CHƯƠNG V: ĐƯỜNG HẦM ARABIA
Ngay trong buổi tối hôm ấy, tại vĩ độ 21° 30′ Bắc, chiếc Nautilus vươn mình lên khỏi mặt nước, rẽ sóng nhắm thẳng hướng bờ biển Arabia. Từ xa, tôi đã trông thấy Djeddah1, trạm trung chuyển sầm uất bậc nhất nối liền Ai Cập, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ. Tầm nhìn khá tỏ tường, đủ để tôi phân biệt từng khối nhà san sát, những con thuyền đang đậu sát bến, cùng mấy chiếc tàu lớn có mớn nước sâu đành neo mình ngoài vịnh. Ráng chiều buông thấp nơi chân trời, hắt những tia nắng rực rỡ lên các dãy nhà trong thị trấn, nhuộm ánh bạc lấp lánh lên lớp sơn trắng toát. Phía ngoại ô, thấp thoáng vài túp lều gỗ và lều đan bằng lau sậy cất lên thô sơ, dấu ấn của những bộ tộc Bedouin2 du mục. Chẳng mấy chốc, bóng đêm đã buông rèm che khuất Djeddah. Tàu Nautilus lại lặng lẽ trườn mình qua lớp sóng đêm lấp lánh ánh lân quang huyền ảo.
Sang ngày mùng 10 tháng Hai, chúng tôi đi ngang qua vài chiếc thuyền đang chật vật ngược gió. Lập tức, tàu Nautilus lặn sâu xuống để giữ kín hành trình. Phải đến tận trưa, khi hoàn tất việc định vị và thấy mặt biển đã hoàn toàn vắng lặng, con tàu mới từ từ nổi lên mớm ngang mặt nước.
Cùng với anh Ned và cậu Conseil, tôi bước ra thư giãn trên boong. Ở dải chân trời phía đông, bờ biển chỉ còn là một vệt đen mờ ảo in hằn trên nền sương mù ẩm ướt.
Đang lúc ba người tựa lưng vào mạn chiếc xuồng con, buông dăm ba câu chuyện phiếm, thì anh Ned Land bỗng vươn tay chỉ thẳng về một điểm đằng xa và cất giọng:
"Ngài có thấy gì đằng kia không, thưa ngài?"
"Không, anh Ned à," tôi đáp, "nhưng anh biết đấy, mắt tôi làm sao tinh anh bằng mắt anh được."
"Ngài hãy nhìn cho kỹ," anh Ned giục, "kia kìa, bên mạn phải, nằm ngay tầm chiếc đèn lồng! Ngài không thấy một khối đen ngòm đang nhấp nhô sao?"
"Đúng thật," tôi chớp mắt nhìn lại rồi thốt lên, "tôi vừa thấy một hình thù đen nhẻm, dài thượt đang lướt trên mặt nước."
Và quả nhiên, chỉ một chốc sau, sinh vật lạ lùng ấy đã tiến đến cách chúng tôi chưa đầy một dặm. Nhìn từ xa, nó lừng lững như một cồn cát di động giữa đại dương bao la. Đó là một con cá bò biển khổng lồ!
Anh Ned Land đăm đăm nhìn không chớp mắt. Đôi con ngươi của người thợ săn khẽ lóe lên khao khát cháy bỏng khi phát hiện ra con mồi. Bàn tay anh siết chặt lại như thể đã nắm sẵn cán lao. Nhìn bộ dạng ấy, người ta dễ tưởng rằng anh chỉ chực chờ lao mình thẳng xuống biển để ăn thua đủ với con thú hoang ngay giữa vùng nước của nó.
Đúng lúc đó, thuyền trưởng Nemo bước ra boong. Ngài bắt ngay lấy bóng dáng con cá bò biển, rồi đọc thấu ngọn ngành vẻ rạo rực của người thợ săn Canada, bèn quay sang cất lời:
"Nếu bây giờ anh đang cầm một ngọn lao trên tay, anh Land, hẳn là nó đang làm phỏng tay anh đấy nhỉ?"
"Đúng vậy, thưa ngài."
"Và anh sẽ không thấy phiền nếu được làm lại nghề đánh cá trong một ngày, để ghi thêm tên con thú biển này vào bảng vàng chiến tích của anh chứ?"
"Tôi đâu có phiền gì, thưa ngài."
"Được rồi, anh cứ thử đi."
"Cảm ơn ngài," anh Ned Land đáp lời, ánh mắt rực lên ngọn lửa phấn khích.
