi thôi anh! Đi thôi!” tôi nghẹn ngào kêu lên.

“Đi ngay đây ngài!” người Canada quả quyết đáp lại.

Nắp sập nối với khoang chiếc Nautilus đã được khóa kín từ bên trong, siết chặt bằng chiếc cờ-lê tự chế mà Ned Land đã cất công chuẩn bị; nắp đậy trên thuyền nhỏ cũng đã được đóng lại an toàn. Ngay sau đó, anh thợ săn cá voi bắt tay vào việc nới lỏng những chiếc bu lông đang neo giữ chúng tôi vào mạn tàu ngầm.

Đột nhiên, một tiếng ồn ào dội lại. Những giọng nói ầm ĩ đáp lời nhau từ bên dưới. Chuyện gì đang xảy ra thế này? Lẽ nào họ đã phát hiện ra cuộc tẩu thoát của chúng tôi? Tôi bỗng cảm nhận được Ned Land vừa dúi một thanh dao găm sắc lẹm vào tay mình.

“Đúng rồi,” tôi thì thào, “chúng ta thà chết chứ không chịu khuất phục!”

Người Canada khựng lại. Nhưng một từ ngữ cứ lặp đi lặp lại vô vàn lần, một từ ngữ mang âm hưởng kinh hoàng tột độ, đã hé lộ nguyên nhân của sự hỗn loạn đang bùng lên khắp chiếc Nautilus. Thủy thủ đoàn hoàn toàn không truy lùng chúng tôi!

“Maelstrom! Xoáy nước Maelstrom5!” Liệu có âm thanh nào khủng khiếp hơn vang lên bên tai chúng tôi trong tình cảnh vô vọng này chăng! Vậy ra, chúng tôi đang trôi dạt dọc theo bờ biển hiểm ác của Na Uy. Có phải chiếc Nautilus đang vô tình lao thẳng vào vực thẳm tử thần ngay lúc chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi rục rịch tách khỏi mạn tàu? Ai cũng biết rằng, vào lúc thủy triều dâng cao, những dòng nước cuồn cuộn chen chúc giữa các hòn đảo Ferroe và Loffoden6 sẽ đổ ập vào nhau với sức mạnh dời non lấp biển. Chúng cuộn xiết, tạo thành một vòng xoáy khổng lồ mà không một con tàu nào có thể thoát ra nổi. Từ mọi phía của chân trời, những ngọn sóng dữ tợn hội tụ lại, khoét sâu thành một vực thẳm được mệnh danh là “Cái rốn của Đại Dương”. Sức hút kinh hồn của nó vươn xa tới tận mười hai dặm. Nơi chốn ác nghiệt ấy không chỉ nuốt trọn tàu bè, mà ngay cả những con cá voi khổng lồ hay những con gấu trắng từ phương Bắc cũng đành bỏ mạng.

Chính tại nơi đó, dù vô tình hay hữu ý, vị Thuyền trưởng đã đưa con tàu Nautilus đi vào.

Con tàu ngầm đang quay cuồng theo một đường xoắn ốc, mỗi lúc một thu hẹp dần. Và chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi, vẫn đang dính chặt vào mạn tàu, cũng bị cuốn phăng đi với tốc độ chóng mặt. Tôi có thể cảm nhận rõ cơn buồn nôn choáng váng ập đến khi vạn vật cứ quay cuồng, chao đảo không ngừng.

Chúng tôi chìm trong nỗi khiếp sợ tột cùng. Sự kinh hoàng lên đến đỉnh điểm khiến máu huyết như ngừng chảy, hệ thần kinh tê liệt hoàn toàn. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cơ thể, hệt như những giọt mồ hôi trong cơn hấp hối! Tiếng ầm ĩ gầm gào vây bủa lấy chiếc thuyền nhỏ bé của chúng tôi nghe mới hãi hùng làm sao! Những tiếng gầm rú ấy còn được cộng hưởng bởi những âm vang dội lại từ xa hàng dặm! Quả là một cơn thịnh nộ của những luồng nước vỡ tung khi va đập vào những rặng đá nhọn hoắt dưới đáy sâu. Nơi ấy, những vật thể cứng rắn nhất cũng phải nghiền nát, những thân cây chắc khỏe nhất cũng bị bào mòn tơi tả, “với tất cả phần vỏ bị tước đi không còn một mảnh,” đúng như cách người Na Uy vẫn thường ví von!

Thật là một viễn cảnh rùng rợn! Chúng tôi bị quăng quật, chao đảo dữ dội. Chiếc Nautilus cũng đang oằn mình chống trả, kiên cường như một sinh thể sống. Những thớ cơ bằng thép của nó kêu răng rắc rợn người. Đôi lúc nó như nhô hẳn lên mặt nước, mang theo cả chúng tôi chênh vênh giữa không trung!

“Chúng ta phải bám cho chắc,” Ned nói, “và để mắt tới những chiếc bu lông kia. Chúng ta vẫn có hy vọng sống sót nếu tiếp tục bám trụ vào chiếc Nautilus.”

Anh ta vừa dứt lời, một tiếng vỡ loảng xoảng xé toạc màng nhĩ. Những chiếc bu lông đứt phăng. Con thuyền nhỏ bị xé toạc khỏi mạn tàu, bắn vọt đi như một hòn đá văng ra từ chiếc súng phóng đá khổng lồ, lao thẳng vào tâm vòng xoáy nước.

Đầu tôi va mạnh vào một thanh sắt. Cú va đập kinh hoàng ấy đã cướp đi toàn bộ ý thức của tôi.



  1. Quần đảo của Nga nằm ở Bắc Băng Dương (tiếng Nga là Novaya Zemlya), nơi có khí hậu vô cùng giá lạnh. 

  2. Edgar Allan Poe (1809-1849) là nhà văn người Mỹ nổi tiếng với các tác phẩm rùng rợn, bí ẩn và được coi là người khai sinh ra thể loại truyện trinh thám. 

  3. Nhân vật chính trong tiểu thuyết duy nhất của Edgar Allan Poe. Chi tiết "bóng ma khổng lồ" ám chỉ kết thúc đầy bí ẩn và kỳ ảo của cuốn sách này khi nhân vật tiến về vùng cực. 

  4. Tên tiếng Anh có nghĩa là "Người báo thù", là con tàu mà Thuyền trưởng Nemo nhắc đến, gắn liền với quá khứ bi thương và lòng hận thù của ông. 

  5. Hệ thống xoáy nước cực lớn và nguy hiểm có thật ở ngoài khơi bờ biển Na Uy, từng xuất hiện trong nhiều truyền thuyết biển cả với sức mạnh nuốt chửng mọi tàu thuyền. 

  6. Faroe và Lofoten là những quần đảo nằm ở khu vực Bắc Âu, nổi tiếng với địa hình hiểm trở và những dòng hải lưu mạnh mẽ tạo ra các xoáy nước nguy hiểm.