CON QUẠ
Ngày xửa ngày xưa, có một vị hoàng hậu sinh hạ được một nàng công chúa bé bỏng, hãy còn chập chững chưa biết đi. Một ngày nọ, đứa trẻ quấy khóc mãi không thôi, người mẹ dỗ dành cách mấy cũng chẳng chịu nín. Bực dọc và mất kiên nhẫn, hoàng hậu ném ánh nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi đàn quạ đang chao lượn quanh lâu đài, rồi trót buông lời: "Mẹ ước gì con biến thành một con quạ bay đi cho khuất mắt, để mẹ được yên thân một chút!" Lời ruồng rẫy vừa dứt, đứa bé trong vòng tay bà tức thì hóa thành một con quạ đen tuyền, vút bay qua khung cửa sổ đang mở toang. Con chim tội nghiệp ấy bay mải miết đến một khu rừng rậm rạp, u tối và ở lại đó đằng đẵng suốt bao năm tháng, để lại đôi vợ chồng nhà vua mòn mỏi ngóng trông bặt vô âm tín.
Rất lâu sau, có một chàng trai tình cờ đi ngang qua khu rừng. Nghe thấy tiếng quạ kêu thê thiết, chàng tò mò lần theo âm thanh ấy. Khi chàng bước đến gần, con quạ bỗng cất tiếng người: "Nàng vốn dĩ là một nàng công chúa cao quý, nhưng nay lại vướng phải một lời nguyền nghiệt ngã. Dẫu vậy, chàng có thể giải cứu cho nàng."
"Chàng phải làm gì?" chàng trai ngạc nhiên hỏi.
Nàng đáp lời: "Chàng hãy dấn bước sâu hơn vào rừng thẳm cho đến khi trông thấy một căn nhà nhỏ. Nơi đó có một bà lão sinh sống. Bà ấy sẽ ân cần mời mọc chàng ăn uống, nhưng xin chàng tuyệt đối đừng nhận bất cứ thứ gì. Nhược bằng chàng động đến đồ ăn thức uống, chàng sẽ chìm sâu vào giấc mộng mị và chẳng thể nào cứu được nàng nữa. Trong khu vườn phía sau ngôi nhà ấy có một đống vỏ cây thuộc da1 chất cao, chàng hãy đứng trên đó và đợi nàng. Vào lúc hai giờ chiều trong suốt ba ngày liên tiếp, nàng sẽ đi xe ngựa đến đó. Ngày đầu tiên, cỗ xe sẽ do bốn con bạch mã kéo; ngày thứ hai là bốn con ngựa nâu; và ngày cuối cùng là bốn con ngựa đen tuyền. Nhưng nếu chàng không cưỡng lại được cơn buồn ngủ mà để nàng thấy chàng nhắm mắt, lời nguyền quái ác này sẽ mãi mãi không được hóa giải đâu."
Chàng trai kiên định hứa sẽ làm theo mọi điều nàng dặn, nhưng con quạ xót xa than thở: "Than ôi! Ngay lúc này nàng đã linh cảm rằng chàng sẽ xiêu lòng nhận đồ từ bà lão và bỏ lỡ cơ hội cứu nàng." Nghe vậy, chàng trai một mực quả quyết với nàng rằng chàng tuyệt đối sẽ không để một giọt nước hay một mẩu thức ăn nào chạm môi.
Khi chàng tìm đến ngôi nhà và bước qua ngưỡng cửa, bà lão đã đon đả ra đón và xởi lởi nói: "Tội nghiệp cậu! Trông cậu mới mệt mỏi làm sao! Cậu hãy vào nhà nghỉ ngơi một chút, để bà đi lấy cho cậu chút gì lót dạ nhé."
"Không," chàng trai dứt khoát đáp, "cháu sẽ không ăn cũng chẳng uống gì đâu."
Nhưng bà lão vẫn không chịu buông tha, cứ ỉ ôi nài nỉ: "Nếu cậu nhất quyết không ăn, thì ít nhất cũng nhấp thử một ngụm rượu này đi. Uống một chút thì có hề hấn gì cơ chứ." Mủi lòng trước lời dỗ dành, cuối cùng chàng cũng chép miệng uống một ngụm.
