CHƯƠNG XVIII: VANIKORO

Cảnh tượng kinh hoàng ấy như một điềm báo trước cho hàng loạt thảm họa hàng hải mà chiếc Nautilus định mệnh sẽ còn bắt gặp trên hải trình của nó. Chừng nào tàu còn luồn lách qua những vùng biển nhộn nhịp tàu bè qua lại, chúng tôi còn thường xuyên nhìn thấy vô vàn xác tàu đắm đang rữa nát dưới đáy sâu thẳm. Còn ở những tầng đáy sâu hơn nữa, phơi mình ra đó là súng đại bác, đạn pháo, mỏ neo, dây xích cùng hàng ngàn vật dụng bằng sắt đã hoen gỉ, bị đại dương bào mòn theo năm tháng. Thế nhưng, vào ngày 11 tháng Mười hai, chúng tôi đã bỏ lại những tàn tích ấy để chiêm ngưỡng Quần đảo Pomotou, hay "nhóm đảo hiểm nghèo" theo cách gọi xưa kia của Bougainville. Quần đảo trải dài suốt 500 dặm từ hướng Đông - Đông Nam sang Tây - Tây Bắc, kéo dài từ đảo Ducie đến tận đảo Lazareff. Ôm trọn một diện tích rộng chừng 370 dặm vuông, quần đảo này được bồi đắp từ sáu mươi nhóm đảo nhỏ, nổi bật trong số đó là nhóm đảo Gambier hiện đang thuộc quyền kiểm soát của nước Pháp. Những hòn đảo san hô này vẫn đang vươn mình lên một cách chậm rãi nhưng không ngừng nghỉ, kết tinh từ nỗ lực âm thầm mỗi ngày của các loài polyp. Rồi đây, một ngày nào đó, dải đất mới này sẽ vươn mình nối liền với các nhóm đảo lân cận, để từ đó một lục địa thứ năm sẽ thành hình, trải dài từ New Zealand và New Caledonia vươn đến tận quần đảo Marquesas.

Một ngày nọ, khi tôi mang giả thuyết này ra chia sẻ cùng thuyền trưởng Nemo, ngài chỉ đáp lại bằng một giọng điệu lạnh lùng:

"Trái đất chẳng cần thêm những lục địa mới, thứ nó cần là những con người mới."

Theo dòng hải lưu xui khiến, chiếc Nautilus tiến về phía đảo Clermont-Tonnere, một trong những hòn đảo mang vẻ đẹp kỳ thú nhất của cả quần đảo, từng được thuyền trưởng Bell trên tàu Minerva khám phá vào năm 1822. Lần này, tôi đã có cơ hội nghiên cứu cặn kẽ hệ thống san hô lỗ, chính là những nhà kiến trúc đại tài đã kiến tạo nên các hòn đảo giữa đại dương mênh mông này.

San hô lỗ (vốn không nên nhầm lẫn với san hô thông thường) sở hữu một lớp mô được bao bọc bởi lớp vỏ đá vôi. Chính những biến đổi đa dạng trong cấu trúc ấy đã khiến ngài Milne Edwards, người thầy vô cùng đáng kính của tôi, phải dày công phân loại chúng thành năm nhóm riêng biệt. Những vi sinh vật do các polyp biển tiết ra chung sống thành hàng triệu cá thể sâu dưới đáy tế bào của chúng. Rồi từng lớp cặn đá vôi mà chúng chắt chiu sẽ dần hóa đá, tạo thành những rạn đá ngầm vững chãi và vươn mình thành vô vàn hòn đảo lớn nhỏ. Tại một số nơi, chúng đan kết thành một vòng tròn hoàn mỹ, ôm trọn lấy một hồ nước tĩnh lặng xen giữa đất liền, chỉ rẽ vài khe hở để lén lút hòa mình với biển cả. Ở một vùng khác, chúng lại vươn mình cản sóng, tựa như những rạn san hô chắn sóng bảo vệ bờ biển New Caledonia và muôn vàn đảo Pomoton khác. Còn tại những nơi như Reunion hay Maurice, chúng kiêu hãnh dựng lên những rạn san hô viền - những bức thành lốm đốm sắc màu dựng đứng hiên ngang, nơi đại dương đạt đến độ sâu thật đáng kinh ngạc.