"Chỉ có điều," vị thuyền trưởng tiếp lời, "vì sự an toàn của chính anh, tôi khuyên anh đừng ném trượt."
"Săn loài cá bò này nguy hiểm lắm sao?" tôi cất tiếng hỏi, bỏ qua cái nhún vai đầy tự phụ của người thợ săn Canada.
"Có chứ," thuyền trưởng điềm tĩnh đáp; "nhiều khi con thú này sẽ quay ngoắt lại quật ngã chính những kẻ đang truy sát nó, thậm chí lật úp cả thuyền. Nhưng với anh Land đây thì điều đó chẳng có gì đáng ngại. Mắt anh ta rất tinh anh và cánh tay vung lao của anh ta thì vô cùng chắc nịch."
Vào lúc này, bảy người thủy thủ bước lên boong, vẫn giữ vẻ câm lặng và vô cảm như mọi khi. Một người mang theo ngọn lao cùng cuộn dây thừng chuyên dụng để săn cá voi. Chiếc xuồng được nhấc bổng, kéo ra khỏi bệ đỡ rồi nhẹ nhàng hạ xuống mặt biển. Sáu tay chèo đã sẵn sàng vào vị trí, người lái tàu cũng tiến đến chỗ bánh lái. Anh Ned, cậu Conseil và tôi tuần tự bước xuống phía đuôi xuồng.
"Ngài không đi cùng sao, thuyền trưởng?" tôi cất tiếng hỏi.
"Không, thưa ngài; nhưng chúc ngài đi săn vui vẻ."
Chiếc xuồng lập tức rời mũi tàu. Dưới sức đẩy nhịp nhàng của sáu tay chèo, nó xé sóng lướt nhanh về phía con cá bò biển đang nhấp nhô cách tàu Nautilus chừng hai dặm.
Khi chỉ cách mục tiêu khoảng vài thước dây, những nhịp chèo bắt đầu chậm lại, lướt thật êm trên mặt nước phẳng lặng. Anh Ned Land đứng thẳng nơi mũi xuồng, tay lăm lăm ngọn lao sắc nhọn. Thường thì ngọn lao săn cá voi luôn đi kèm một sợi dây rất dài để con vật có thể kéo tuột đi khi trúng thương. Nhưng ở đây, sợi dây này chỉ dài chừng mười sải, đầu còn lại buộc chặt vào một chiếc thùng gỗ nhỏ. Chiếc thùng sẽ nổi lềnh bềnh trên mặt biển, đóng vai trò như chiếc phao định vị hướng đi của con cá.
Tôi đứng dậy, chăm chú quan sát đối thủ của người thợ săn Canada. Con cá bò biển này, còn được gọi là halicore3, mang vóc dáng rất giống lợn biển. Cơ thể thuôn dài của nó vuốt dần về phía chiếc đuôi thon gọn, còn hai vây bên hông lại trông y hệt những ngón tay hoàn chỉnh. Điểm khác biệt duy nhất giữa nó và lợn biển nằm ở hàm trên, nơi mọc ra hai chiếc răng dài, nhọn hoắt, chĩa sang hai bên tựa như những cặp ngà sắc bén.
Con mồi mà anh Ned Land đang chuẩn bị hạ gục có kích thước thật đáng nể, chiều dài vượt quá bảy thước Anh. Nó nằm bất động, dường như đang say giấc giữa những con sóng dập dềnh. Tình thế này quả là một món quà trời cho, khiến cuộc săn bắt hứa hẹn sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Chiếc xuồng chầm chậm tiến đến cách con vật chừng sáu thước. Những mái chèo được gác yên trên cọc. Tôi khẽ nhổm người dậy. Anh Ned Land hơi ngả người về phía sau, dồn sức vung ngọn lao với tư thế vô cùng điêu luyện.
Bất thình lình, một tiếng rít xé gió vang lên, và con cá bò biển lặn mất tăm. Dù ngọn lao phóng ra với sức mạnh kinh hồn, nhưng dường như nó chỉ xé toạc mặt nước.
"Chết tiệt!" người thợ săn Canada tức tối thốt lên. "Tôi ném trượt rồi!"
"Không đâu," tôi đáp lời. "Con vật đã bị thương-nhìn vệt máu đằng kia kìa. Có điều vũ khí của anh chưa cắm sâu vào thân nó thôi."
"Ngọn lao của tôi! Ngọn lao của tôi đâu rồi!" anh Ned Land gầm lên.
Các thủy thủ lại vung chèo, người lái tàu khéo léo bẻ lái hướng về phía chiếc phao gỗ nổi trên mặt sóng. Sau khi vớt được ngọn lao, chúng tôi tiếp tục cuộc truy đuổi.
