CÔ GÁI CHĂN NGỖNG
Ngày xửa ngày xưa, đức vua của một vương quốc rộng lớn băng hà, để lại hoàng hậu nuôi nấng cô con gái độc nhất. Đó là một nàng công chúa vô cùng xinh đẹp. Hoàng hậu yêu thương con gái bằng cả sinh mệnh, luôn ân cần và dịu dàng chăm sóc nàng. Cạnh bên công chúa còn có một bà tiên nhân hậu. Bà vô cùng quý mến nàng và thường giúp hoàng hậu bảo ban cô bé.
Năm tháng thoi đưa, công chúa dần khôn lớn. Nàng được hứa hôn với một chàng hoàng tử sống ở một vương quốc xa xôi. Khi ngày cử hành hôn lễ cận kề, công chúa sửa soạn lên đường đến đất nước của vị hôn phu. Hoàng hậu, vì xót xa con gái phải đi xa, đã sắm sửa bao nhiêu của nải quý giá. Từ ngọc ngà châu báu, vàng bạc lấp lánh đến những bộ xiêm y lộng lẫy nhất - tất thảy đều xứng tầm với một cô dâu hoàng gia. Bà còn cử thêm một cô hầu gái đi theo, mang trọng trách hộ tống công chúa bình an đến tận tay phò mã1. Mỗi người được cấp một con ngựa để dạo bước dặm trường. Chú ngựa của công chúa là món quà quý giá từ bà tiên, mang tên Falada và kỳ diệu thay, chú biết nói tiếng người.
Đến giờ xuất phát, bà tiên lặng lẽ bước vào khuê phòng2 của công chúa. Bà lấy ra một con dao nhỏ, nhẹ nhàng cắt một lọn tóc của chính mình rồi trao tận tay nàng. Bà dặn dò: "Cháu ngoan, hãy giữ gìn vật này thật cẩn thận. Đây là lá bùa hộ mệnh sẽ bảo vệ cháu trên chặng đường sắp tới." Giờ phút chia ly, ai nấy đều rưng rưng nước mắt. Công chúa cất kỹ lọn tóc vào ngực áo, kiêu hãnh bước lên yên ngựa và bắt đầu chuyến hành trình dài hướng về vương quốc của chú rể.
Dọc đường đi, khi hai người đang dong ruổi ven một con suối trong vắt, công chúa chợt thấy khát khô cả cổ. Nàng bảo cô hầu gái: "Ngươi làm ơn xuống ngựa, mang chiếc cốc vàng của ta ra suối lấy chút nước nhé. Ta khát quá rồi."
Thế nhưng, ả hầu gái gằn giọng đáp trả: "Không! Nếu ngươi khát thì tự xuống mà uống. Ta sẽ không hầu hạ ngươi nữa đâu."
Cơn khát cháy họng khiến công chúa đành phải tự mình xuống ngựa. Nàng rụt rè quỳ bên bờ suối, vục mặt xuống dòng nước mát lành. Nàng sợ hãi đến mức chẳng dám lấy chiếc cốc vàng ra dùng. Nước mắt lưng tròng, nàng nức nở: "Trời cao đất dày ơi! Chuyện gì sẽ xảy đến với mình đây?"
Ngay lúc đó, lọn tóc tiên trong ngực áo khẽ đáp lời nàng:
‘Ôi! ôi! nếu mẹ nàng biết chuyện này,
Bà ấy sẽ đau lòng, đau lòng lắm thay.’
Vốn bản tính hiền lành và cam chịu, công chúa chẳng cất lời trách mắng thái độ xấc xược của ả hầu gái, chỉ lặng lẽ trèo lên lưng ngựa đi tiếp.
Mặt trời lên cao, không khí ngày càng oi ả. Nắng gắt thiêu đốt khiến công chúa lại khát khô họng. Cuối cùng, khi bóng dáng một con sông hiện ra trước mắt, nàng đã quên bẵng sự vô lễ ban nãy, dịu giọng bảo: "Làm ơn xuống ngựa, lấy cho ta chút nước bằng chiếc cốc vàng của ta."
