CHƯƠNG XI: BIỂN SARGASSO
Hôm đó, chiếc Nautilus băng qua một khu vực vô cùng kỳ lạ trên Đại Tây Dương. Hẳn ai cũng từng nghe nhắc đến Gulf Stream1 - dòng hải lưu nước ấm vĩ đại. Sau khi rời vịnh Florida, chúng tôi tiến về hướng Spitzbergen2. Nhưng trước khi trôi vào vịnh Mexico, ở khoảng vĩ độ bốn mươi lăm độ Bắc, dòng chảy này bỗng chia làm hai nhánh. Nhánh chính thẳng tiến về bờ biển Ireland và Norway, trong khi nhánh thứ hai lại uốn mình vòng xuống phía nam ngang tầm quần đảo Azores3. Sau đó, nó vỗ nhẹ vào bờ biển châu Phi, vẽ nên một hình bầu dục thon dài rồi lững lờ trôi về lại Antilles4.
Chính nhánh thứ hai này - đúng hơn là một vòng đai khép kín chứ chẳng phải một nhánh sông - đã dùng những dòng nước ấm áp bao bọc lấy một vùng đại dương lạnh lẽo, tĩnh lặng và bất động. Nơi ấy được gọi là biển Sargasso5, một hồ nước tuyệt hảo nằm ẩn mình giữa lòng Đại Tây Dương bao la. Dòng hải lưu vĩ đại kia phải mất không dưới ba năm mới có thể đi hết một vòng quanh vùng biển đặc biệt này.
Đó chính là khu vực mà chiếc Nautilus đang viếng thăm - một đồng cỏ xanh ngút ngàn, một tấm thảm khổng lồ dệt từ rong biển, tảo bẹ và những quả mọng nhiệt đới. Lớp thực vật ấy đan xen dày đặc đến mức mũi tàu khó lòng rẽ sóng vượt qua. Thuyền trưởng Nemo, vì không muốn chân vịt của tàu vướng vào khối thực vật chằng chịt này, đã khéo léo giữ tàu bơi ở độ sâu vài thước dưới mặt sóng.
Cái tên Sargasso bắt nguồn từ chữ “sargazzo” trong tiếng Tây Ban Nha, mang ý nghĩa là tảo bẹ. Chính loài tảo bẹ ấy, hay những loài cây đơm quả mọng này, là nguyên liệu chính kiến tạo nên bãi cạn khổng lồ. Vì sao chúng lại hội tụ tại lưu vực yên bình này của Đại Tây Dương? Lời giải thích duy nhất, như ông ấy từng nói, đối với tôi dường như xuất phát từ một thí nghiệm đơn giản mà cả thế giới đều biết. Thử thả vào một bình nước vài mẩu nút bần hay những vật thể nhẹ có thể nổi được, rồi tạo cho dòng nước bên trong một chuyển động xoay tròn. Lập tức, những mẩu vật chất ấy sẽ tụ lại thành một cụm giữa bề mặt chất lỏng - nơi ít bị dòng nước cuộn trào khuấy động nhất. Trong hiện tượng kỳ thú mà chúng ta đang chiêm ngưỡng, Đại Tây Dương chính là chiếc bình vĩ đại, Gulf Stream đóng vai trò dòng xoáy, và biển Sargasso là điểm trung tâm tĩnh lặng nơi vạn vật trôi dạt tìm về.
Tôi hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Maury6, và tôi đã có thể tự mình nghiên cứu hiện tượng này ở ngay chính giữa trung tâm của nó, nơi tàu thuyền hiếm khi dám xâm nhập. Lơ lửng phía trên chúng tôi là vô vàn tàn tích của thế giới, chất đống giữa lớp thực vật mang sắc nâu u sầu. Nào là những thân cây bị bứt lìa khỏi dãy Andes hay rặng Rocky, trôi dạt theo dòng Amazon hay Mississippi vĩ đại. Nào là vô số mảnh vỡ, tàn tích của những sống tàu gãy nát, hay những tấm ván ốp hai bên sườn đã bị đâm thủng, oằn mình cõng hàng ngàn lớp vỏ ốc và hà biển đến mức chúng chẳng bao giờ có thể ngoi lên mặt nước được nữa. Và thời gian rồi sẽ minh chứng cho một quan điểm khác của Maury: rằng những vật chất tích tụ qua nhiều thời đại như vậy, dưới tác động của nước, rồi sẽ hóa thạch. Sau đó, chúng sẽ tạo thành những mỏ than đá vô tận - một nguồn dự trữ quý giá mà Thiên nhiên đã nhìn xa trông rộng chuẩn bị sẵn, đợi đến thời điểm con người khai thác cạn kiệt các mỏ khoáng sản trên các lục địa.