Giờ thì con cá thi thoảng lại trồi lên mặt nước để lấy hơi. Vết thương dường như chẳng hề làm nó suy xuyển, bởi nó vẫn lao đi vùn vụt với tốc độ đáng kinh ngạc.
Chiếc xuồng, dưới sức vóc vạm vỡ của những tay chèo sắt đá, như bay theo sát dấu vết con mồi. Đã vài lần xuồng bám sát nó chỉ vài thước, người thợ săn Canada cũng chực chờ phóng lao, nhưng con cá bò biển lại lặn ngoắt đi bằng cú quẫy mình đột ngột, khiến mọi nỗ lực đều trở nên vô vọng.
Thật khó mà hình dung hết ngọn lửa giận dữ đang bừng bừng trong lòng một kẻ thiếu kiên nhẫn như anh Ned Land! Anh ta trút lên đầu con vật tội nghiệp vô vàn những lời nguyền rủa thậm tệ nhất bằng tiếng Anh. Về phần mình, tôi chỉ thấy bực bội khi cứ phải chứng kiến con quái thú khôn ngoan lách khỏi mọi đòn tấn công.
Chúng tôi rượt đuổi nó ráo riết suốt một giờ đồng hồ. Ngay khi tôi bắt đầu nghĩ rằng việc tóm cổ nó e chừng quá khó nhằn, thì con vật, bị kích động bởi một ý định trả thù tai hại mà hẳn sau này nó phải hối hận, bất ngờ quay ngoắt đầu, lao thẳng về phía chiếc xuồng để phản công.
Động thái liều lĩnh ấy không thể lọt khỏi tầm mắt người thợ săn Canada.
"Cẩn thận!" anh thét lớn.
Người lái tàu buông vài tiếng quát bằng thứ ngôn ngữ kỳ lạ, hẳn là để ra hiệu cho các thủy thủ giữ tư thế phòng thủ.
Con cá bò biển sấn tới, dừng lại cách xuồng chừng hai mươi feet. Nó khịt mạnh để hít căng lồng ngực qua đôi lỗ mũi to tướng (vốn không nằm ở chóp mõm mà nằm tít phía trên mõm). Sau đó, nó lấy đà và lao sầm sập về phía chúng tôi.
Chiếc xuồng không tài nào tránh nổi cú va đập trời giáng. Nó lật nghiêng đi một nửa, để mặc cho ít nhất hai tấn nước mặn tràn vào mà mãi sau này chúng tôi mới tát cạn nổi. Nhưng nhờ sự nhạy bén của người lái tàu, chúng tôi chỉ phải hứng chịu cú đâm từ bên hông chứ không phải trực diện, nhờ vậy xuồng mới không bị lật úp. Trong khi anh Ned Land bám chặt lấy mũi xuồng, liên tiếp trút những đòn lao chí mạng xuống lưng con vật khổng lồ, thì hàm răng gớm ghiếc của nó đã cắm ngập vào mạn xuồng. Nó nhấc bổng cả khối gỗ lẫn người lên khỏi mặt nước, y hệt cái cách một con sư tử dữ tợn cắp lấy chú hoẵng non. Chúng tôi ngã nhào, đè lộn lên nhau. Tôi chẳng biết chuyến phiêu lưu này sẽ kết thúc thảm khốc đến nhường nào, nếu người thợ săn Canada, trong cơn thịnh nộ tột độ, không đâm trúng tim con quái thú.
Tôi nghe rõ tiếng răng nó nghiến trượt qua lớp vỏ sắt bảo vệ, rồi con cá lặn chìm, mang theo cả ngọn lao cắm phập trên mình. Nhưng chiếc phao gỗ đã mau chóng nổi lên. Chỉ lát sau, cái xác đồ sộ của con vật nổi phơi bụng giữa những con sóng. Chiếc xuồng bơi tới gần, quăng dây trói chặt con mồi rồi kéo thẳng về phía tàu Nautilus.
Phải huy động đến một hệ thống ròng rọc với sức kéo khổng lồ, người ta mới có thể đưa con cá bò biển lên boong. Khối lượng của nó lên tới mười nghìn pound.