Lần này, ả hầu gái còn lớn tiếng kiêu ngạo hơn trước: "Ngươi muốn uống thì tự đi mà uống! Ta quyết không làm kẻ hầu người hạ cho ngươi nữa."
Không thể nhịn khát thêm được, công chúa đành bước xuống ngựa. Nàng rạp người bên bờ, cúi đầu hớp lấy dòng nước mát, nước mắt tuôn rơi lã chã: "Số phận mình rồi sẽ đi về đâu?"
Lọn tóc tiên lại cất tiếng hát ủi an:
‘Ôi! ôi! nếu mẹ nàng biết chuyện này,
Bà ấy sẽ đau lòng, đau lòng lắm thay.’
Nhưng chao ôi, trong lúc nàng cúi xuống, lọn tóc đã tuột khỏi ngực áo và cuốn trôi theo dòng nước xiết. Vì quá hoảng loạn, công chúa chẳng hề hay biết. Thế nhưng, nhất cử nhất động ấy đã lọt vào mắt ả hầu gái. Ả đắc ý tột độ, bởi ả rành rẽ sức mạnh của lá bùa. Giờ đây, khi lọn tóc phép màu đã biến mất, ả biết chắc cô dâu tội nghiệp kia đã hoàn toàn nằm gọn trong lòng bàn tay ả.
Ngay khi công chúa vừa thỏa cơn khát và chuẩn bị trèo lên lưng Falada, ả hầu gái hất hàm ra lệnh: "Từ nay ta sẽ cưỡi Falada, còn ngươi bước sang cưỡi con ngựa còm của ta đi." Công chúa đành cắn răng nhường lại chú ngựa quý. Chưa dừng lại ở đó, ả còn ép nàng cởi bỏ những xiêm y lộng lẫy và khoác lên người bộ quần áo thô kệch, rách rưới của kẻ ăn người ở.
Đến khi kinh thành của hoàng tử đã nhấp nhô phía xa, ả hầu gái hiểm độc tuốt gươm đe dọa. Ả ép chủ nhân phải thề độc, tuyệt đối không được hé răng nửa lời về những oan khuất dọc đường, nếu không ả sẽ lấy mạng nàng ngay lập tức. Công chúa đành ngậm đắng nuốt cay. Nhưng mọi chuyện đã thu gọn vào tầm mắt của Falada, và chú ngựa trung thành ghi khắc từng sự việc vào tận đáy lòng.
Đoạn, ả hầu gái chễm chệ trên lưng Falada, còn nàng công chúa kiều diễm phải lủi thủi cưỡi con ngựa cái già yếu. Cứ thế, họ tiến thẳng vào hoàng cung. Cả triều đình vỡ òa trong niềm hân hoan đón chào đoàn đưa dâu. Hoàng tử tức tốc lao ra, ân cần bế ả hầu gái xuống ngựa, đinh ninh rằng đây chính là bóng hồng sẽ nâng khăn sửa túi3 cho mình. Ả được đám người hầu cung kính rước lên căn phòng hoàng gia sang trọng bậc nhất, trong khi công chúa thật bị xua đuổi, phải đứng trơ trọi dưới sân chầu lạnh lẽo.
Tình cờ thay, lúc bấy giờ lão quốc vương đang dạo bước rảnh rỗi. Ngài thả mình bên khung cửa sổ nhà bếp, phóng tầm mắt ra khoảng sân rộng để xem xét tình hình. Ánh mắt ngài va phải bóng dáng lẻ loi của công chúa. Nàng quá đỗi xinh đẹp và thanh tao, một vẻ đẹp mong manh hoàn toàn xa lạ với cốt cách của một kẻ tôi tớ. Ngài tò mò bước lên phòng hoàng gia, ướm hỏi cô dâu xem thiếu nữ lạ mặt dưới sân kia là ai.
"Thiếp mang cô ta theo để dọc đường có người bầu bạn," ả ta xảo quyệt đáp lời. "Chàng làm ơn sai bảo cô ta làm việc gì đó đi, đừng để cô ta rảnh rỗi sinh nông nổi."