Giữa khối thực vật và rong biển đan xen không tài nào gỡ rối ấy, tôi chợt chú ý thấy vài chú chim bói cá khoác bộ lông màu hồng đầy quyến rũ. Bơi quanh chúng là những bầy hải quỳ thả những xúc tu dài lê thê kéo theo phía sau, cùng vô số những con sứa rực rỡ tỏa sáng với đủ sắc xanh lục, đỏ, và xanh lam.
Suốt cả ngày 22 tháng Hai, chúng tôi đi ngang qua vùng biển Sargasso, chốn tụ tập mỡ màng của những loài cá ưa chuộng thảm thực vật đại dương. Ngay ngày hôm sau, biển cả lại khoác lên mình dáng vẻ quen thuộc. Kể từ lúc ấy, suốt mười chín ngày đằng đẵng từ 23 tháng Hai đến 12 tháng Ba, chiếc tàu ngầm Nautilus miệt mài rẽ sóng giữa lòng Đại Tây Dương. Con tàu chở chúng tôi tiến tới với vận tốc không đổi, trọn vẹn một trăm dặm cho mỗi hai mươi bốn giờ.
Rõ ràng, Thuyền trưởng Nemo đang ôm ấp dự định hoàn thành trọn vẹn chuyến hải trình bí ẩn dưới đáy biển. Tôi mường tượng rằng sau khi vòng qua mũi Cape Horn7, ông sẽ bẻ lái quay lại những vùng biển Nam Thái Bình Dương giáp với châu Úc. Ned Land có lý do chính đáng để mà âu lo. Giữa đại dương bao la, chẳng có lấy một hòn đảo nhỏ để nương tựa, chúng tôi lấy đâu ra cơ hội trốn khỏi con tàu này. Chúng tôi cũng chẳng có phương kế gì để chống lại ý chí sắt đá của Thuyền trưởng Nemo. Con đường duy nhất trước mắt là phải ngoan ngoãn phục tùng. Dẫu vậy, tôi thầm mong mỏi rằng những gì không thể đoạt lấy bằng vũ lực hay mưu mẹo, biết đâu lại có thể mở lối nhờ sức mạnh của sự thuyết phục.
Liệu khi chuyến viễn du này khép lại, ông ấy có ưng thuận trả lại tự do cho chúng tôi, đổi lấy một lời thề vĩnh viễn chôn vùi sự tồn tại của ông hay không? Một lời thề danh dự mà chúng tôi nhất định sẽ sùng kính giữ gìn. Dù thế nào, chúng tôi cũng cần phải đem vấn đề đầy tế nhị ấy ra bàn bạc với Thuyền trưởng.
Nhưng liệu tôi có đủ tư cách để đòi lại quyền tự do này chăng? Chẳng phải ngay từ giây phút đầu tiên, ông ấy đã lạnh lùng và dứt khoát tuyên bố rằng, bí mật cuộc đời ông đòi hỏi chúng tôi phải trở thành những tù nhân vĩnh viễn trên chiếc Nautilus này sao? Và liệu sự im lặng nhẫn nhịn của tôi suốt bốn tháng ròng rã qua có bị ông xem như một sự mặc nhiên cúi đầu chấp nhận số phận? Hơn thế nữa, việc khơi mào lại chủ đề này có khi nào lại gieo rắc những mầm mống nghi ngờ nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến kế hoạch đào tẩu nếu một cơ hội ngàn vàng chợt lóe lên trong tương lai?
Suốt mười chín ngày trôi qua, hành trình của chúng tôi không có lấy một sự kiện nào đáng nhớ. Tôi hiếm khi chạm mặt Thuyền trưởng, bởi ông luôn bận rộn với công việc. Trong thư viện, tôi thường bắt gặp những cuốn sách ông đang đọc dở dang, phần lớn là các tài liệu về lịch sử tự nhiên. Thậm chí, cuốn sách của tôi viết về những vùng đáy biển sâu thẳm cũng được ông nghiên cứu cẩn thận. Mép giấy chi chít những dòng ghi chú, thường là những ý kiến phản bác lại các lý thuyết và hệ thống lập luận của tôi. Tuy nhiên, Thuyền trưởng có vẻ chỉ lặng lẽ thanh lọc lại tác phẩm của tôi theo cách riêng ấy, chứ hiếm khi chịu mở lời tranh luận cùng tôi. Đôi lúc, tôi vẳng nghe những giai điệu sầu thảm cất lên từ cây đàn organ của ông. Nhưng những âm thanh ấy chỉ ngân vang vào ban đêm, giữa bức màn đêm mịt mùng nhất, khi chiếc Nautilus đang say ngủ trên đại dương tĩnh lặng.