Khi giờ hẹn sắp điểm, chàng bước ra vườn, trèo lên đống vỏ cây thuộc da để ngóng đợi con quạ. Đột nhiên, một cơn buồn ngủ kéo đến trĩu nặng đôi mi. Chàng không cưỡng nổi sự mệt mỏi bèn ngả lưng xuống nghỉ tạm một lát, dẫu trong lòng vẫn tự nhủ phải gắng gượng thức đợi. Thế nhưng, chỉ một phút sau, hai mắt chàng đã díp lại và chàng chìm vào một giấc ngủ say sưa, sâu đến mức dẫu trời long đất lở cũng chẳng thể nào lay chàng tỉnh giấc. Đúng hai giờ chiều, con quạ ngự trên cỗ xe do bốn con bạch mã kéo tiến đến. Thế nhưng, chưa kịp đến nơi, nàng đã xót xa thở dài tự nhủ: "Nàng biết ngay là chàng đã ngủ thiếp đi rồi mà." Quả nhiên, khi bước vào vườn, đập vào mắt nàng là cảnh tượng chàng trai đang nằm thảnh thơi trên đống vỏ cây, ngủ say như chết. Nàng vội vã bước xuống xe, chạy đến bên chàng lay gọi thảm thiết, nhưng mọi nỗ lực đều trở nên vô vọng, chàng vẫn chìm sâu trong mộng mị.
Trưa hôm sau, bà lão lại mang đồ ăn thức uống ra dụ dỗ chàng. Ban đầu chàng kiên quyết chối từ. Nhưng sau một hồi nghe bà lão ỉ ôi nài ép phải lót dạ chút gì đó, chàng lại mềm lòng nâng ly lên uống.
Gần hai giờ chiều, chàng lại ra vườn, trèo lên đống vỏ cây đợi công chúa. Đứng đó chưa được bao lâu, tay chân chàng đã rã rời, sức lực như bị rút cạn không tài nào đứng vững nổi. Thế là chàng lại nằm vật xuống và thiếp đi. Khi con quạ tiến đến trên cỗ xe do bốn con ngựa nâu kéo kéo, nàng buồn bã tự nhủ: "Nàng biết ngay chàng lại ngủ thiếp đi rồi." Nàng lại hối hả đến tìm chàng như hôm qua, nhưng chàng vẫn say giấc nồng, chẳng có cách nào đánh thức nổi.
Đến ngày thứ ba, bà lão lại trách móc: "Thế này là thế nào? Cậu không chịu ăn uống gì, định tự đày đọa mình đến chết đói sao?"
Chàng đáp: "Cháu không được phép và cũng sẽ không ăn hay uống bất cứ thứ gì."
Thế nhưng bà lão vẫn cố tình đặt đĩa thức ăn thơm phức và ly rượu sóng sánh ngay trước mặt chàng. Ngửi thấy men rượu say nồng, chàng không tài nào cưỡng lại được sự cám dỗ tột độ, bèn nâng ly uống một hơi cạn sạch.
Đến giờ hẹn, chàng lại gượng bước ra đống vỏ cây trong vườn để ngóng chờ công chúa. Lần này, cơn buồn ngủ còn ập đến dữ dội hơn hai ngày trước. Chàng gục hẳn xuống và ngủ say như chết. Lúc hai giờ, người ta lại thấy con quạ đang tiến đến. Nhưng lần này, từ người đánh xe, cỗ xe cho đến những con ngựa đều khoác lên mình một màu đen u ám.
Lòng nặng trĩu bi thương, nàng cất giọng đau đớn khi cỗ xe dừng lại: "Nàng biết chàng lại ngủ thiếp đi, và sẽ vĩnh viễn không thể giải thoát cho nàng được nữa." Thấy chàng nằm đó ngủ li bì, mọi nỗ lực lay gọi đều tan thành mây khói. Rơi lệ tuyệt vọng, nàng đặt cạnh chàng một ổ bánh mì, một ít thịt và một bình rượu - những thức đồ kỳ diệu dẫu có ăn uống bao nhiêu cũng không bao giờ vơi cạn. Sau đó, nàng lặng lẽ tháo chiếc nhẫn vàng có khắc tên mình lồng vào tay chàng. Cuối cùng, nàng để lại một bức thư, tỉ mỉ dặn dò về số thức ăn kia, rồi khép lại bằng những dòng chữ đầy tuyệt vọng: "Nàng hiểu rằng chừng nào chàng còn nấn ná nơi này, chàng sẽ chẳng bao giờ giải cứu được nàng. Dẫu vậy, nếu chàng vẫn một lòng muốn cứu nàng, xin hãy tìm đến lâu đài vàng Stromberg2; việc này hoàn toàn nằm trong khả năng của chàng." Dứt lời, nàng gạt nước mắt bước lên xe, hướng thẳng về phía lâu đài vàng Stromberg.
