CHƯƠNG XXII: “ÆGRI SOMNIA”1

Ngày hôm sau, mùng 10 tháng Một, tàu Nautilus tiếp tục hành trình giữa hai tầng nước biển. Con tàu lao đi với một vận tốc đáng kinh ngạc, mà theo phỏng đoán của tôi, hẳn không dưới ba mươi lăm dặm một giờ. Vòng quay của chân vịt xé nước nhanh đến mức mắt thường không thể nào bắt kịp. Lòng tôi trào dâng một nỗi ngưỡng mộ vô bờ bến khi nghĩ về thứ năng lượng điện kỳ diệu kia. Nó không chỉ cung cấp sức mạnh động cơ, sưởi ấm và thắp sáng cho chiếc tàu ngầm, mà còn như một lớp giáp vô hình bảo vệ con tàu khỏi mọi thế lực tấn công bên ngoài. Nó biến Nautilus thành một pháo đài bất khả xâm phạm, nơi không một bàn tay trần tục nào dám tùy tiện chạm vào nếu không muốn hứng chịu những luồng sét tử thần. Và rồi, từ cỗ máy kỳ vĩ ấy, sự thán phục trong tôi lại chuyển hướng sang chính người kỹ sư thiên tài đã khai sinh ra nó.

Hướng đi của chúng tôi chếch dần về phía tây. Đến ngày 11 tháng Một, con tàu đã vòng qua mũi Wessel ở vĩ độ 10° Bắc và kinh độ 135° Đông, cũng chính là cực đông của Vịnh Carpentaria2. Rặng san hô dưới đáy biển vẫn xuất hiện dày đặc, nhưng chúng đã phân bố thưa thớt và đều đặn hơn, hoàn toàn khớp với những vị trí được đánh dấu chuẩn xác trên hải đồ. Tàu Nautilus uyển chuyển lách qua dải đá ngầm Money bên mạn trái và dải đá ngầm Victoria bên mạn phải. Chúng tôi men theo vĩ tuyến 10, ngay tại kinh độ 130°, một cách đầy điệu nghệ.

Ngày 13 tháng Một, Thuyền trưởng Nemo cho tàu tiến vào vùng biển Timor và nhận ra hòn đảo cùng tên nằm ở kinh độ 122°.

Từ tọa độ này, lộ trình của Nautilus ngoặt sang hướng tây nam. Mũi tàu hiên ngang hướng thẳng về phía Ấn Độ Dương mênh mông. Sở nguyện của Thuyền trưởng Nemo sẽ đưa chúng tôi phiêu bạt về đâu tiếp theo? Liệu ngài sẽ đánh lái quay lại bến bờ châu Á, hay sẽ tiến lại gần những rặng bờ biển châu Âu? Cả hai giả định ấy đều mỏng manh đối với một kẻ mang trái tim luôn chối bỏ những lục địa có hơi ấm con người. Vậy ngài sẽ tiếp tục xuôi về phương nam chăng? Phải chăng ngài định vòng qua Mũi Hảo Vọng3, vượt Mũi Sừng4, để rồi tiến sâu vào tận cùng vùng Nam Cực lạnh lẽo? Hay ngài sẽ đưa tàu quay lại Thái Bình Dương, nơi Nautilus có thể thỏa sức vẫy vùng trong sự tự do và kiêu hãnh tột cùng? Chỉ có thời gian mới có thể đưa ra câu trả lời.

Sau khi lướt qua những bãi cát Cartier, Hibernia, Seringapatam và Scott - những nỗ lực bấu víu cuối cùng của thềm lục địa trước sự nuốt chửng của đại dương - vào ngày 14 tháng Một, bóng dáng đất liền đã hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi. Vận tốc của tàu Nautilus giảm đi rõ rệt. Con tàu di chuyển theo một quỹ đạo tự do đầy ngẫu hứng: khi thì trầm mình thám hiểm đáy sâu, lúc lại êm đềm trôi nổi trên mặt sóng.