Trong suốt chặng đường này, chúng tôi thường mặc cho con tàu trôi dạt cả ngày dài trên mặt sóng. Biển khơi dường như hoàn toàn hoang vắng. Chỉ lác đác vài chiếc thuyền buồm đang trên đường tới Ấn Độ, hướng mũi về phía Mũi Hảo Vọng. Có một ngày, chúng tôi bị vài chiếc xuồng từ một tàu săn cá voi bám đuôi. Chắc hẳn đám thủy thủ đã nhầm tưởng chúng tôi là một con cá voi khổng lồ quý hiếm. Chẳng muốn những con người nhiệt thành ấy phải phí hoài thời gian và sức lực, Thuyền trưởng Nemo bèn kết thúc cuộc rượt đuổi bằng cách cho tàu lặn xuống đáy sâu.
Hành trình của chúng tôi cứ thế tiếp diễn cho đến ngày 13 tháng Ba. Hôm đó, chiếc Nautilus tiến hành đo độ sâu của đại dương, một công việc khiến tôi vô cùng thích thú. Tính từ lúc rời khỏi vùng biển khơi Thái Bình Dương, chúng tôi đã vượt qua khoảng 13.000 dặm. Tọa độ hiện tại chỉ rõ vị trí tàu đang ở vĩ độ 45° 37′ Nam và kinh độ 37° 53′ Tây. Nơi đây chính là vùng nước mà Thuyền trưởng Denham của tàu Herald8 từng thả dây dọi sâu tới 7.000 sải vẫn không sao chạm đáy. Ngay cả Trung úy Parker thuộc tàu khu trục Mỹ Congress cũng từng bó tay khi đo đến 15.140 sải. Lần này, Thuyền trưởng Nemo quyết định tìm kiếm đáy vực bằng cách hạ tàu xuống theo một đường chéo dài vô tận. Ông cho đặt các vây thăng bằng nằm nghiêng một góc 45° so với đường ngấn nước của chiếc Nautilus. Ngay sau đó, chân vịt bắt đầu quay với tốc độ tối đa, bốn cánh quạt chém vào làn sóng nước với một sức mạnh không thể diễn tả bằng lời. Dưới lực ép khủng khiếp ấy, toàn thân chiếc Nautilus rung lên bần bật như một sợi dây đàn đang ngân vang, rồi cứ thế lao chìm xuống đều đặn dưới mặt nước.
Ở độ sâu 7.000 sải, tôi nhìn thấy vài đỉnh núi đen ngòm nhô lên giữa làn nước mờ ảo. Những chóp núi này có lẽ phải thuộc về một rặng núi khổng lồ sánh ngang, thậm chí cao hơn cả dãy Himalaya hay đỉnh Mont Blanc9 hùng vĩ. Thế nhưng, độ sâu của vực thẳm dường như vẫn không thể đong đếm nổi. Chiếc Nautilus tiếp tục dấn sâu hơn nữa, bất chấp áp lực nước đang tăng lên đến mức kinh hoàng. Tôi có thể cảm nhận rõ những tấm thép đang run rẩy nơi các mối nối bu-lông. Các thanh giằng oằn mình cong lại, những bức vách ngăn rên rỉ ken két. Thậm chí, những ô cửa kính của phòng khách cũng dường như đang võng xuống dưới sức nặng ngàn cân của đại dương. Chắc chắn cấu trúc kiên cố này đã phải vỡ vụn nếu như nó không được chế tạo đặc lại như một khối thống nhất, đúng như lời Thuyền trưởng từng khẳng định. Lúc này, chúng tôi đã chạm tới độ sâu 16.000 thước Anh (khoảng bốn dặm). Hai bên mạn tàu chiếc Nautilus đang phải gánh chịu một áp lực lên tới 1.600 atmosphere, tương đương với 3.200 pound đè nặng lên mỗi hai phần năm inch vuông bề mặt.