Cách bờ biển đảo Clermont vài chiều dài dây cáp, tôi thỏa sức chiêm ngưỡng kiệt tác khổng lồ do những người thợ bé nhỏ này cặm cụi dựng nên. Những bức tường thành đồ sộ ấy đặc biệt là công trình của các dòng san hô lỗ có tên gọi như millepora, porites, madrepores hay astraeas. Những loài polyp này vốn dĩ ưa cư ngụ ở những vùng đáy biển gồ ghề chốn nước cạn. Chính vì thế, chúng khởi công xây dựng từ lớp mặt trên cùng, rồi qua thời gian, chúng tự vùi lấp chính mình bằng những mảnh vụn từ lớp dịch tiết đã từng nâng đỡ bản thân. Ít nhất, đó cũng là giả thuyết của Darwin, người đã kiến giải sự hình thành của các đảo san hô vòng (atolls)1 theo cơ chế này. Theo tôi, đây là một giả thuyết ưu việt hơn hẳn so với quan điểm cho rằng nền móng của những công trình san hô lỗ này vốn dĩ là đỉnh của những ngọn núi hay núi lửa nằm say ngủ dưới mực nước biển chỉ vài feet.

Tôi có thể dễ dàng thu vào tầm mắt mọi ngóc ngách của những bức thành kỳ vĩ này, bởi dẫu chúng đâm sâu xuống theo chiều dọc tới hơn 300 thước, những luồng ánh sáng điện rực rỡ từ con tàu chúng tôi đã xuyên thấu đại dương, thắp sáng cả khối vật chất đá vôi ấy một cách lộng lẫy. Khi Conseil tò mò gặng hỏi tôi về thời gian cần thiết để vươn lên thành những rào chắn khổng lồ dường này, tôi đã khiến cậu vô cùng sửng sốt khi tiết lộ rằng: theo ước tính của các nhà khoa học, chúng chỉ cao thêm vỏn vẹn một phần tám inch sau một thế kỷ dằng dặc.

Về chiều, hình bóng đảo Clermont-Tonnerre dần chìm vào sương mờ phía xa, và tuyến đường của chiếc Nautilus cũng thay đổi rõ rệt. Sau khi vượt qua chí tuyến Nam ở kinh độ 135°, con tàu đổi hướng sang Tây Tây Bắc, một lần nữa tiến sâu vào vùng nhiệt đới. Dẫu cho ánh nắng mùa hè trên kia có chói chang đến mấy, chúng tôi ở đây vẫn không mảy may cảm thấy ngột ngạt. Bởi lẽ, khi lặn sâu từ mười lăm đến hai mươi sải dưới mặt nước, nhiệt độ luôn êm ái duy trì quanh mức mười đến mười hai độ.

Vào ngày 15 tháng Mười hai, chúng tôi bỏ lại phía đông nhóm đảo Societies quyến rũ, cùng hòn đảo Tahiti kiều diễm vốn được mệnh danh là nữ hoàng của Thái Bình Dương. Sáng hôm ấy, hướng mắt về phía đón gió cách đó vài dặm, tôi chiêm ngưỡng những đỉnh núi cao vút của hòn đảo vươn mình đâm toạc trời xanh. Những vùng nước trù phú nơi đây đã hào phóng chiêu đãi bàn ăn của chúng tôi bao thức cá tuyệt hảo, từ cá thu, cá ngừ, cho đến vài loài rắn biển lạ miệng.

Sang đến ngày 25 tháng Mười hai, chiếc Nautilus nhẹ nhàng lướt vào giữa vùng biển New Hebrides. Đây là quần đảo từng được Quiros khám phá vào năm 1606, được Bougainville thám hiểm vào năm 1768, và cuối cùng được Cook đặt cho cái tên như hiện tại vào năm 1773. Cụm đảo này chủ yếu bao gồm chín hòn đảo lớn, nối kết thành một dải đất dài 120 dặm vắt ngang từ Bắc - Bắc Nam xuống tận Nam - Nam Tây, tọa lạc giữa vĩ độ 15° và 2° Nam, kinh độ 164° và 168° Đông. Chúng tôi lướt qua khá gần đảo Aurou. Dưới ánh nắng ban trưa, hòn đảo hiện lên tựa như một khối rừng xanh thẳm khổng lồ, kiêu hãnh đội trên đầu một đỉnh núi sừng sững uy nghi.