Ngày hôm sau, tức ngày 11 tháng Hai, kho lương thực của chiếc Nautilus lại được bổ sung thêm vài thức thịt tinh tế. Một đàn nhạn biển đã đáp xuống boong tàu. Ấy là giống nhạn Sterna nilotica4 đặc hữu của vùng đất Ai Cập; mỏ chúng đen nhánh, phần đầu xám nhọn hoắt, quanh mắt điểm xuyết những vệt trắng tinh khôi. Lưng, cánh và đuôi chúng phủ một màu xám tro, tương phản với chiếc bụng cùng phần cổ họng trắng muốt và những móng vuốt đỏ au. Các thủy thủ còn bắt được hơn chục con vịt sông Nile, một giống chim hoang mang hương vị tuyệt hảo, nổi bật với phần cổ họng và đỉnh đầu trắng lấm tấm những đốm đen.
Vào khoảng năm giờ chiều, mũi Ras-Mohammed hiện ra sừng sững ở chân trời phía bắc. Mũi đất này uốn lượn tạo thành phần tận cùng của bán đảo Arabia Petraea5, vươn mình nằm giữa vùng vịnh Suez và vịnh Aqaba.
Chiếc Nautilus rẽ sóng tiến vào eo biển Jubal, con đường dẫn lối tới vịnh Suez. Tôi nhìn thấy rõ mồn một ngọn núi cao ngất ngưởng, uy nghi đứng gác giữa hai dải nước của vùng Ras-Mohammed. Đó chính là núi Horeb6, ngọn núi Sinai linh thiêng, nơi tương truyền Moses7 đã từng diện kiến Đức Chúa Trời trên đỉnh non cao.
Lúc sáu giờ, chiếc tàu ngầm, lúc nổi lúc chìm, đi ngang qua vùng biển Tor ở một khoảng cách khá xa. Nơi đây nằm ở tận cùng vùng vịnh, mặt nước dường như ánh lên một sắc đỏ kỳ lạ, đúng như lời quan sát mà thuyền trưởng Nemo từng đề cập. Chẳng bao lâu, màn đêm buông xuống bao trùm vạn vật trong một sự tĩnh lặng nặng nề. Sự im lìm ấy thỉnh thoảng mới bị xé toạc bởi tiếng kêu thảng thốt của loài bồ nông và vài loài chim đêm khác, bởi tiếng sóng biển vỗ ầm ào vào vách đá, hay tiếng thở hổn hển xa xăm của một chiếc tàu hơi nước nào đó đang nện chân vịt ồn ã xuống vùng nước vịnh.
Từ tám giờ đến chín giờ tối, con tàu Nautilus lặn sâu xuống dưới mặt nước vài sải. Theo những gì tôi nhẩm tính, hẳn là chúng tôi đã đến rất gần Suez. Qua tấm kính ô cửa sổ phòng khách, tôi mải mê ngắm nhìn những rạn đá ngầm dưới đáy biển đang được ánh đèn điện rực rỡ của con tàu chiếu sáng. Dường như eo biển đã lùi dần về phía sau lưng tự lúc nào.
Đúng chín giờ mười lăm phút, khi con tàu vừa trồi lên mặt nước, tôi đã vội vã bước lên boong. Sự nôn nóng được tận mắt chứng kiến đường hầm của thuyền trưởng Nemo khiến tôi chẳng thể ngồi yên trong phòng, bèn bước ra ngoài đón lấy bầu không khí đêm thanh mát.
Chẳng mấy chốc, xuyên qua màn đêm đen đặc, tôi chợt nhận ra một quầng sáng nhạt nhòa, lẩn khuất sau lớp sương mù mờ ảo, đang tỏa rạng cách chúng tôi chừng một dặm.
"Một ngọn hải đăng nổi!" Ai đó đứng ngay cạnh tôi cất tiếng.
Tôi ngoảnh lại, và bắt gặp thuyền trưởng Nemo.
"Đó là ngọn đèn nổi của Suez," ngài nói tiếp. "Sẽ chẳng còn bao lâu nữa trước khi chúng ta tiến vào cửa hầm."
"Việc tiến vào cửa hầm hẳn là chẳng mấy dễ dàng, thưa ngài?"
"Không hề dễ dàng chút nào, thưa ngài; chính vì vậy mà tôi thường phải vào buồng lái để đích thân chỉ huy lộ trình. Và giờ, xin mời ngài xuống dưới, ngài Aronnax, chiếc Nautilus sắp sửa lặn sâu xuống lòng đại dương, và sẽ không ngoi lên mặt nước cho đến khi chúng ta đã hoàn toàn vượt qua đường hầm Arabia."