Trong suốt quãng thời gian thong dong ấy, Thuyền trưởng Nemo đã thực hiện một loạt những thí nghiệm vô cùng thú vị về sự phân tầng nhiệt độ của nước biển ở các độ sâu khác nhau. Theo lẽ thường, những cuộc khảo sát như vậy đòi hỏi phải có các thiết bị đo đạc vô cùng phức tạp, nhưng kết quả thu về lại thường nhuốm màu hồ nghi. Những máy đo nhiệt độ sâu bằng kính rất dễ bị áp lực nước ép cho vỡ vụn, trong khi những thiết bị vận hành dựa trên biến thiên điện trở của kim loại lại khó mà cho ra số liệu chuẩn xác. Ngược lại, Thuyền trưởng Nemo đã tự mình thân chinh kiểm tra nhiệt độ dưới đáy vực sâu thẳm. Chiếc nhiệt kế chuyên dụng của ngài, khi vừa chạm vào các tầng nước khác biệt, đã lập tức cung cấp những thông số nhanh chóng và chính xác đến kinh ngạc.

Cứ như thế, bằng cách bơm đầy các bể chứa hoặc khéo léo dùng các vây lái để lặn nghiêng, Nautilus lần lượt chinh phục những độ sâu ba, bốn, năm, bảy, chín, rồi đến mười nghìn thước Anh. Cuộc khảo nghiệm vĩ đại ấy đã mang lại một kết luận xác đáng: ở mọi vĩ độ, tại độ sâu năm nghìn sải nước, nhiệt độ của đại dương luôn duy trì ở một mức trung bình ổn định là bốn độ rưỡi.

Ngày 16 tháng Một, Nautilus dường như chìm vào một giấc ngủ say sưa chỉ cách mặt sóng vài thước. Mọi thiết bị điện trên tàu đều tắt ngấm. Chân vịt bất động, mặc cho thân tàu trôi dạt theo những dòng hải lưu. Tôi thầm đoán rằng phi hành đoàn đang tất bật bảo dưỡng các hệ thống bên trong, một công đoạn tất yếu sau những chuỗi ngày động cơ phải gồng mình hoạt động với công suất cao.

Đúng lúc đó, tôi cùng những người bạn đồng hành đã được chiêm ngưỡng một cảnh tượng kỳ ảo đến nghẹt thở. Các tấm trượt bảo vệ cửa sổ phòng khách đã được kéo lên. Do ngọn đèn pha của Nautilus đã tắt, một màn đêm mờ ảo, đặc quánh bao trùm lấy không gian nước bên ngoài. Qua lớp kính dày, tôi cố gắng quan sát lòng biển khơi. Giữa điều kiện tăm tối ấy, ngay cả những loài thủy quái khổng lồ nhất lọt vào mắt tôi cũng chỉ như những cái bóng nhờ nhờ, ma mị. Rồi đột nhiên, tàu Nautilus bị bủa vây bởi một vầng hào quang rực rỡ. Phút đầu, tôi cứ ngỡ có ai đó đã bật đèn pha, rọi luồng ánh sáng điện chói lóa vào khối chất lỏng tối tăm kia. Nhưng tôi đã nhầm. Chỉ một thoáng quan sát, tôi lập tức nhận ra sự nhầm lẫn của mình.

Chiếc tàu ngầm đang bồng bềnh trôi giữa một dải nước phát quang. Giữa màn đêm thăm thẳm, con tàu bỗng trở nên rực sáng như một vì sao. Ánh sáng ấy được thắp lên bởi vô vàn những sinh vật phù du phát quang sinh học5. Độ rực rỡ của chúng dường như còn được nhân lên gấp bội khi vô tình lướt qua lớp vỏ kim loại bóng bẩy của con tàu. Lòng tôi trào dâng một nỗi kinh ngạc trước những luồng chớp chói lọi vạch ngang các dải sáng, tựa như những dòng chì nung chảy cuồn cuộn đổ ra từ một lò luyện rực lửa, hay những khối kim loại bị nung tới độ trắng lóa. Sự tương phản gay gắt ấy làm cho một vài mảng sáng bỗng đổ bóng đen kỳ lạ ngay giữa tâm điểm của một ngọn lửa bùng cháy, nơi mà người ta tưởng chừng mọi góc khuất đều phải bị xua tan. Không! Đây tuyệt nhiên không phải là thứ ánh sáng vô hồn của những tia chớp thông thường. Nó mang trong mình một luồng sinh khí và một cường độ mãnh liệt đến dị thường: đó thực sự là nguồn ánh sáng của sự sống!