Hôm đó là lễ Giáng sinh. Ned Land lộ rõ vẻ tiếc nuối tột cùng. Anh khao khát được đón "Giáng sinh", một ngày lễ tụ họp gia đình thiêng liêng mà những tín đồ Tin Lành vô cùng trân trọng. Về phần mình, tôi đã bặt tin thuyền trưởng Nemo suốt một tuần liền. Mãi cho đến sáng ngày 27, ngài mới bước vào phòng khách lớn. Dáng vẻ của ngài vẫn thản nhiên, tựa như chúng tôi vừa chia tay nhau mới năm phút trước. Lúc bấy giờ, tôi đang mải mê vạch hải trình của chiếc Nautilus trên tấm bản đồ phẳng. Vị thuyền trưởng chậm rãi tiến đến bên cạnh. Ngài đặt ngón tay trỏ lên một chấm nhỏ trên hải đồ, rồi thốt lên vỏn vẹn một từ.

"Vanikoro."

Âm vang của từ ấy mang một sức mạnh kỳ diệu! Đó chính là tên quần đảo nơi nhà thám hiểm La Perouse2 vĩnh viễn nằm lại cùng biển khơi! Quá đỗi kinh ngạc, tôi bật hẳn dậy.

"Chiếc Nautilus đã đưa chúng ta đến Vanikoro rồi sao?" tôi dồn dập hỏi.

"Đúng vậy, thưa Giáo sư," thuyền trưởng điềm tĩnh đáp.

"Vậy tôi có thể lên bờ, ghé thăm những hòn đảo nổi danh nơi hai chiếc Boussole và Astrolabe gặp nạn chứ?"

"Nếu ngài muốn, thưa Giáo sư."

"Thế khi nào chúng ta mới cập bến?"

"Chúng ta đã ở đó rồi."

Nghe vậy, tôi vội vã nối gót thuyền trưởng Nemo bước lên boong tàu. Đôi mắt tôi háo hức quét dọc đường chân trời.

Phía Đông Bắc, hai hòn đảo núi lửa nhô lên giữa biển khơi với hình dáng lớn nhỏ khác nhau. Bao bọc lấy chúng là một rạn san hô khổng lồ vươn dài đến bốn mươi dặm. Chúng tôi đã tiến vào rất gần Vanikoro, mảnh đất mà Dumont d'Urville từng đặt cho cái tên Đảo Recherche. Lúc này, con tàu đang neo đậu ngay đối diện cảng nhỏ Vanou, chính xác tại vĩ độ 16° 4′ Nam và kinh độ 164° 32′ Đông. Hòn đảo khoác lên mình một tấm thảm xanh tươi tắn. Mảng xanh ấy trải dài từ tận mép sóng lên đến tận những đỉnh núi mờ sương sâu trong đất liền. Ngự trị trên cùng là ngọn núi Kapogo vươn cao 476 feet, tựa như một chiếc vương miện kiêu hãnh. Chiếc Nautilus, sau khi khéo léo lách qua một eo biển hẹp xuyên qua vành đai đá ngầm bao bọc bên ngoài, nhẹ nhàng trôi giữa những con sóng vỗ bạc đầu. Ở đây, mực nước sâu chừng ba mươi đến bốn mươi sải. Dưới những tán đước xanh um tùm ven bờ, tôi thoáng thấy bóng dáng vài người thổ dân. Họ lộ rõ vẻ sững sờ khi chứng kiến chúng tôi xé sóng tiến vào. Mang một vóc dáng thon dài đen nhánh, thoắt ẩn thoắt hiện giữa làn nước và những cơn gió lộng, hẳn họ đang kinh hãi thầm nghĩ chúng tôi là một loài cá voi khổng lồ quái dị nào đó.

Đúng lúc ấy, thuyền trưởng Nemo cất tiếng hỏi xem tôi biết gì về vụ đắm tàu lịch sử của La Perouse.

"Tôi chỉ biết những thông tin mà thiên hạ vẫn hay truyền tai nhau thôi, thưa thuyền trưởng," tôi thành thật đáp.