Lão quốc vương đăm chiêu suy nghĩ hồi lâu. Mãi một lúc sau, ngài mới lên tiếng: "Ta có một cậu bé chuyên chăn ngỗng. Cứ để cô ta ra phụ giúp nó vậy." Và thế là, nàng công chúa cành vàng lá ngọc phải lầm lũi đi chăn ngỗng cùng cậu bé tên là Curdken.
Mặt khác, cô dâu giả tìm cơ hội to nhỏ với hoàng tử: "Phu quân yêu quý, chàng có thể chiều thiếp một việc được không?"
"Chỉ cần nàng muốn, ta sẽ làm," hoàng tử âu yếm đáp.
"Vậy chàng hãy sai đồ tể chặt đầu con ngựa thiếp đã cưỡi đến đây đi. Nó là một con vật ngang bướng, đã làm thiếp bực dọc suốt cả chặng đường dài." Sự thật là, ả ta luôn nơm nớp lo sợ một ngày Falada sẽ mở miệng tố cáo những tội ác tày trời của ả.
Âm mưu thâm độc đã trót lọt, chú ngựa Falada trung thành vô tội bị tước đoạt mạng sống. Khi hung tin truyền đến tai công chúa, nàng đau đớn khóc hết nước mắt. Nàng tìm đến tên đồ tể, tha thiết van xin ông ta hãy đóng đinh đầu Falada lên một vòm cổng thành tối tăm. Đó là nơi ngày hai buổi nàng đều phải lùa đàn ngỗng đi qua. Chỉ có cách đó, nàng mới mong được nhìn thấy người bạn nhỏ bé của mình. Động lòng trước sự chân thành ấy, người đồ tể đồng ý. Ông ta đem cái đầu ngựa treo lên ngay dưới vòm cổng u ám nọ.
Sáng sớm tinh mơ hôm sau, khi lùa ngỗng qua vòm cổng, công chúa ngước mắt lên, xót xa than thở:
‘Falada, Falada, mi bị treo ở đó!’
Từ trên vòm cổng cao, cái đầu ngựa vọng xuống tiếng đáp lời:
‘Cô dâu, cô dâu, công chúa đang đi đó!
Ôi! ôi! nếu mẹ công chúa biết chuyện này,
Bà ấy sẽ đau lòng, đau lòng lắm thay.’
Cả hai tiếp tục rời khỏi thành phố và lùa bầy ngỗng ra bãi chăn thả. Ra tới đồng cỏ xanh mướt, công chúa tìm một gờ đất êm ái rồi ngồi xuống. Nàng xõa tung mái tóc uốn lượn như sóng, một mái tóc sáng rực như được dệt từ bạc nguyên chất. Ánh nắng ban mai nhảy múa trên từng lọn tóc khiến Curdken lóa mắt. Thằng bé lao đến, chực giật lấy vài sợi tóc lấp lánh ấy. Nhưng công chúa đã nhanh trí cất tiếng hát:
‘Thổi đi, gió ơi, thổi đi!
Hãy thổi bay mũ của Curdken đi!
Thổi đi, gió ơi, thổi đi!
Hãy để cậu ta đuổi theo nó!
Qua đồi, qua thung lũng, và những mỏm đá,
Hãy cuốn nó đi thật xa
Cho đến khi những lọn tóc bạc
Được chải và uốn xong tất cả!’
Tức thì, một trận cuồng phong ập đến. Gió rít gào, thổi tung chiếc mũ của Curdken bay tít tắp qua những ngọn đồi. Cậu bé chăn ngỗng đành hớt hải chạy đuổi theo chiếc mũ. Đến khi cậu ta thấm mệt quay lại, công chúa đã kịp chải mượt và tết gọn gàng mái tóc bạc của mình, giấu nhẹm chúng sau lớp áo. Curdken hậm hực ra mặt. Cậu bé phụng phịu, cả ngày chẳng thèm nói với nàng một lời. Hai người cứ lặng lẽ chăn ngỗng cho đến khi màn đêm buông xuống mới lùa đàn vật nuôi về lại lâu đài.