Thuyền trưởng Nemo dẫn tôi tiến về phía chiếc cầu thang trung tâm; khi mới đi xuống được nửa chừng, ngài mở một cánh cửa, băng ngang qua boong trên, và bước vào buồng lái, nơi mà theo trí nhớ của tôi, nằm nhô cao ở tận cùng boong tàu. Đó là một khoang cabin nhỏ, rộng chừng sáu thước vuông, mang dáng dấp y hệt buồng lái của những chiếc tàu chạy bằng hơi nước trên dòng Mississippi hay Hudson. Ngự trị ở chính giữa là một chiếc bánh lái đặt thẳng đứng, nối liền với hệ thống dây cáp chạy dọc về tận phía đuôi tàu Nautilus. Bốn ô cửa sổ gắn kính hình thấu kính, được khảm chặt vào những đường rãnh trên vách cabin, cho phép người cầm lái phóng tầm mắt quan sát khắp tứ bề.
Khoang cabin chìm nghỉm trong bóng tối; nhưng rồi đôi mắt tôi cũng mau chóng quen dần với sự u ám ấy, và tôi lờ mờ nhận ra người lái tàu, một người đàn ông lực lưỡng với đôi bàn tay đang nắm chặt lấy những nan hoa của bánh lái. Bên ngoài, đại dương mênh mông hiện lên rực rỡ dưới ánh sáng huyền ảo của chiếc đèn lồng, phóng những luồng sáng mạnh mẽ từ phía sau cabin chạy dọc đến tận cùng bên kia của boong tàu.
"Bây giờ," thuyền trưởng Nemo trầm giọng, "chúng ta sẽ bắt đầu vượt qua đoạn đường này."
Những đường dây điện kết nối trực tiếp buồng lái với phòng máy, cho phép thuyền trưởng truyền đạt mệnh lệnh về cả hướng đi lẫn tốc độ cùng một lúc cho chiếc Nautilus. Ngài khẽ nhấn một nút bấm kim loại, và ngay tức thì, vòng quay của chân vịt từ từ chậm lại.
Tôi lặng lẽ trân trân nhìn vào vách tường cao sừng sững mà con tàu đang trườn qua, một dải nền kiên cố và bất di bất dịch của bờ cát khổng lồ. Chúng tôi cứ miệt mài men theo rìa vách đá như thế suốt một giờ đồng hồ, khoảng cách đôi lúc chỉ cách nhau vài thước mỏng manh.
Thuyền trưởng Nemo dán chặt mắt vào chiếc la bàn, được treo lơ lửng bởi hai vòng tròn đồng tâm bên trong cabin. Chỉ bằng những cử chỉ điều khiển dứt khoát, người lái tàu đã liên tục xoay chuyển lộ trình của con tàu Nautilus.
Tôi tựa sát người vào ô cửa kính, đắm chìm trong vẻ đẹp lộng lẫy của những rặng san hô, của bầy động vật hình cây, rong biển và đám tảo fucus, chúng như đang vung vẩy những chiếc móng vuốt khổng lồ vươn ra từ mọi khe nứt của phiến đá.
Đúng mười giờ mười lăm phút, đích thân thuyền trưởng Nemo bước tới nắm lấy bánh lái. Một đường hầm vĩ đại, đen ngòm và sâu thẳm, đột ngột mở toang ra trước mắt chúng tôi. Tàu Nautilus dũng mãnh lao vào. Một tiếng gầm gừ kỳ lạ rền rĩ quanh mạn tàu. Đó là dòng nước dữ dội của Biển Đỏ, do độ dốc của đường hầm, đang cuồn cuộn trút xuống Địa Trung Hải. Chiếc Nautilus lao đi theo dòng thác tuôn trào, vun vút như một mũi tên vút khỏi rạch, bất chấp hệ thống máy móc đang ra sức gầm rít, quay ngược chân vịt hòng cản lại sức mạnh vô song của dòng nước.
Dọc theo hai vách tường của đường hầm chật hẹp, tôi chẳng thể nhìn thấy gì khác ngoài những tia sáng rực rỡ, những vệt chớp thẳng tắp, tựa như những luống lửa rực cháy do tốc độ kinh hoàng vẽ nên dưới thứ ánh sáng điện chói lòa. Trái tim tôi đập thình thịch liên hồi.
Vào lúc mười giờ ba mươi lăm phút, thuyền trưởng Nemo buông tay khỏi bánh lái, ngài quay sang nhìn tôi và cất tiếng:
"Địa Trung Hải!"
Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi phút ngắn ngủi, chiếc Nautilus, nương theo sức mạnh phi thường của dòng thác thủy triều, đã hoàn toàn chinh phục eo đất Suez8.