Theo đúng nghĩa đen, đó là một quần thể vô tận của các vi sinh vật mang màu sắc, những giọt sứa li ti được tạo hóa ban cho những xúc tu tựa như các sợi chỉ siêu mảnh. Người ta từng thống kê được có tới hai mươi lăm nghìn cá thể như thế chen chúc trong một không gian chưa đầy nửa inch khối nước biển.

Suốt vài giờ liền, Nautilus lướt đi trên những con sóng rực sáng diệu kỳ ấy. Sự thán phục trong chúng tôi càng lúc càng thăng hoa khi chứng kiến những con quái vật biển sâu đang nô đùa tựa bầy kỳ giông lửa6. Ngay giữa ngọn lửa ma thuật không hề thiêu đốt ấy, tôi bắt gặp hình dáng thanh thoát, lanh lợi của bầy cá heo - những gã hề không biết mệt mỏi của đại dương. Cùng với chúng là những con cá kiếm dài đến mười feet, mang sứ mệnh như những nhà tiên tri của bão tố. Đôi lúc, chúng lại dùng thanh kiếm nhọn hoắt, đáng sợ của mình gõ nện vào cửa kính phòng khách. Rồi những đàn cá nhỏ hơn cũng lũ lượt kéo tới: cá nóc sừng, cá thu nhảy, cá nhám đuôi gai, cùng hàng trăm giống loài khác thi nhau vạch những đường sáng lấp lánh trong bầu không gian rực rỡ khi chúng lao đi. Một cảnh tượng chói lóa đến mức mê hoặc! Có lẽ một điều kiện khí quyển dị biệt nào đó đã châm ngòi cho sự bùng phát của hiện tượng thiên nhiên kỳ thú này. Hoặc cũng có thể, một cơn bão dữ dội đang cuồng nộ cày xới mặt sóng phía trên. Nhưng ở độ sâu vài thước Anh này, tàu Nautilus dường như nằm ngoài tầm với của cơn thịnh nộ ấy, êm đềm tận hưởng sự tĩnh lặng của lòng biển khơi.

Chúng tôi cứ thế tiến về phía trước, liên tục bị thôi miên bởi hết thảy những phép màu mới mẻ. Ngày tháng thoăn thoắt thoi đưa, và tôi cũng chẳng còn màng đến việc đếm đong thời gian nữa. Riêng Ned, với bản tính vốn có, vẫn không thôi trăn trở tìm cách thay đổi khẩu phần ăn trên tàu. Giống như những con ốc sên, chúng tôi dính chặt vào chiếc vỏ êm ái của mình, và tôi tự nhủ rằng, sống một cuộc đời ốc sên âu cũng là một điều dễ chịu.

Nhịp sống trôi qua một cách tự nhiên và bình yên đến mức chúng tôi tưởng chừng đã gạt bỏ hoàn toàn ý niệm về một cuộc sống trên đất liền. Nhưng rồi, một biến cố bất ngờ đã xảy đến, như một hồi chuông đánh thức chúng tôi về thực tại vô cùng kỳ lạ của số phận mình.

Vào ngày 18 tháng Một, chiếc Nautilus đang lướt đi tại kinh độ 105 và vĩ độ 15 Nam. Bầu trời mang sắc thái đe dọa, mặt biển chao đảo với những con sóng cuộn trào dưới sức quăng quật của một trận cuồng phong từ hướng Đông. Áp kế7 liên tục sụt giảm suốt mấy ngày qua, dự báo một cơn bão dữ dội sắp sửa ập tới. Tôi vừa bước lên boong tàu thì bắt gặp viên thuyền phó đang mải mê đo đạc tọa độ mặt trời. Tôi nán lại chờ đợi câu nói quen thuộc như mọi ngày, nhưng thay vào đó, anh ta lại buông ra một câu nói khác cũng bí ẩn chẳng kém. Gần như ngay lập tức, Thuyền trưởng Nemo xuất hiện. Ngài cầm chiếc ống nhòm, đăm đăm hướng ánh nhìn về phía chân trời xa xăm.