"Thật là một cảnh tượng phi thường!" tôi kìm lòng không đậu mà thốt lên. "Được len lỏi vào những vực thẳm nơi con người chưa từng một lần đặt chân tới! Nhìn kìa, Thuyền trưởng, hãy nhìn những khối đá tráng lệ kia. Những hang động hoang vu tĩnh mịch, những nơi sâu thẳm tận cùng của quả địa cầu, nơi mà sự sống không còn chốn dung thân! Cảnh tượng vô tiền khoáng hậu này mới kỳ diệu làm sao! Cớ gì chúng ta lại không thể lưu giữ lấy một điều gì đó hơn là những ký ức mỏng manh về chúng cơ chứ?"
"Ngài muốn mang theo một thứ gì đó hữu hình hơn cả ký ức sao?" Thuyền trưởng Nemo cất tiếng hỏi.
"Ý Thuyền trưởng là sao?"
"Ý tôi là, không có gì đơn giản hơn việc chụp lại một bức ảnh về vùng đáy biển này."
Tôi chưa kịp thốt lên lời kinh ngạc trước đề xuất lạ lùng ấy, thì theo lệnh của Thuyền trưởng Nemo, một chiếc máy ảnh đã được mang vào phòng khách. Qua tấm kính cửa sổ đang mở rộng, khối nước rực sáng dưới ánh điện, được phân bổ đều đặn đến mức ánh sáng nhân tạo của chúng tôi không hề tạo ra một bóng râm hay một sự chuyển đổi sắc độ nào. Chiếc Nautilus lúc này hoàn toàn bất động, lực đẩy của chân vịt đã bị triệt tiêu nhờ độ nghiêng của các vây thăng bằng. Chiếc máy ảnh được chống vững vàng trên nền đáy đại dương, và chỉ trong vài giây, chúng tôi đã thu được một tấm phim âm bản hoàn hảo.
Tuy nhiên, ngay khi công việc vừa hoàn tất, Thuyền trưởng Nemo liền ra lệnh: "Ngoi lên thôi! Chúng ta không được phép nán lại đây quá lâu, cũng không thể phơi mình chiếc Nautilus trước một áp lực khủng khiếp như thế này thêm nữa."
"Ngoi lên ngay bây giờ sao!" tôi thốt lên kinh ngạc.
"Ngài bám chặt vào."
Tôi còn chưa kịp hiểu lý do cho lời cảnh báo đường đột ấy, thì bản thân đã bị ném nhào về phía trước, ngã oạch xuống tấm thảm. Theo một tín hiệu từ Thuyền trưởng, chân vịt lập tức được nhả khớp, các cánh quạt dựng thẳng đứng lên. Trút bỏ mọi lực cản, chiếc Nautilus bắn vọt lên không trung nhẹ bẫng như một quả khinh khí cầu. Nó xé toạc khối nước khổng lồ, ngoi lên với một tốc độ kinh hoàng tạo ra sự xáo động ầm ĩ. Tầm nhìn hoàn toàn mờ mịt; và chỉ trong vỏn vẹn bốn phút, con tàu đã xuyên thủng quãng đường bốn dặm ngăn cách nó với mặt đại dương. Trồi lên khỏi mặt nước hệt như một con cá chuồn khổng lồ, chiếc Nautilus rơi phịch xuống, làm bùng lên những ngọn sóng cao ngất trời.