Rạng sáng hôm sau, kịch bản cũ lại tái diễn. Vừa bước qua cánh cổng u ám, cô gái đáng thương ngước lên nhìn chiếc đầu ngựa rồi rớt nước mắt:
‘Falada, Falada, mi bị treo ở đó!’
Từ trên cao, Falada vẫn trung thành đáp:
‘Cô dâu, cô dâu, công chúa đang đi đó!
Ôi! ôi! nếu mẹ công chúa biết chuyện này,
Bà ấy sẽ đau lòng, đau lòng lắm thay.’
Lùa đàn ngỗng ra đến bãi cỏ, nàng lại ngồi xuống và bắt đầu gỡ tóc. Curdken không chịu bỏ cuộc, cậu ta vội vàng sấn sổ tới hòng chiếm lấy vốc tóc tuyệt đẹp. Nhưng công chúa lại cất giọng ngân vang:
‘Thổi đi, gió ơi, thổi đi!
Hãy thổi bay mũ của Curdken đi!
Thổi đi, gió ơi, thổi đi!
Hãy để cậu ta đuổi theo nó!
Qua đồi, qua thung lũng, và những mỏm đá,
Hãy cuốn nó đi thật xa
Cho đến khi những lọn tóc bạc
Được chải và uốn xong tất cả!’
Gió ngoan ngoãn vâng lời, nổi lên dữ dội. Chiếc mũ của Curdken lại bay vút lên không trung, vượt qua những đồi cỏ xanh rì, phiêu dạt về một nơi xa lắc xa lơ. Cậu bé khốn khổ lại phải co cẳng đuổi theo. Mãi tới lúc cậu ta mướt mải quay về, mái tóc lấp lánh kia đã được giấu kín. Cuộc chăn ngỗng cứ thế trôi qua êm ả cho đến lúc hoàng hôn buông lơi.
Tối hôm ấy, vừa về đến hoàng cung, Curdken lập tức chạy đến diện kiến4 lão quốc vương. Cậu dậm chân ấm ức: "Bệ hạ ơi, thần thà một mình chăn ngỗng còn hơn! Thần quyết không làm việc cùng cái cô gái quái gở kia nữa đâu."
"Cớ sự làm sao?" nhà vua gặng hỏi.
"Bởi vì, thay vì lo làm việc, cô ta suốt ngày chỉ tìm cách trêu cợt thần thôi!" Curdken mếu máo.
Nhà vua tò mò, liền ra lệnh cho cậu bé tường thuật lại cặn kẽ mọi chuyện. Curdken kể lể: "Lúc mới sáng bảnh mắt, khi chúng thần lùa đàn ngỗng đi qua vòm cổng tối tăm, cô ta cứ đứng thút thít. Rồi cô ta bắt chuyện với cái đầu ngựa bị bêu trên tường thành:
‘Falada, Falada, mi bị treo ở đó!’
Thế mà cái đầu ngựa ấy lại mở miệng trả lời bệ hạ ạ:
‘Cô dâu, cô dâu, công chúa đang đi đó!
Ôi! ôi! nếu mẹ công chúa biết chuyện này,
Bà ấy sẽ đau lòng, đau lòng lắm thay.’
Cậu bé chăn ngỗng say sưa kể tiếp chuyện xảy ra trên đồng cỏ. Từ việc chiếc mũ của cậu bị cuốn phăng đi như có phép màu, đến việc cậu phải bỏ mặc đàn ngỗng mà chạy thục mạng để lấy lại mũ. Lão quốc vương đăm chiêu suy nghĩ. Ngài vỗ về cậu bé, dặn dò ngày mai cứ tiếp tục công việc như bình thường.
Hôm sau, ngay từ tinh mơ, lão quốc vương đã bí mật nấp sau cánh cổng thành u tối. Ngài tận tai nghe thấy cuộc trò chuyện đẫm nước mắt giữa cô gái và đầu ngựa Falada. Rồi ngài lẳng lặng bám theo, giấu mình sau một lùm cây rậm rạp cạnh bãi cỏ chăn ngỗng. Không bao lâu sau, ngài tận mắt chứng kiến cô gái xõa tung mái tóc óng ánh bạc dưới nắng vàng rực rỡ, và giọng hát lảnh lót của nàng cất lên:
‘Thổi đi, gió ơi, thổi đi!