Suốt nhiều phút liền, ngài đứng lặng như tượng, ánh mắt không hề rời khỏi mục tiêu. Rồi ngài hạ ống nhòm xuống, cất tiếng trao đổi vài câu với viên thuyền phó. Trông anh ta lúc này như thể đang phải gồng mình kìm nén một xúc cảm mãnh liệt nào đó nhưng vô vọng. Trái lại, Thuyền trưởng Nemo làm chủ bản thân tốt hơn hẳn, phong thái ngài toát lên vẻ tĩnh tại, lạnh lùng. Ngài dường như đang đưa ra vài lời bác bỏ, còn viên thuyền phó thì đáp lại bằng những lời cam đoan chắc nịch. Ít nhất thì qua sự khác biệt trong giọng điệu và cử chỉ của họ, tôi đã suy đoán như thế. Về phần mình, tôi cũng cố căng mắt nhìn theo hướng họ đang chỉ, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy gì. Ở đường chân trời trong vắt, bầu trời và mặt biển như tan vào nhau.

Trong khi đó, Thuyền trưởng Nemo sải bước dọc theo boong tàu, không thèm để mắt đến tôi, hoặc có lẽ ngài cũng chẳng hề nhận ra sự hiện diện của tôi ở đó. Bước chân ngài vẫn rắn rỏi, nhưng lại thiếu đi phần nào sự đều đặn thường ngày. Thỉnh thoảng ngài dừng lại, khoanh tay trước ngực và trầm ngâm ngắm nhìn biển cả. Ngài đang mải miết tìm kiếm điều gì giữa không gian vô tận ấy?

Lúc này, con tàu Nautilus đang cách bờ biển gần nhất đến hàng trăm dặm.

Viên thuyền phó lại đưa ống nhòm lên, kiên nhẫn rà soát đường chân trời. Anh ta cứ đi tới đi lui, dậm chân cồn cộp, dáng vẻ bồn chồn hơn hẳn vị chỉ huy của mình. Thêm nữa, cái bí ẩn này có lẽ cũng sắp sửa được vén màn; bởi lẽ, theo lệnh của Thuyền trưởng Nemo, động cơ tàu đã tăng cường lực đẩy, khiến chân vịt xoay tít vội vã.

Đúng lúc ấy, viên thuyền phó lại gọi sự chú ý của Thuyền trưởng. Ngài khựng bước, chĩa ống nhòm về hướng anh ta vừa chỉ và nhìn đăm đăm hồi lâu. Lòng trĩu nặng tò mò, tôi bèn quay xuống phòng khách, lấy chiếc kính viễn vọng loại tốt mà mình vẫn thường dùng. Trở lại boong tàu, tôi tựa người vào lồng kính của ngọn đèn pha nhô ra phía trước, rồi bắt đầu rà soát ranh giới giữa trời và biển.

Nhưng mắt tôi vừa kê vào ống kính thì vật ấy đã bị giật phắt khỏi tay một cách phũ phàng.

Tôi giật mình quay lại. Thuyền trưởng Nemo đang đứng lù lù ngay trước mặt, nhưng tôi gần như chẳng thể nhận ra ngài nữa. Khuôn mặt ngài biến dạng đến đáng sợ. Đôi mắt long lên sòng sọc; hàm răng nghiến chặt; toàn thân cứng đờ; hai bàn tay siết thành nắm đấm, còn đầu thì rụt hẳn vào giữa hai bờ vai. Tất cả đều tố cáo một sự kích động hoang dại đang sôi sục trong huyết quản ngài. Ngài đứng bất động, trơ như đá. Chiếc kính viễn vọng của tôi rớt khỏi tay ngài, lăn lóc dưới chân.