-
Gulf Stream (Dòng Vịnh) là một hải lưu ấm và mạnh trên Đại Tây Dương, bắt nguồn từ vịnh Mexico và chảy về phía Tây Bắc Âu, đóng vai trò quan trọng trong việc sưởi ấm khí hậu khu vực này. ↩
-
Spitzbergen là hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Svalbard của Na Uy ở Bắc Băng Dương, một điểm mốc xa xôi về phía bắc thường được các nhà thám hiểm hướng tới. ↩
-
Quần đảo Azores là một quần đảo của Bồ Đào Nha nằm giữa Bắc Đại Tây Dương, được biết đến như một trạm dừng chân lịch sử trên các tuyến hàng hải xuyên đại dương. ↩
-
Antilles là một chuỗi các đảo lớn ở vùng biển Caribbean (Trung Mỹ), thường được gọi là Tây Ấn. ↩
-
Biển Sargasso là một vùng biển đặc biệt nằm ở trung tâm Bắc Đại Tây Dương, được bao quanh bởi các dòng hải lưu thay vì đất liền, nổi tiếng với vùng nước tĩnh lặng và những thảm tảo Sargassum khổng lồ trôi nổi. ↩
-
Matthew Fontaine Maury (1806-1873) là một sĩ quan hải quân Mỹ, được mệnh danh là "Cha đẻ của Hải dương học hiện đại" nhờ những công trình nghiên cứu tiên phong về các dòng hải lưu và hướng gió. ↩
-
Mũi Horn (Cape Horn) là điểm cực nam của quần đảo Tierra del Fuego ở Nam Mỹ. Đây từng là một trong những tuyến đường hàng hải nguy hiểm nhất thế giới vì biển động dữ dội và băng giá. ↩
-
Henry Mangles Denham là một thuyền trưởng Hải quân Hoàng gia Anh. Vào giữa thế kỷ 19, tàu HMS Herald của ông đã thực hiện nhiều chuyến thám hiểm khảo sát vùng nước sâu và đo đạc thủy văn đại dương. ↩
-
Mont Blanc (Núi Trắng) là ngọn núi cao nhất của dãy Alps và cả Tây Âu (khoảng 4.809 mét), nằm giữa biên giới Pháp và Ý, tượng trưng cho đỉnh cao hùng vĩ của lục địa già. ↩
CHAPTER XI THE SARGASSO SEA
That day the Nautilus crossed a singular part of the Atlantic Ocean. No one can be ignorant of the existence of a current of warm water known by the name of the Gulf Stream. After leaving the Gulf of Florida, we went in the direction of Spitzbergen. But before entering the Gulf of Mexico, about 45° of N. lat., this current divides into two arms, the principal one going towards the coast of Ireland and Norway, whilst the second bends to the south about the height of the Azores; then, touching the African shore, and describing a lengthened oval, returns to the Antilles. This second arm-it is rather a collar than an arm-surrounds with its circles of warm water that portion of the cold, quiet, immovable ocean called the Sargasso Sea, a perfect lake in the open Atlantic: it takes no less than three years for the great current to pass round it. Such was the region the Nautilus was now visiting, a perfect meadow, a close carpet of seaweed, fucus, and tropical berries, so thick and so compact that the stem of a vessel could hardly tear its way through it. And Captain Nemo, not wishing to entangle his screw in this herbaceous mass, kept some yards beneath the surface of the waves. The name Sargasso comes from the Spanish word “sargazzo” which signifies kelp. This kelp, or berry-plant, is the principal formation of this immense bank. And this is the reason why these plants unite in the peaceful basin of the Atlantic. The only explanation which can be given, he says, seems to me to result from the experience known to all the world. Place in a vase some fragments of cork or other floating body, and give to the water in the vase a circular movement, the scattered fragments will unite in a group in the centre of the liquid surface, that is to say, in the part least agitated. In the phenomenon we are considering, the Atlantic is the vase, the Gulf Stream the circular current, and the Sargasso Sea the central point at which the floating bodies unite.
I share Maury’s opinion, and I was able to study the phenomenon in the very midst, where vessels rarely penetrate. Above us floated products of all kinds, heaped up among these brownish plants; trunks of trees torn from the Andes or the Rocky Mountains, and floated by the Amazon or the Mississippi; numerous wrecks, remains of keels, or ships’ bottoms, side-planks stove in, and so weighted with shells and barnacles that they could not again rise to the surface. And time will one day justify Maury’s other opinion, that these substances thus accumulated for ages will become petrified by the action of the water and will then form inexhaustible coal-mines-a precious reserve prepared by far-seeing Nature for the moment when men shall have exhausted the mines of continents.
In the midst of this inextricable mass of plants and sea weed, I noticed some charming pink halcyons and actiniae, with their long tentacles trailing after them, and medusæ, green, red, and blue.
All the day of the 22nd of February we passed in the Sargasso Sea, where such fish as are partial to marine plants find abundant nourishment. The next, the ocean had returned to its accustomed aspect. From this time for nineteen days, from the 23rd of February to the 12th of March, the Nautilus kept in the middle of the Atlantic, carrying us at a constant speed of a hundred leagues in twenty-four hours. Captain Nemo evidently intended accomplishing his submarine programme, and I imagined that he intended, after doubling Cape Horn, to return to the Australian seas of the Pacific. Ned Land had cause for fear. In these large seas, void of islands, we could not attempt to leave the boat. Nor had we any means of opposing Captain Nemo’s will. Our only course was to submit; but what we could neither gain by force nor cunning, I liked to think might be obtained by persuasion. This voyage ended, would he not consent to restore our liberty, under an oath never to reveal his existence?-an oath of honour which we should have religiously kept. But we must consider that delicate question with the Captain. But was I free to claim this liberty? Had he not himself said from the beginning, in the firmest manner, that the secret of his life exacted from him our lasting imprisonment on board the Nautilus? And would not my four months’ silence appear to him a tacit acceptance of our situation? And would not a return to the subject result in raising suspicions which might be hurtful to our projects, if at some future time a favourable opportunity offered to return to them?