Hãy thổi bay mũ của Curdken đi!
Thổi đi, gió ơi, thổi đi!
Hãy để cậu ta đuổi theo nó!
Qua đồi, qua thung lũng, và những mỏm đá,
Hãy cuốn nó đi thật xa
Cho đến khi những lọn tóc bạc
Được chải và uốn xong tất cả!’
Quả đúng như lời cậu bé chăn ngỗng kể, một trận cuồng phong lập tức giật tung chiếc mũ của Curdken. Cậu bé lại phải khốn khổ chạy đuổi theo chiếc mũ, bỏ mặc cô gái tha hồ chải chuốt và tết lại mái tóc kiêu sa. Lão quốc vương thu hết mọi chuyện vào tầm mắt. Ngài âm thầm trở về hoàng cung, không để lại bất kỳ dấu vết nào.
Buổi tối, đợi cô gái chăn ngỗng trở về, ngài kín đáo gọi cô ra một góc vắng. Ngài ân cần gặng hỏi nguyên cớ vì sao cô lại có những hành động kỳ lạ như thế. Nhắc đến nỗi oan khuất, cô gái òa khóc nức nở: "Cháu không thể kể cho bệ hạ hay bất cứ ai nghe được đâu. Lời thề độc cấm cháu hé răng, nếu không cháu sẽ phải đền mạng mất!"
Nhưng bằng tấm lòng nhân hậu bao la, lão quốc vương dỗ dành, khuyên nhủ hết lời. Cuối cùng, lớp băng sợ hãi trong lòng cô gái cũng tan chảy. Nàng chậm rãi kể lại toàn bộ câu chuyện bi thương từ đầu đến cuối, không sót một chi tiết nào. May mắn thay, nàng đã đặt niềm tin đúng chỗ. Vừa nghe xong, nhà vua lập tức sai người mang đến những bộ nhung lụa xa hoa nhất để nàng thay đổi y phục. Khi công chúa bước ra, vẻ kiêu sa đài các của nàng khiến lão quốc vương sững sờ kinh ngạc.
Ngài bèn truyền gọi hoàng tử đến, vén màn bí mật động trời: "Con trai ta, con đang chung sống với một cô dâu giả dối! Ả ta chỉ là một thân phận thấp hèn, một mụ hầu gái tâm địa độc ác. Còn đây, cô gái đang đứng trước mặt con, mới chính là vị hôn thê đích thực."
Choáng ngợp trước nhan sắc khuynh nước khuynh thành5 của nàng, lại thêm nể phục tấm lòng lương thiện và đức hy sinh nhẫn nhịn, vị vua trẻ vui mừng khôn xiết. Để trừng trị kẻ gian ác, lão quốc vương giữ kín mọi chuyện với ả hầu. Ngài truyền lệnh mở một bữa quốc yến6 linh đình để chiêu đãi bá quan văn võ.
Trên chiếc bàn tiệc danh dự, chú rể ngồi chễm chệ ở vị trí trung tâm. Một bên là ả công chúa giả, bên còn lại là nàng công chúa thật. Thế nhưng, chẳng một ai nhận ra cô gái chăn ngỗng lấm lem ngày nào. Vẻ đẹp rạng ngời của nàng trong bộ váy áo lộng lẫy đã hoàn toàn làm chói lòa mọi ánh nhìn.
Khi tiệc rượu đã ngà ngà say, bầu không khí đang lúc náo nhiệt nhất, lão quốc vương lên tiếng đề nghị kể một câu chuyện tiêu khiển. Ngài cất giọng trầm ấm, tường thuật lại rành rọt thảm kịch mà công chúa phải chịu đựng, nhưng lại giả vờ như đó là một mẩu chuyện ngài vô tình nghe được từ dân gian.