Khi chàng trai sực tỉnh và bàng hoàng nhận ra mình lại ngủ quên, chàng vò đầu bứt tai đau khổ tột cùng: "Chắc chắn nàng đã đến đây và rời đi mất rồi, giờ thì mọi chuyện đã quá muộn màng!" Chợt ánh mắt chàng chạm phải những món đồ đặt ngay bên cạnh. Chàng vội vàng mở bức thư ra đọc và thấu hiểu mọi cớ sự. Không chần chừ một giây, chàng bật dậy, nóng lòng lên đường tìm đến lâu đài Stromberg, dẫu trong đầu chẳng mường tượng được phương hướng nơi đâu. Chàng lang thang vô định rất lâu, cuối cùng đi lạc vào một khu rừng rậm rạp. Chàng mải miết luồn lách qua những tán cây suốt mười bốn ngày ròng rã mà vẫn chưa tìm thấy lối ra. Màn đêm lại buông xuống trùm kín khu rừng, chàng mệt lả người nằm rạp dưới một bụi cây thiếp đi. Sáng hôm sau, chàng lại tiếp tục hành trình vô vọng xuyên qua rừng thẳm. Đến chập tối, khi đang định ngả lưng nghỉ ngơi, chợt có tiếng la hét, than vãn ầm ĩ vang lên phá tan bầu không gian tĩnh mịch khiến chàng không tài nào chợp mắt. Chàng kiên nhẫn đợi cho đến khi trời tối mịt và những ánh đèn bắt đầu leo lét sáng lên từ các nếp nhà, rồi nương theo một đốm sáng mờ ảo phía xa mà dấn bước.
Chàng phát hiện ra đốm sáng ấy phát ra từ một ngôi nhà bé tẹo, lọt thỏm dưới cái bóng sừng sững của một gã khổng lồ đang đứng lù lù trước cửa. Chàng rùng mình thầm nghĩ: "Nếu gã khổng lồ này mà bắt được mình, chắc cái mạng quèn này chẳng còn." Dẫu vậy, sau một hồi trấn tĩnh, chàng lấy hết can đảm bước tới. Vừa thấy bóng chàng, gã khổng lồ đã gầm lên như sấm: "Khá khen cho nhà ngươi đến đúng lúc lắm, ta đã nhịn đói từ lâu rồi đây. Bữa tối nay ta sẽ nhai xương ngươi!"
"Tôi khuyên ông đừng vội làm càn," chàng trai dõng dạc đáp trả, "tôi không dễ gì nộp mạng cho ông nhai đầu đâu. Nếu ông đang cồn cào ruột gan thì tôi có đủ thức ăn để nhét đầy bụng ông đấy."
"Nếu quả thật như vậy," gã khổng lồ dịu giọng, "ta sẽ tha mạng cho ngươi; ta định ăn thịt ngươi chỉ vì chẳng bói đâu ra đồ ăn thôi."
Thế là hai người cùng bước vào nhà và yên vị. Chàng trai lôi bánh mì, thịt và rượu ra mời. Thật kỳ diệu, dẫu chàng đã dùng qua nhưng thức ăn vẫn không hề vơi bớt chút nào. Gã khổng lồ vô cùng khoái chí trước bữa tiệc thịnh soạn, hắn ăn uống say sưa đến mức no căng rốn. Thừa lúc gã đã no nê, chàng trai mới ướm hỏi liệu gã có biết đường đến lâu đài Stromberg không.
Gã khổng lồ ậm ờ: "Để ta xem trên bản đồ của ta xem sao; trên đó có vẽ rành rọt mọi hang cùng ngõ hẻm." Nói đoạn, hắn lôi tấm bản đồ ra săm soi tìm kiếm, nhưng bói mãi chẳng thấy lâu đài đâu. "Không sao," hắn chống chế, "ta còn mấy tấm bản đồ to hơn cất trên gác, lên đó xem thử." Nhưng mặc cho hai người lục tung đống bản đồ, tìm mờ cả mắt, tòa lâu đài vẫn bặt tăm như một bóng ma. Chàng trai chán nản định bụng thu xếp hành trang đi tiếp, nhưng gã khổng lồ cố nài ép chàng nán lại thêm dăm ba ngày chờ anh trai gã đi kiếm ăn về. Khi người anh về tới nơi, nghe hỏi về lâu đài Stromberg, gã thủng thẳng bảo để ăn uống no nê xong rồi sẽ xem trên bản đồ của mình. Thế là khi mâm bát đã vãn, cả ba lại kéo nhau lên gác săm soi mớ bản đồ của người anh, nhưng kết cục vẫn công cốc. Cuối cùng, gã lôi ra những tấm bản đồ cổ xưa nhất. Họ chụm đầu tìm kiếm miệt mài cho đến khi thấy dòng chữ ghi tên lâu đài, nhưng than ôi, nó lại nằm cách xa họ đến hàng ngàn dặm.