"Vậy ngài có phiền kể lại cho tôi nghe những điều mà thiên hạ vẫn hay truyền tai nhau đó không?" ngài khẽ hỏi dồn, giọng điệu pha chút mỉa mai kín đáo.

"Rất sẵn lòng."

Tôi liền thuật lại cho ngài nghe mọi chi tiết được công bố trong các ghi chép cuối cùng của Dumont d'Urville. Dưới đây là một bản tóm lược những gì tôi đã kể.

Năm 1785, vua Louis XVI đã giao phó cho La Perouse cùng vị phó quan của ông, thuyền trưởng de Langle, thực hiện một chuyến viễn du vòng quanh thế giới. Họ giương buồm trên hai con tàu hộ tống mang tên Boussole và Astrolabe. Thế nhưng, biển cả đã vĩnh viễn nuốt chửng họ. Không một tin tức nào lọt về quê nhà. Đến năm 1791, chính phủ Pháp bắt đầu lo ngại sâu sắc về số phận của hai con tàu xấu số. Họ liền trang bị hai chiếc tàu buôn cỡ lớn, Recherche và Esperance. Dưới quyền chỉ huy của Bruni d'Entrecasteaux, đoàn tìm kiếm rời bến Brest vào ngày 28 tháng Chín.

Hai tháng sau, họ nhận được một nguồn tin từ Bowen, thuyền trưởng tàu Albemarle. Ông cho biết người ta đã nhìn thấy nhiều mảnh vỡ xác tàu trôi dạt dọc theo bờ biển New Georgia. Tuy nhiên, D'Entrecasteaux lại tảng lờ manh mối này, phần vì nó quá đỗi mơ hồ. Ông quyết định bẻ lái, nhắm thẳng tới quần đảo Admiralty. Nơi này từng được thuyền trưởng Hunter đề cập trong bản báo cáo như là mồ chôn của La Perouse.

Nỗ lực của họ hoàn toàn vô vọng. Hai con tàu Esperance và Recherche đã lướt qua Vanikoro mà chẳng hề dừng chân. Chuyến đi ấy cuối cùng lại biến thành một thảm kịch. Nó cướp đi sinh mạng của chính D'Entrecasteaux, hai vị trung úy dưới quyền, cùng một số thủy thủ trong đoàn.

Chỉ đến khi thuyền trưởng Dillon xuất hiện, mọi chuyện mới dần sáng tỏ. Vốn là một tay đi biển Thái Bình Dương dạn dày và sắc sảo, ông là người đầu tiên lần ra những dấu vết đắm tàu xác đáng nhất. Ngày 15 tháng Năm năm 1824, chiếc St. Patrick của ông tình cờ đi ngang qua Tikopia, một hòn đảo thuộc quần đảo New Hebrides. Tại đây, một người đàn ông Lascar3 đã chèo thuyền độc mộc cập mạn tàu. Hắn bán cho ông chuôi của một thanh kiếm bằng bạc, trên đốc kiếm còn hằn rõ vài ký tự được khắc tỉ mỉ. Người Lascar kể lại rằng sáu năm về trước, khi lưu lại Vanikoro, hắn từng nhìn thấy hai người châu Âu. Họ là những người sống sót từ các con tàu đã mắc cạn trên rạn san hô cách đó nhiều năm.

Dillon lập tức phán đoán người Lascar đang nhắc đến La Perouse, vị thuyền trưởng mà sự mất tích đã làm rúng động cả thế giới. Ông dốc sức tìm đường đến Vanikoro. Theo lời người Lascar, nơi đó hẳn còn vùi lấp vô số mảnh vỡ của vụ đắm tàu. Đáng tiếc thay, những cơn gió chướng và những dòng thủy triều hung dữ đã chặn đứng bước tiến của ông.

Dillon đành quay mũi tàu trở về Calcutta. Tại đây, ông đã thành công trong việc thu hút sự quan tâm của Hiệp hội Châu Á và Công ty Đông Ấn4 về khám phá của mình. Nhờ đó, người ta đã giao phó cho ông một con tàu mang tên Recherche. Ngày 23 tháng Giêng năm 1827, ông lại giương buồm ra khơi cùng một vị đặc phái viên người Pháp.