Phải chăng tôi đã vô tình chọc giận cơn lôi đình này? Có phải người đàn ông bí ẩn nọ lầm tưởng rằng tôi vừa khám phá ra một lằn ranh cấm kỵ nào đó chăng? Không; tôi không phải là đối tượng của sự căm ghét ấy, bởi ngài chẳng hề nhìn tôi lấy một cái; ánh mắt ngài vẫn dán chặt vào một điểm vô hình nơi chân trời xa thẳm. Cuối cùng, Thuyền trưởng Nemo cũng dần bình tâm lại. Sự kích động vơi đi. Ngài nói vài lời bằng thứ ngôn ngữ xa lạ nọ với viên thuyền phó, rồi mới quay sang tôi.

"Thưa ngài Aronnax," ngài cất lời, giọng điệu đanh thép đầy tính áp đặt, "tôi yêu cầu ngài phải tuân thủ một trong những điều kiện đã giao ước với tôi."

"Điều kiện gì vậy, thưa thuyền trưởng?"

"Ngài và những người bạn đồng hành sẽ phải chịu sự giam lỏng, cho đến khi nào tôi thấy thời điểm thích hợp để trả lại tự do cho các ngài."

"Ngài là người nắm quyền định đoạt," tôi đáp lại, ánh mắt không hề né tránh cái nhìn của ngài. "Nhưng liệu tôi có thể hỏi ngài một câu không?"

"Không, thưa ngài."

Chẳng có cách nào để chống lại thứ mệnh lệnh độc đoán này, mọi sự phản kháng đều sẽ trở nên vô ích. Tôi quay trở về buồng ngủ nơi Ned Land cùng Conseil đang đợi, và thông báo cho họ quyết định của vị thuyền trưởng. Hẳn độc giả cũng có thể mường tượng được phản ứng của người bạn Canada khi đón nhận hung tin ấy.

Nhưng chẳng còn thời gian để cự cãi nữa. Bốn thủy thủ đã túc trực sẵn ngoài cửa, họ áp giải chúng tôi trở lại chính buồng giam mà chúng tôi từng trải qua đêm đầu tiên trên con tàu Nautilus.

Anh bạn Ned Land toan lớn tiếng phản đối, nhưng cánh cửa đã đóng sập lại ngay trước mặt anh.

"Ngài có thể cho tôi biết chuyện này rốt cuộc là sao không?" Conseil cất lời hỏi.

Tôi kể lại cho hai người bạn đồng hành toàn bộ những gì vừa diễn ra. Cả hai cũng rơi vào trạng thái kinh ngạc tột độ giống như tôi, và hoàn toàn bất lực trong việc tìm ra một lời giải thích hợp lý.

Trong lúc ấy, tôi chìm đắm vào dòng suy tưởng miên man của riêng mình. Tâm trí tôi chẳng thể rứt khỏi hình ảnh nỗi sợ hãi kỳ lạ vừa hằn rõ trên nét mặt thuyền trưởng Nemo. Đang vỡ đầu vì không tài nào tìm ra cách lý giải, dòng suy nghĩ của tôi bỗng bị cắt ngang bởi tiếng gọi của Ned Land:

"Này! Bữa sáng dọn sẵn rồi."

Và quả thực, một bàn ăn đã được dọn sẵn. Rõ ràng thuyền trưởng Nemo đã ban lệnh chuẩn bị bữa ăn này cùng thời điểm ngài hạ lệnh tăng tốc độ cho con tàu Nautilus.

"Ngài có cho phép tôi đưa ra một lời khuyên không?" Conseil hỏi.

"Cứ nói đi, cậu bé."

"Chà, tôi thiết nghĩ ngài nên dùng chút điểm tâm. Việc nạp năng lượng lúc này là vô cùng cần thiết, bởi chúng ta đâu biết điều gì đang đón đợi ở phía trước."

"Cậu nói đúng lắm, Conseil."

"Chỉ tiếc là," Ned Land càu nhàu, "họ chỉ mang đến khẩu phần ăn tiêu chuẩn của con tàu."

"Anh bạn Ned này," Conseil đáp lời, "vậy anh tính sao nếu họ hoàn toàn lãng quên luôn cả bữa sáng của chúng ta?"

Lập luận sắc bén ấy lập tức dập tắt những lời càm ràm của anh thợ săn cá voi.