During the nineteen days mentioned above, no incident of any kind happened to signalise our voyage. I saw little of the Captain; he was at work. In the library I often found his books left open, especially those on natural history. My work on submarine depths, conned over by him, was covered with marginal notes, often contradicting my theories and systems; but the Captain contented himself with thus purging my work; it was very rare for him to discuss it with me. Sometimes I heard the melancholy tones of his organ; but only at night, in the midst of the deepest obscurity, when the Nautilus slept upon the deserted ocean. During this part of our voyage we sailed whole days on the surface of the waves. The sea seemed abandoned. A few sailing-vessels, on the road to India, were making for the Cape of Good Hope. One day we were followed by the boats of a whaler, who, no doubt, took us for some enormous whale of great price; but Captain Nemo did not wish the worthy fellows to lose their time and trouble, so ended the chase by plunging under the water. Our navigation continued until the 13th of March; that day the Nautilus was employed in taking soundings, which greatly interested me. We had then made about 13,000 leagues since our departure from the high seas of the Pacific. The bearings gave us 45° 37′ S. lat., and 37° 53′ W. long. It was the same water in which Captain Denham of the Herald sounded 7,000 fathoms without finding the bottom. There, too, Lieutenant Parker, of the American frigate Congress, could not touch the bottom with 15,140 fathoms. Captain Nemo intended seeking the bottom of the ocean by a diagonal sufficiently lengthened by means of lateral planes placed at an angle of 45° with the water-line of the Nautilus. Then the screw set to work at its maximum speed, its four blades beating the waves with in describable force. Under this powerful pressure, the hull of the Nautilus quivered like a sonorous chord and sank regularly under the water.
At 7,000 fathoms I saw some blackish tops rising from the midst of the waters; but these summits might belong to high mountains like the Himalayas or Mont Blanc, even higher; and the depth of the abyss remained incalculable. The Nautilus descended still lower, in spite of the great pressure. I felt the steel plates tremble at the fastenings of the bolts; its bars bent, its partitions groaned; the windows of the saloon seemed to curve under the pressure of the waters. And this firm structure would doubtless have yielded, if, as its Captain had said, it had not been capable of resistance like a solid block. We had attained a depth of 16,000 yards (four leagues), and the sides of the Nautilus then bore a pressure of 1,600 atmospheres, that is to say, 3,200 lbs. to each square two-fifths of an inch of its surface.
“What a situation to be in!” I exclaimed. “To overrun these deep regions where man has never trod! Look, Captain, look at these magnificent rocks, these uninhabited grottoes, these lowest receptacles of the globe, where life is no longer possible! What unknown sights are here! Why should we be unable to preserve a remembrance of them?”
“Would you like to carry away more than the remembrance?” said Captain Nemo.
“What do you mean by those words?”
“I mean to say that nothing is easier than to make a photographic view of this submarine region.”
I had not time to express my surprise at this new proposition, when, at Captain Nemo’s call, an objective was brought into the saloon. Through the widely-opened panel, the liquid mass was bright with electricity, which was distributed with such uniformity that not a shadow, not a gradation, was to be seen in our manufactured light. The Nautilus remained motionless, the force of its screw subdued by the inclination of its planes: the instrument was propped on the bottom of the oceanic site, and in a few seconds we had obtained a perfect negative.
But, the operation being over, Captain Nemo said, “Let us go up; we must not abuse our position, nor expose the Nautilus too long to such great pressure.”
“Go up again!” I exclaimed.
“Hold well on.”
I had not time to understand why the Captain cautioned me thus, when I was thrown forward on to the carpet. At a signal from the Captain, its screw was shipped, and its blades raised vertically; the Nautilus shot into the air like a balloon, rising with stunning rapidity, and cutting the mass of waters with a sonorous agitation. Nothing was visible; and in four minutes it had shot through the four leagues which separated it from the ocean, and, after emerging like a flying-fish, fell, making the waves rebound to an enormous height.