Sau nhiều lần ghé trạm trên khắp Thái Bình Dương, chiếc Recherche cuối cùng cũng thả neo trước vùng biển Vanikoro vào ngày 7 tháng Bảy năm 1827. Trùng hợp thay, bến đỗ ấy chính là cảng Vanou, nơi chiếc Nautilus của chúng tôi đang dừng chân ngay lúc này.

Ngay tại đó, đoàn thám hiểm đã thu thập được vô số di vật từ xác con tàu xấu số. Họ vớt lên vô số dụng cụ bằng sắt, mỏ neo, ròng rọc, một khẩu súng xoay, và cả một viên đạn đại bác nặng 18 pound. Không chỉ vậy, họ còn tìm thấy những mảnh vỡ của các thiết bị thiên văn, một phần của bức điêu khắc hình vương miện, và đáng giá nhất là một chiếc đồng hồ bằng đồng. Chiếc đồng hồ ấy khắc dòng chữ "Bazin m'a fait" (Bazin đã tạo ra tôi) - dấu ấn đặc trưng của xưởng đúc vũ khí tại Brest vào khoảng năm 1785. Mọi nghi ngờ đã hoàn toàn bị xóa bỏ.

Sau khi điều tra cặn kẽ mọi bề, Dillon tiếp tục nán lại vùng đất xui xẻo này cho đến tận tháng Mười. Sau đó, ông rời Vanikoro, hướng mũi tàu về phía New Zealand. Ông cập bến Calcutta vào ngày 7 tháng Tư năm 1828, rồi xuôi buồm trở về Pháp. Tại quê nhà, vua Charles X đã nồng nhiệt chào đón ông.

Cùng thời điểm đó, hoàn toàn không hay biết gì về những phát hiện của Dillon, Dumont d'Urville cũng đang mải miết ra khơi săn lùng dấu vết của vụ đắm tàu. Đoàn thám hiểm của ông vô tình nghe được một tin tức từ một tàu săn cá voi. Người ta kháo nhau rằng vài tấm huy chương cùng một cây thánh giá St. Louis5 đã lọt vào tay đám thổ dân ở Louisiade và New Caledonia. Dumont d'Urville, khi đó đang chỉ huy chiếc Astrolabe, lập tức nhổ neo. Hai tháng sau khi Dillon rời Vanikoro, ông cập bến Hobart Town. Tại đây, ông mới vỡ lẽ về những kết quả điều tra của Dillon. Thêm vào đó, ông lại tình cờ khám phá ra câu chuyện của James Hobbs. Viên trung úy thứ hai của tàu Union of Calcutta này từng đặt chân lên một hòn đảo nằm ở tọa độ vĩ độ 8° 18′ Nam và kinh độ 156° 30′ Đông. Anh ta tận mắt chứng kiến người bản địa nơi đây sử dụng vài thanh sắt và những mảnh vải đỏ thắm. Bị bủa vây giữa quá nhiều luồng thông tin mơ hồ, Dumont d'Urville quyết không đặt cược niềm tin vào các tờ báo lá cải. Thay vào đó, ông dứt khoát lần theo manh mối của Dillon.

Ngày 10 tháng Hai năm 1828, chiếc Astrolabe xuất hiện ngoạn mục ngoài khơi Tikopia. Tại hòn đảo này, họ tìm thấy một kẻ đào ngũ và lập tức thâu nạp hắn làm người dẫn đường kiêm thông dịch viên. Có hoa tiêu dẫn lối, họ thẳng tiến đến Vanikoro. Ngày 12 cùng tháng, hòn đảo đã hiện ra trước mắt. Họ neo tàu giữa rạn san hô suốt hai ngày, mãi đến ngày 20 mới chính thức buông neo bên trong vành đai cảng Vanou.

Vào ngày 23, một nhóm sĩ quan được cử đi tuần tra quanh đảo. Họ chỉ mang về dăm ba món đồ lặt vặt chẳng mấy giá trị. Đám người bản địa liên tục dùng chiêu trò lảng tránh, một mực từ chối dẫn đường đến hiện trường vụ đắm tàu tang tóc kia. Thái độ ỡm ờ này khiến đoàn sĩ quan đinh ninh rằng bọn thổ dân đã đối xử tàn tệ với những người sống sót. Và quả thực, đám người bản xứ có vẻ đang lo nơm nớp rằng Dumont d'Urville đến đây để trả thù cho La Perouse và những thủy thủ đoàn tội nghiệp của ông.