-
Djeddah (hay Jeddah) là thành phố cảng lớn mạnh bên bờ Biển Đỏ thuộc Ả Rập Xê Út ngày nay. Từ xa xưa, nơi đây đã là một cửa ngõ giao thương nhộn nhịp và là trạm trung chuyển quan trọng cho những người hành hương trên con đường tới thánh địa Mecca. ↩
-
Bedouin là tên gọi chung chỉ các bộ tộc du mục người Ả Rập, sinh sống rải rác trên những vùng sa mạc khắc nghiệt ở Trung Đông và Bắc Phi. Họ nổi tiếng với lối sống chăn nuôi và liên tục di cư bằng lạc đà để tìm kiếm nguồn nước. ↩
-
Halicore là danh xưng khoa học cũ của loài cá bò biển (Dugong). Hình dáng đặc biệt và thói quen ngoi lên mặt nước vỗ về con non của chúng là nguồn gốc sinh ra những truyền thuyết về nàng tiên cá trong giới thủy thủ cổ xưa. ↩
-
Tên khoa học của một loài nhạn biển mỏ mập (Gull-billed tern) thường phân bố ở các vùng đất ngập nước. Đuôi từ "nilotica" là để ám chỉ dòng sông Nile (Ai Cập), khu vực sinh sống đặc trưng của loài chim này. ↩
-
Arabia Petraea là tên gọi lịch sử của một tỉnh biên giới thuộc Đế quốc La Mã cổ đại, bao gồm vùng bán đảo Sinai và Tây Bắc bán đảo Ả Rập. Chữ "Petraea" có nguồn gốc từ thành phố đá sa thạch cổ đại Petra nổi danh thế giới. ↩
-
Horeb là một tên gọi cổ xưa khác của dãy núi Sinai xuất hiện trong Kinh Thánh, được coi là một vùng núi thiêng liêng ở Trung Đông gắn liền với nhiều giai thoại tôn giáo cổ xưa. ↩
-
Một vị tiên tri và nhà lãnh đạo vĩ đại trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham (như Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo), người nổi tiếng với truyền thuyết dẫn dắt dân Israel thoát khỏi ách nô lệ ở Ai Cập thời cổ đại. ↩
-
Một dải đất tự nhiên hẹp nối liền châu Phi và châu Á, ngăn cách Địa Trung Hải với Biển Đỏ. Vào thời điểm tác phẩm được viết ra, khu vực này đang diễn ra cuộc đào bới vĩ đại để xây dựng con kênh đào Suez làm thay đổi hoàn toàn lịch sử giao thương hàng hải thế giới. ↩
CHAPTER V THE ARABIAN TUNNEL
That same evening, in 21° 30′ N. lat., the Nautilus floated on the surface of the sea, approaching the Arabian coast. I saw Djeddah, the most important counting-house of Egypt, Syria, Turkey, and India. I distinguished clearly enough its buildings, the vessels anchored at the quays, and those whose draught of water obliged them to anchor in the roads. The sun, rather low on the horizon, struck full on the houses of the town, bringing out their whiteness. Outside, some wooden cabins, and some made of reeds, showed the quarter inhabited by the Bedouins. Soon Djeddah was shut out from view by the shadows of night, and the Nautilus found herself under water slightly phosphorescent.
The next day, the 10th of February, we sighted several ships running to windward. The Nautilus returned to its submarine navigation; but at noon, when her bearings were taken, the sea being deserted, she rose again to her waterline.
Accompanied by Ned and Conseil, I seated myself on the platform. The coast on the eastern side looked like a mass faintly printed upon a damp fog.
We were leaning on the sides of the pinnace, talking of one thing and another, when Ned Land, stretching out his hand towards a spot on the sea, said:
“Do you see anything there, sir?”
“No, Ned,” I replied; “but I have not your eyes, you know.”
“Look well,” said Ned, “there, on the starboard beam, about the height of the lantern! Do you not see a mass which seems to move?”
“Certainly,” said I, after close attention; “I see something like a long black body on the top of the water.”
And certainly before long the black object was not more than a mile from us. It looked like a great sandbank deposited in the open sea. It was a gigantic dugong!
Ned Land looked eagerly. His eyes shone with covetousness at the sight of the animal. His hand seemed ready to harpoon it. One would have thought he was awaiting the moment to throw himself into the sea and attack it in its element.
At this instant Captain Nemo appeared on the platform. He saw the dugong, understood the Canadian’s attitude, and, addressing him, said:
“If you held a harpoon just now, Master Land, would it not burn your hand?”
“Just so, sir.”
“And you would not be sorry to go back, for one day, to your trade of a fisherman and to add this cetacean to the list of those you have already killed?”