"Làm sao tôi có thể lặn lội đến tận nơi đó được?" chàng trai thốt lên tuyệt vọng.
"Ta đang rảnh rỗi hai tiếng đồng hồ đây," gã khổng lồ đáp, "ta sẽ vác ngươi đến gần lâu đài; rồi sau đó ta phải tức tốc quay về trông nom đứa trẻ nhà ta nữa."
Nói là làm, gã khổng lồ xốc chàng trai lên vai, đưa chàng đến một nơi chỉ cách lâu đài chừng một trăm dặm rồi thả xuống: "Phần đường còn lại ngươi tự liệu mà cuốc bộ đi nhé." Chàng trai miệt mài rảo bước không kể ngày đêm, cuối cùng cũng đặt chân đến lâu đài vàng Stromberg. Có điều, lâu đài lại ngự chót vót trên một ngọn núi thủy tinh3 trơn tuột. Đứng dưới chân núi ngước lên, chàng thấy người thiếu nữ mang lời nguyền đang đánh xe dạo quanh lâu đài rồi thong thả bước vào trong. Mừng rỡ tột độ khi được nhìn thấy nàng, chàng khát khao leo lên đỉnh núi để tương phùng. Khốn nỗi, sườn núi nhẵn thín trơn trượt, cứ hễ cố trèo lên được vài bước là chàng lại trượt chân ngã lăn lông lốc xuống tận chân núi. Bất lực vì không thể chạm đến người thương, chàng đau khổ tự nhủ: "Ta sẽ cắm trại ở đây và chờ đợi nàng." Thế là chàng dựng tạm một túp lều cỏ lụp xụp, mòn mỏi ngồi ngóng trông ròng rã suốt một năm trời. Ngày nào chàng cũng thấy công chúa đánh xe dạo quanh lâu đài, nhưng khoảng cách giữa hai người vẫn xa xôi vời vợi.
Một ngày nọ, đang ngồi thừ trong lều nhìn ra ngoài, chàng thấy ba tên cướp đang lao vào đánh nhau chí chóe. Chàng liền gọi lớn: "Chúa ở cùng các ngươi!" Nghe tiếng gọi, bọn cướp giật mình dừng tay, nhưng ngó quanh quất chẳng thấy ai, chúng lại hăng máu lao vào tẩn nhau dữ dội hơn trước. "Chúa ở cùng các ngươi!" chàng lại cất tiếng. Chúng lại ngừng tay ngơ ngác, nhưng vẫn không bóng người, thế là lại xông vào choảng nhau. Lần thứ ba chàng gọi lớn: "Chúa ở cùng các ngươi!" Lần này, tò mò muốn biết cớ sự, chàng bước thẳng ra ngoài, chất vấn lý do chúng đánh nhau sống chết như vậy. Một tên trong bọn rền rĩ kể lể rằng hắn vừa nhặt được một cây gậy thần kỳ, chỉ cần gõ vào bất cứ cánh cửa nào, cửa đó sẽ tự động mở toang. Tên thứ hai lại khoe khoang tìm được chiếc áo choàng tàng hình; còn gã thứ ba thì ba hoa chích chòe đã thu phục được một con ngựa thần, có thể đưa người cưỡi vượt qua mọi chướng ngại vật, dẫu đó có là ngọn núi thủy tinh trơn tuột đi chăng nữa. Bọn chúng đang cãi nhau nảy lửa, phân vân không biết nên chia tay đường ai nấy đi hay tiếp tục hội nhóm để dùng chung bảo bối. Nghe xong cơ sự, chàng trai ranh mãnh nói: "Ta sẽ đưa cho các ngươi một báu vật để đổi lấy ba món đồ này. Tiền thì ta không có đâu, nhưng món đồ này còn quý giá vạn lần. Tuy nhiên, trước tiên ta phải tận mắt kiểm chứng xem mấy món đồ các ngươi nói có linh nghiệm thật không đã." Bọn cướp ngây ngô tin lời, để chàng leo lên lưng ngựa thần, đưa luôn cả gậy và áo choàng tàng hình cho chàng. Vừa khoác áo choàng lên người, chàng trai lập tức biến mất tăm. Tức thì, chàng vung gậy nện cho bọn cướp một trận thừa sống thiếu chết, vừa đánh vừa chửi rủa: "Này thì đánh nhau này! Lũ du thủ du thực4 lười biếng chúng bay, nếm thử trái đắng cho chừa thói tham lam đi! Giờ thì sáng mắt ra chưa!"