Ba người chúng tôi cùng ngồi vào bàn. Bữa ăn diễn ra trong bầu không khí im lặng đến ngột ngạt.

Vừa vặn lúc đó, quả cầu phát sáng đang thắp sáng căn phòng bỗng chốc vụt tắt, ném tất cả vào bóng tối đặc quánh. Ned Land nhanh chóng gục xuống ngủ thiếp đi, và điều khiến tôi kinh ngạc là Conseil cũng chìm ngay vào một giấc ngủ say sưa. Đang mải suy đoán xem tác nhân nào có thể gây ra cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại được ở cậu ấy, tôi chợt nhận ra tâm trí mình cũng bắt đầu trở nên mụ mẫm. Bất chấp mọi nỗ lực tuyệt vọng nhằm cố mở to đôi mắt, hai mi mắt tôi cứ trĩu xuống. Một mối hoài nghi sắc lạnh như cắt vào tim xâm chiếm lấy tôi. Rõ ràng, những chất gây mê đã được lén pha trộn vào khẩu phần ăn mà chúng tôi vừa dùng. Chỉ giam lỏng thôi là chưa đủ để thuyền trưởng Nemo che giấu những kế hoạch bí mật của ngài, ngài cần chúng tôi phải chìm vào giấc mộng dài. Ngay sau đó, tôi nghe thấy tiếng những tấm vách thép từ từ đóng sập lại. Những gợn sóng nhấp nhô của biển cả, thứ vốn tạo ra chuyển động lắc lư nhè nhẹ cho con tàu, bỗng dưng bặt tăm. Phải chăng chiếc Nautilus đã rời khỏi mặt đại dương? Phải chăng nó lại đang đắm mình vào những tầng nước sâu thẳm bất động? Tôi cắn răng cố cưỡng lại cơn buồn ngủ đang dâng lên. Nhưng thật vô vọng. Nhịp thở của tôi cứ thế yếu dần đi. Một cái lạnh buốt thấu xương như của cõi chết đang dần đóng băng các chi cứng đờ và làm tê liệt một nửa thân thể tôi. Hai mí mắt tôi nặng trĩu tựa như bị đúc bằng chì. Tôi không còn sức lực nào để nâng chúng lên nổi nữa; một giấc mộng mị bệnh hoạn, ngập tràn những ảo ảnh vặn vẹo, đã tước đoạt chút nhận thức cuối cùng của tôi. Rồi những ảo ảnh ấy cũng tan biến nốt, bỏ lại tôi trôi dạt vào trạng thái hoàn toàn vô giác.



  1. Cụm từ tiếng Latinh có nghĩa là 'giấc mơ của người bệnh' hoặc 'ảo giác ốm yếu', trích từ tác phẩm 'Ars Poetica' của nhà thơ La Mã Horace, ám chỉ những giấc mơ rời rạc, kỳ quái và thiếu logic. 

  2. Một vùng biển lớn, nông ở phía bắc lục địa Australia, giáp biển Arafura. 

  3. Mỏm đá nhô ra ở cực nam của Bán đảo Cape, Nam Phi, từng là một điểm mốc hàng hải quan trọng trên tuyến đường từ châu Âu sang châu Á. 

  4. Điểm cực nam của quần đảo Tierra del Fuego (thuộc Chile), vùng biển giao nhau giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nổi tiếng với sóng to gió lớn nguy hiểm. 

  5. Khả năng tự phát sáng của một số sinh vật sống, thường gặp ở các loài sinh vật biển sâu, do những phản ứng hóa học đặc biệt bên trong cơ thể tạo ra. 

  6. Trong thần thoại phương Tây, kỳ giông lửa (Salamander) được tin là loài sinh vật mang nguyên tố lửa, có khả năng sống sót và dạo chơi bình thường ngay giữa những ngọn lửa rực cháy. 

  7. Thiết bị khoa học dùng để đo áp suất của khí quyển. Áp suất giảm nhanh (áp kế sụt giảm) thường là dấu hiệu báo trước thời tiết xấu hoặc sắp có bão lớn.