Kể xong, ngài quay sang hỏi dò ả hầu gái độc ác: "Theo ngươi, kẻ nào phạm phải tội ác tày trời như vậy thì nên chịu hình phạt nào?"
Bản tính tàn độc mờ mắt, ả không chút do dự phán: "Không gì xứng đáng hơn là nhét ả ta vào một cái thùng gỗ đóng đầy đinh nhọn! Xong xuôi, bệ hạ hãy buộc cái thùng ấy vào đuôi hai con bạch mã mãnh liệt, cho chúng kéo lê lết khắp các nẻo đường góc phố cho đến khi ả bỏ mạng mới thôi."
Lão quốc vương vỗ bàn cái rầm, lớn tiếng quát: "Kẻ đó chính là ngươi! Ngươi đã tự định tội cho bản thân mình, vậy thì hãy tự nếm trải hình phạt ấy đi!"
Sự thật phơi bày, công lý được thực thi. Sau đó, vị vua trẻ hân hoan cử hành hôn lễ với người vợ đoan trang, hiền thục của đời mình. Họ cùng nhau trị vì vương quốc, sống những tháng ngày thái bình, hạnh phúc viên mãn mãi về sau. Bà tiên tốt bụng cũng không quên đến chung vui, và bằng phép thuật nhiệm màu, bà đã hồi sinh chú ngựa Falada trung thành trở lại.
-
Danh xưng trong các triều đại phong kiến dùng để gọi người con rể của vua chúa. ↩
-
Từ cũ chỉ căn phòng riêng được trang trí đẹp đẽ dành cho phụ nữ, đặc biệt là con gái các gia đình quyền quý thời xưa. ↩
-
Thành ngữ chỉ hình ảnh người vợ chăm sóc, lo toan những việc sinh hoạt thường ngày cho người chồng. ↩
-
Đến gặp gỡ trực tiếp một người có địa vị cao hơn mình rất nhiều, thường được dùng trong bối cảnh triều đình phong kiến khi yết kiến nhà vua. ↩
-
Thành ngữ gốc Hán (nghiêng nước nghiêng thành), dùng để ca ngợi vẻ đẹp tuyệt mỹ của người phụ nữ, có sức hút mãnh liệt đến mức làm khuynh đảo cả một đất nước. ↩
-
Bữa tiệc lớn và vô cùng long trọng do nhà vua hoặc hoàng gia tổ chức để thiết đãi khách quý hoặc ăn mừng những sự kiện trọng đại của đất nước. ↩
THE GOOSE-GIRL
The king of a great land died, and left his queen to take care of their only child. This child was a daughter, who was very beautiful; and her mother loved her dearly, and was very kind to her. And there was a good fairy too, who was fond of the princess, and helped her mother to watch over her. When she grew up, she was betrothed to a prince who lived a great way off; and as the time drew near for her to be married, she got ready to set off on her journey to his country. Then the queen her mother, packed up a great many costly things; jewels, and gold, and silver; trinkets, fine dresses, and in short everything that became a royal bride. And she gave her a waiting-maid to ride with her, and give her into the bridegroom’s hands; and each had a horse for the journey. Now the princess’s horse was the fairy’s gift, and it was called Falada, and could speak.
When the time came for them to set out, the fairy went into her bed-chamber, and took a little knife, and cut off a lock of her hair, and gave it to the princess, and said, ‘Take care of it, dear child; for it is a charm that may be of use to you on the road.’ Then they all took a sorrowful leave of the princess; and she put the lock of hair into her bosom, got upon her horse, and set off on her journey to her bridegroom’s kingdom.
One day, as they were riding along by a brook, the princess began to feel very thirsty: and she said to her maid, ‘Pray get down, and fetch me some water in my golden cup out of yonder brook, for I want to drink.’ ‘Nay,’ said the maid, ‘if you are thirsty, get off yourself, and stoop down by the water and drink; I shall not be your waiting-maid any longer.’ Then she was so thirsty that she got down, and knelt over the little brook, and drank; for she was frightened, and dared not bring out her golden cup; and she wept and said, ‘Alas! what will become of me?’ And the lock answered her, and said:
‘Alas! alas! if thy mother knew it,
Sadly, sadly, would she rue it.’