Tuy nhiên, đến ngày 26, sau khi được dỗ ngọt bằng vài món quà nhỏ, những người bản xứ hiểu ra rằng họ sẽ không phải chịu bất kỳ sự trừng phạt nào. Rũ bỏ được nỗi e sợ, họ mới chịu dẫn ngài Jacquireot đến tận nơi những con tàu đã bỏ mạng.

Tại đó, dưới đáy biển sâu chừng ba đến bốn sải, nằm kẹt giữa rạn đá ngầm hiểm hóc nối giữa Pacou và Vanou, là một bãi chiến trường hoang tàn. Hàng loạt mỏ neo, đại bác, cùng những thỏi chì và sắt nằm ngổn ngang, bị vùi lấp dưới lớp trầm tích đá vôi dày đặc. Chiếc thuyền lớn và con tàu săn cá voi của chiếc Astrolabe lập tức được điều động đến vị trí này. Trải qua muôn vàn gian nan vất vả, thủy thủ đoàn mới trục vớt thành công một chiếc mỏ neo khổng lồ nặng tới 1.800 pound, một khẩu đại bác bằng đồng thau, vài thỏi sắt gỉ sét, cùng hai khẩu súng xoay bằng đồng rêu phong.

Thông qua việc gặng hỏi những người bản địa, Dumont d'Urville còn moi thêm được một sự thật xót xa. Sau khi mất cả hai con tàu trên rạn san hô oan nghiệt này, La Perouse đã cùng những người sống sót đóng một chiếc thuyền nhỏ bé hơn. Thế nhưng, số phận trớ trêu thay, chiếc thuyền ấy lại một lần nữa biệt tăm biệt tích. Nơi nó vùi thây, đến nay vẫn mãi là một ẩn số.

Chính phủ Pháp, vì lo sợ Dumont d'Urville chưa nắm được hành trình của Dillon, đã phái thêm chiếc tàu gác Bayonnaise đến Vanikoro. Dưới quyền chỉ huy của Legoarant de Tromelin, con tàu vốn đang đồn trú bên bờ biển phía Tây nước Mỹ này đã thả neo trước Vanikoro, chỉ vài tháng sau khi chiếc Astrolabe rời đi. Dù không phát hiện thêm được manh mối nào mới mẻ, họ lại xác nhận được một điều đáng mừng: những người thổ dân nơi đây vẫn luôn thành kính bảo vệ đài tưởng niệm của La Perouse.

Đó là toàn bộ những điểm chính yếu trong câu chuyện mà tôi đã tường thuật lại cho thuyền trưởng Nemo.

"Vậy ra," ngài khẽ lặp lại, "hiện giờ không một ai biết con tàu thứ ba, chiếc thuyền được những người sống sót đóng trên đảo Vanikoro, đã bỏ mạng tại nơi nào sao?"

"Không một ai biết cả."

Thuyền trưởng Nemo lặng thinh, chỉ khẽ ra hiệu cho tôi bước theo ngài vào phòng khách lớn. Chiếc Nautilus chìm sâu xuống vài thước dưới những dải sóng nhấp nhô, và rồi, các tấm cửa cuốn bắt đầu trượt mở.

Tôi vội vã bước đến bên cửa kính. Dưới những tầng vỏ san hô phủ đầy nấm, syphonules, alcyon và san hô lỗ, xuyên qua muôn vàn loài cá tuyệt đẹp đang tung tăng bơi lội-nào là cá mó, cá glyphisidri, cá pompherides, cá diacopes và cá holocentres-tôi nhận ra những mảnh vỡ mà những chiếc cần cẩu đã đành bất lực bỏ lại. Kia là bàn đạp bằng sắt, mỏ neo, đại bác, đạn pháo, các bộ phận của tời neo và mũi của một con tàu. Tất cả những tàn tích ấy là minh chứng câm lặng cho một vụ đắm tàu bi thảm, giờ đây đã được đại dương bao phủ bằng một tấm thảm hoa đá sống động. Trong lúc tôi mải miết ngắm nhìn khung cảnh hoang tàn mà tráng lệ ấy, giọng nói trầm buồn của thuyền trưởng Nemo chợt vang lên:

"Ngày 7 tháng Mười hai năm 1785, chỉ huy La Perouse đã nhổ neo khởi hành cùng hai con tàu La Boussole và Astrolabe của ông. Ban đầu, ông thả neo tại vịnh Botany, ghé thăm quần đảo Friendly, New Caledonia, rồi thẳng tiến về phía Santa Cruz và cập bến Namouka, một hòn đảo thuộc nhóm đảo Hapai. Thế rồi, định mệnh đã đẩy những con tàu của ông lao thẳng vào các rạn san hô vô danh của vùng Vanikoro. Chiếc Boussole đi tiên phong nên mắc cạn ngay trên bờ biển phía nam. Chiếc Astrolabe hối hả đến cứu viện, nhưng rốt cuộc cũng đành chịu chung số phận. Con tàu thứ nhất gần như bị nghiền nát ngay tức khắc. Con tàu thứ hai, mắc kẹt dưới chiều gió thổi, chỉ cầm cự thêm được vài ngày. Những người bản xứ đã cưu mang những kẻ sống sót. Họ định cư trên đảo và tận dụng những mảnh vỡ từ hai con tàu để đóng một chiếc thuyền nhỏ hơn. Một vài thủy thủ đã tình nguyện ở lại Vanikoro, trong khi những người khác, dù ốm yếu và bệnh tật, vẫn quyết định lên đường cùng La Perouse. Họ giong buồm hướng về quần đảo Solomon, để rồi vĩnh viễn nằm lại nơi đó cùng mọi thứ, ngay trên bờ biển phía tây của hòn đảo chính, kẹt giữa mũi Deception và Satisfaction."

"Làm sao ngài lại tỏ tường điều đó?"

"Nhờ thứ này. Tôi đã tìm thấy nó ngay tại nơi xảy ra thảm kịch cuối cùng."

Thuyền trưởng Nemo chìa cho tôi xem một chiếc hộp thiếc mạ, mang huy hiệu nước Pháp, lớp vỏ ngoài đã bị nước mặn ăn mòn nham nhở. Ngài cẩn thận mở chiếc hộp, và đập vào mắt tôi là một xấp giấy úa vàng nhưng những dòng chữ vẫn còn vẹn nguyên.

Đó chính là những chỉ thị của bộ trưởng Bộ Hải quân gửi cho chỉ huy La Perouse, với những dòng ghi chú bên lề do chính tay vua Louis XVI viết.

"Chà! Thật là một cái chết đẹp đẽ dành cho một thủy thủ!" Cuối cùng, thuyền trưởng Nemo cũng cất lời. "Một nấm mồ san hô tạo nên một nơi an nghỉ thật thanh bình. Và tôi tin rằng, cả tôi cùng những người đồng chí của mình, cũng sẽ chẳng mong cầu một chốn dừng chân nào khác ngoài nó."



  1. Atoll là rạn san hô có hình vòng khép kín hoặc gần kín, ôm trọn một vùng nước nông (đầm phá) ở giữa, thường được hình thành khi một hòn đảo núi lửa chìm dần xuống biển. 

  2. Jean-François de Galaup, bá tước de Lapérouse (1741-1788) là một nhà thám hiểm người Pháp vĩ đại. Chuyến thám hiểm Thái Bình Dương của ông cùng hai con tàu Astrolabe và Boussole đã mất tích bí ẩn vào năm 1788, trở thành một trong những bí ẩn hàng hải lớn nhất thời bấy giờ. 

  3. Lascar là thuật ngữ lịch sử chỉ các thủy thủ hoặc binh lính có nguồn gốc từ Nam Á, Đông Nam Á hoặc thế giới Ả Rập, phục vụ trên các tàu buôn của châu Âu (đặc biệt là Anh) từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20. 

  4. Tổ chức thương mại khổng lồ của Anh (British East India Company) được hoàng gia cấp đặc quyền buôn bán ở khu vực Đông Ấn, từng nắm quyền cai trị thực tế tại phần lớn lãnh thổ Ấn Độ. 

  5. Huân chương Hoàng gia và Quân sự Thánh Louis (Ordre Royal et Militaire de Saint-Louis) là một phần thưởng danh giá của vương quốc Pháp, thường được ban tặng cho các sĩ quan quân đội có công trạng xuất sắc.