“I should not, sir.”
“Well, you can try.”
“Thank you, sir,” said Ned Land, his eyes flaming.
“Only,” continued the Captain, “I advise you for your own sake not to miss the creature.”
“Is the dugong dangerous to attack?” I asked, in spite of the Canadian’s shrug of the shoulders.
“Yes,” replied the Captain; “sometimes the animal turns upon its assailants and overturns their boat. But for Master Land this danger is not to be feared. His eye is prompt, his arm sure.”
At this moment seven men of the crew, mute and immovable as ever, mounted the platform. One carried a harpoon and a line similar to those employed in catching whales. The pinnace was lifted from the bridge, pulled from its socket, and let down into the sea. Six oarsmen took their seats, and the coxswain went to the tiller. Ned, Conseil, and I went to the back of the boat.
“You are not coming, Captain?” I asked.
“No, sir; but I wish you good sport.”
The boat put off, and, lifted by the six rowers, drew rapidly towards the dugong, which floated about two miles from the Nautilus.
Arrived some cables-length from the cetacean, the speed slackened, and the oars dipped noiselessly into the quiet waters. Ned Land, harpoon in hand, stood in the fore part of the boat. The harpoon used for striking the whale is generally attached to a very long cord which runs out rapidly as the wounded creature draws it after him. But here the cord was not more than ten fathoms long, and the extremity was attached to a small barrel which, by floating, was to show the course the dugong took under the water.
I stood and carefully watched the Canadian’s adversary. This dugong, which also bears the name of the halicore, closely resembles the manatee; its oblong body terminated in a lengthened tail, and its lateral fins in perfect fingers. Its difference from the manatee consisted in its upper jaw, which was armed with two long and pointed teeth which formed on each side diverging tusks.
This dugong which Ned Land was preparing to attack was of colossal dimensions; it was more than seven yards long. It did not move, and seemed to be sleeping on the waves, which circumstance made it easier to capture.
The boat approached within six yards of the animal. The oars rested on the rowlocks. I half rose. Ned Land, his body thrown a little back, brandished the harpoon in his experienced hand.
Suddenly a hissing noise was heard, and the dugong disappeared. The harpoon, although thrown with great force; had apparently only struck the water.
“Curse it!” exclaimed the Canadian furiously; “I have missed it!”
“No,” said I; “the creature is wounded-look at the blood; but your weapon has not stuck in his body.”
“My harpoon! my harpoon!” cried Ned Land.
The sailors rowed on, and the coxswain made for the floating barrel. The harpoon regained, we followed in pursuit of the animal.
The latter came now and then to the surface to breathe. Its wound had not weakened it, for it shot onwards with great rapidity.
The boat, rowed by strong arms, flew on its track. Several times it approached within some few yards, and the Canadian was ready to strike, but the dugong made off with a sudden plunge, and it was impossible to reach it.
Imagine the passion which excited impatient Ned Land! He hurled at the unfortunate creature the most energetic expletives in the English tongue. For my part, I was only vexed to see the dugong escape all our attacks.
We pursued it without relaxation for an hour, and I began to think it would prove difficult to capture, when the animal, possessed with the perverse idea of vengeance of which he had cause to repent, turned upon the pinnace and assailed us in its turn.
This manœuvre did not escape the Canadian.
“Look out!” he cried.
The coxswain said some words in his outlandish tongue, doubtless warning the men to keep on their guard.
The dugong came within twenty feet of the boat, stopped, sniffed the air briskly with its large nostrils (not pierced at the extremity, but in the upper part of its muzzle). Then, taking a spring, he threw himself upon us.
The pinnace could not avoid the shock, and half upset, shipped at least two tons of water, which had to be emptied; but, thanks to the coxswain, we caught it sideways, not full front, so we were not quite overturned. While Ned Land, clinging to the bows, belaboured the gigantic animal with blows from his harpoon, the creature’s teeth were buried in the gunwale, and it lifted the whole thing out of the water, as a lion does a roebuck. We were upset over one another, and I know not how the adventure would have ended, if the Canadian, still enraged with the beast, had not struck it to the heart.
I heard its teeth grind on the iron plate, and the dugong disappeared, carrying the harpoon with him. But the barrel soon returned to the surface, and shortly after the body of the animal, turned on its back. The boat came up with it, took it in tow, and made straight for the Nautilus.
It required tackle of enormous strength to hoist the dugong on to the platform. It weighed 10,000 lbs.