But the princess was very gentle and meek, so she said nothing to her maid’s ill behaviour, but got upon her horse again.
Then all rode farther on their journey, till the day grew so warm, and the sun so scorching, that the bride began to feel very thirsty again; and at last, when they came to a river, she forgot her maid’s rude speech, and said, ‘Pray get down, and fetch me some water to drink in my golden cup.’ But the maid answered her, and even spoke more haughtily than before: ‘Drink if you will, but I shall not be your waiting-maid.’ Then the princess was so thirsty that she got off her horse, and lay down, and held her head over the running stream, and cried and said, ‘What will become of me?’ And the lock of hair answered her again:
‘Alas! alas! if thy mother knew it,
Sadly, sadly, would she rue it.’
And as she leaned down to drink, the lock of hair fell from her bosom, and floated away with the water. Now she was so frightened that she did not see it; but her maid saw it, and was very glad, for she knew the charm; and she saw that the poor bride would be in her power, now that she had lost the hair. So when the bride had done drinking, and would have got upon Falada again, the maid said, ‘I shall ride upon Falada, and you may have my horse instead’; so she was forced to give up her horse, and soon afterwards to take off her royal clothes and put on her maid’s shabby ones.
At last, as they drew near the end of their journey, this treacherous servant threatened to kill her mistress if she ever told anyone what had happened. But Falada saw it all, and marked it well.
Then the waiting-maid got upon Falada, and the real bride rode upon the other horse, and they went on in this way till at last they came to the royal court. There was great joy at their coming, and the prince flew to meet them, and lifted the maid from her horse, thinking she was the one who was to be his wife; and she was led upstairs to the royal chamber; but the true princess was told to stay in the court below.
Now the old king happened just then to have nothing else to do; so he amused himself by sitting at his kitchen window, looking at what was going on; and he saw her in the courtyard. As she looked very pretty, and too delicate for a waiting-maid, he went up into the royal chamber to ask the bride who it was she had brought with her, that was thus left standing in the court below. ‘I brought her with me for the sake of her company on the road,’ said she; ‘pray give the girl some work to do, that she may not be idle.’ The old king could not for some time think of any work for her to do; but at last he said, ‘I have a lad who takes care of my geese; she may go and help him.’ Now the name of this lad, that the real bride was to help in watching the king’s geese, was Curdken.
But the false bride said to the prince, ‘Dear husband, pray do me one piece of kindness.’ ‘That I will,’ said the prince. ‘Then tell one of your slaughterers to cut off the head of the horse I rode upon, for it was very unruly, and plagued me sadly on the road’; but the truth was, she was very much afraid lest Falada should some day or other speak, and tell all she had done to the princess. She carried her point, and the faithful Falada was killed; but when the true princess heard of it, she wept, and begged the man to nail up Falada’s head against a large dark gate of the city, through which she had to pass every morning and evening, that there she might still see him sometimes. Then the slaughterer said he would do as she wished; and cut off the head, and nailed it up under the dark gate.
Early the next morning, as she and Curdken went out through the gate, she said sorrowfully:
‘Falada, Falada, there thou hangest!’
and the head answered:
‘Bride, bride, there thou gangest!
Alas! alas! if thy mother knew it,
Sadly, sadly, would she rue it.’
Then they went out of the city, and drove the geese on. And when she came to the meadow, she sat down upon a bank there, and let down her waving locks of hair, which were all of pure silver; and when Curdken saw it glitter in the sun, he ran up, and would have pulled some of the locks out, but she cried:
‘Blow, breezes, blow!
Let Curdken’s hat go!
Blow, breezes, blow!
Let him after it go!
O’er hills, dales, and rocks,
Away be it whirl’d
Till the silvery locks
Are all comb’d and curl’d!
Then there came a wind, so strong that it blew off Curdken’s hat; and away it flew over the hills: and he was forced to turn and run after it; till, by the time he came back, she had done combing and curling her hair, and had put it up again safe. Then he was very angry and sulky, and would not speak to her at all; but they watched the geese until it grew dark in the evening, and then drove them homewards.