The next day, 11th February, the larder of the Nautilus was enriched by some more delicate game. A flight of sea-swallows rested on the Nautilus. It was a species of the Sterna nilotica, peculiar to Egypt; its beak is black, head grey and pointed, the eye surrounded by white spots, the back, wings, and tail of a greyish colour, the belly and throat white, and claws red. They also took some dozen of Nile ducks, a wild bird of high flavour, its throat and upper part of the head white with black spots.
About five o’clock in the evening we sighted to the north the Cape of Ras-Mohammed. This cape forms the extremity of Arabia Petraea, comprised between the Gulf of Suez and the Gulf of Acabah.
The Nautilus penetrated into the Straits of Jubal, which leads to the Gulf of Suez. I distinctly saw a high mountain, towering between the two gulfs of Ras-Mohammed. It was Mount Horeb, that Sinai at the top of which Moses saw God face to face.
At six o’clock the Nautilus, sometimes floating, sometimes immersed, passed some distance from Tor, situated at the end of the bay, the waters of which seemed tinted with red, an observation already made by Captain Nemo. Then night fell in the midst of a heavy silence, sometimes broken by the cries of the pelican and other night-birds, and the noise of the waves breaking upon the shore, chafing against the rocks, or the panting of some far-off steamer beating the waters of the Gulf with its noisy paddles.
From eight to nine o’clock the Nautilus remained some fathoms under the water. According to my calculation we must have been very near Suez. Through the panel of the saloon I saw the bottom of the rocks brilliantly lit up by our electric lamp. We seemed to be leaving the Straits behind us more and more.
At a quarter-past nine, the vessel having returned to the surface, I mounted the platform. Most impatient to pass through Captain Nemo’s tunnel, I could not stay in one place, so came to breathe the fresh night air.
Soon in the shadow I saw a pale light, half discoloured by the fog, shining about a mile from us.
“A floating lighthouse!” said someone near me.
I turned, and saw the Captain.
“It is the floating light of Suez,” he continued. “It will not be long before we gain the entrance of the tunnel.”
“The entrance cannot be easy?”
“No, sir; for that reason I am accustomed to go into the steersman’s cage and myself direct our course. And now, if you will go down, M. Aronnax, the Nautilus is going under the waves, and will not return to the surface until we have passed through the Arabian Tunnel.”
Captain Nemo led me towards the central staircase; half way down he opened a door, traversed the upper deck, and landed in the pilot’s cage, which it may be remembered rose at the extremity of the platform. It was a cabin measuring six feet square, very much like that occupied by the pilot on the steamboats of the Mississippi or Hudson. In the midst worked a wheel, placed vertically, and caught to the tiller-rope, which ran to the back of the Nautilus. Four light-ports with lenticular glasses, let in a groove in the partition of the cabin, allowed the man at the wheel to see in all directions.
This cabin was dark; but soon my eyes accustomed themselves to the obscurity, and I perceived the pilot, a strong man, with his hands resting on the spokes of the wheel. Outside, the sea appeared vividly lit up by the lantern, which shed its rays from the back of the cabin to the other extremity of the platform.
“Now,” said Captain Nemo, “let us try to make our passage.”
Electric wires connected the pilot’s cage with the machinery room, and from there the Captain could communicate simultaneously to his Nautilus the direction and the speed. He pressed a metal knob, and at once the speed of the screw diminished.
I looked in silence at the high straight wall we were running by at this moment, the immovable base of a massive sandy coast. We followed it thus for an hour only some few yards off.
Captain Nemo did not take his eye from the knob, suspended by its two concentric circles in the cabin. At a simple gesture, the pilot modified the course of the Nautilus every instant.
I had placed myself at the port-scuttle, and saw some magnificent substructures of coral, zoophytes, seaweed, and fucus, agitating their enormous claws, which stretched out from the fissures of the rock.
At a quarter-past ten, the Captain himself took the helm. A large gallery, black and deep, opened before us. The Nautilus went boldly into it. A strange roaring was heard round its sides. It was the waters of the Red Sea, which the incline of the tunnel precipitated violently towards the Mediterranean. The Nautilus went with the torrent, rapid as an arrow, in spite of the efforts of the machinery, which, in order to offer more effective resistance, beat the waves with reversed screw.
On the walls of the narrow passage I could see nothing but brilliant rays, straight lines, furrows of fire, traced by the great speed, under the brilliant electric light. My heart beat fast.
At thirty-five minutes past ten, Captain Nemo quitted the helm, and, turning to me, said:
“The Mediterranean!”
In less than twenty minutes, the Nautilus, carried along by the torrent, had passed through the Isthmus of Suez.