The next morning, as they were going through the dark gate, the poor girl looked up at Falada’s head, and cried:
‘Falada, Falada, there thou hangest!’
and the head answered:
‘Bride, bride, there thou gangest!
Alas! alas! if thy mother knew it,
Sadly, sadly, would she rue it.’
Then she drove on the geese, and sat down again in the meadow, and began to comb out her hair as before; and Curdken ran up to her, and wanted to take hold of it; but she cried out quickly:
‘Blow, breezes, blow!
Let Curdken’s hat go!
Blow, breezes, blow!
Let him after it go!
O’er hills, dales, and rocks,
Away be it whirl’d
Till the silvery locks
Are all comb’d and curl’d!
Then the wind came and blew away his hat; and off it flew a great way, over the hills and far away, so that he had to run after it; and when he came back she had bound up her hair again, and all was safe. So they watched the geese till it grew dark.
In the evening, after they came home, Curdken went to the old king, and said, ‘I cannot have that strange girl to help me to keep the geese any longer.’ ‘Why?’ said the king. ‘Because, instead of doing any good, she does nothing but tease me all day long.’ Then the king made him tell him what had happened. And Curdken said, ‘When we go in the morning through the dark gate with our flock of geese, she cries and talks with the head of a horse that hangs upon the wall, and says:
‘Falada, Falada, there thou hangest!’
and the head answers:
‘Bride, bride, there thou gangest!
Alas! alas! if thy mother knew it,
Sadly, sadly, would she rue it.’
And Curdken went on telling the king what had happened upon the meadow where the geese fed; how his hat was blown away; and how he was forced to run after it, and to leave his flock of geese to themselves. But the old king told the boy to go out again the next day: and when morning came, he placed himself behind the dark gate, and heard how she spoke to Falada, and how Falada answered. Then he went into the field, and hid himself in a bush by the meadow’s side; and he soon saw with his own eyes how they drove the flock of geese; and how, after a little time, she let down her hair that glittered in the sun. And then he heard her say:
‘Blow, breezes, blow!
Let Curdken’s hat go!
Blow, breezes, blow!
Let him after it go!
O’er hills, dales, and rocks,
Away be it whirl’d
Till the silvery locks
Are all comb’d and curl’d!
And soon came a gale of wind, and carried away Curdken’s hat, and away went Curdken after it, while the girl went on combing and curling her hair. All this the old king saw: so he went home without being seen; and when the little goose-girl came back in the evening he called her aside, and asked her why she did so: but she burst into tears, and said, ‘That I must not tell you or any man, or I shall lose my life.’
But the old king begged so hard, that she had no peace till she had told him all the tale, from beginning to end, word for word. And it was very lucky for her that she did so, for when she had done the king ordered royal clothes to be put upon her, and gazed on her with wonder, she was so beautiful. Then he called his son and told him that he had only a false bride; for that she was merely a waiting-maid, while the true bride stood by. And the young king rejoiced when he saw her beauty, and heard how meek and patient she had been; and without saying anything to the false bride, the king ordered a great feast to be got ready for all his court. The bridegroom sat at the top, with the false princess on one side, and the true one on the other; but nobody knew her again, for her beauty was quite dazzling to their eyes; and she did not seem at all like the little goose-girl, now that she had her brilliant dress on.
When they had eaten and drank, and were very merry, the old king said he would tell them a tale. So he began, and told all the story of the princess, as if it was one that he had once heard; and he asked the true waiting-maid what she thought ought to be done to anyone who would behave thus. ‘Nothing better,’ said this false bride, ‘than that she should be thrown into a cask stuck round with sharp nails, and that two white horses should be put to it, and should drag it from street to street till she was dead.’ ‘Thou art she!’ said the old king; ‘and as thou has judged thyself, so shall it be done to thee.’ And the young king was then married to his true wife, and they reigned over the kingdom in peace and happiness all their lives; and the good fairy came to see them, and restored the faithful Falada to life again.