Trừng trị xong bọn cướp, chàng thúc ngựa băng băng leo lên ngọn núi thủy tinh thẳng đứng. Đến cổng lâu đài, thấy cổng đóng im ỉm, chàng rút gậy gõ nhẹ một cái. Cánh cổng tức thì mở toang đón chào. Chàng hiên ngang bước lên những bậc thang lộng lẫy, tiến thẳng vào căn phòng nơi thiếu nữ đang ngồi ưu tư. Trước mặt nàng là một chiếc cốc bằng vàng ròng sóng sánh rượu. Nhờ chiếc áo choàng tàng hình, nàng chẳng hề mảy may nhận ra sự hiện diện của chàng. Chàng lặng lẽ tháo chiếc nhẫn nàng từng tặng, thả nhẹ vào cốc rượu. Chiếc nhẫn chạm đáy cốc vang lên một tiếng lanh lảnh trong trẻo. "Đây là chiếc nhẫn của mình mà!" nàng thốt lên, "nếu vậy, người anh hùng đến giải cứu mình chắc chắn đang ở quanh đây!"
Nàng hớt hải chạy tìm chàng khắp các ngóc ngách trong lâu đài nhưng vẫn bặt vô âm tín. Trong lúc đó, chàng đã lẻn ra ngoài, leo lên lưng ngựa và cởi phăng chiếc áo choàng tàng hình. Vừa chạy ra đến cổng, nàng liền nhìn thấy chàng và hét lên sung sướng tột độ. Chàng nhảy vội xuống ngựa, ôm chầm lấy nàng vào lòng. Nàng âu yếm trao chàng nụ hôn nồng cháy và rưng rưng nói: "Bây giờ chàng đã thực sự giải thoát cho nàng rồi. Ngày mai, chúng ta sẽ cử hành hôn lễ!"
-
Vỏ cây thuộc da (tanbark) là vỏ của một số loài cây (như sồi, dẻ) giàu chất tannin, thường được nghiền nát để sử dụng trong quá trình thuộc da (chế biến da động vật thành da thuộc). ↩
-
Stromberg là tên một dãy núi và khu vực lịch sử ở Đức, nhưng trong truyện cổ tích, nó thường được thần thoại hóa thành một vùng đất xa xôi, bí ẩn và gần như không thể chạm tới. ↩
-
Núi thủy tinh là một hình tượng phổ biến trong thần thoại và truyện cổ tích châu Âu, thường tượng trưng cho một thử thách cực độ, ranh giới chia cắt trần gian và thế giới phép thuật. ↩
-
Thành ngữ chỉ những kẻ lang thang, lười lao động, không có nghề nghiệp và nơi ở nhất định, thường sống bằng các mánh khóe hoặc hành vi bất lương. ↩
THE RAVEN
There was once a queen who had a little daughter, still too young to run alone. One day the child was very troublesome, and the mother could not quiet it, do what she would. She grew impatient, and seeing the ravens flying round the castle, she opened the window, and said: ‘I wish you were a raven and would fly away, then I should have a little peace.’ Scarcely were the words out of her mouth, when the child in her arms was turned into a raven, and flew away from her through the open window. The bird took its flight to a dark wood and remained there for a long time, and meanwhile the parents could hear nothing of their child.
Long after this, a man was making his way through the wood when he heard a raven calling, and he followed the sound of the voice. As he drew near, the raven said, ‘I am by birth a king’s daughter, but am now under the spell of some enchantment; you can, however, set me free.’ ‘What am I to do?’ he asked. She replied, ‘Go farther into the wood until you come to a house, wherein lives an old woman; she will offer you food and drink, but you must not take of either; if you do, you will fall into a deep sleep, and will not be able to help me. In the garden behind the house is a large tan-heap, and on that you must stand and watch for me. I shall drive there in my carriage at two o’clock in the afternoon for three successive days; the first day it will be drawn by four white, the second by four chestnut, and the last by four black horses; but if you fail to keep awake and I find you sleeping, I shall not be set free.’
The man promised to do all that she wished, but the raven said, ‘Alas! I know even now that you will take something from the woman and be unable to save me.’ The man assured her again that he would on no account touch a thing to eat or drink.
When he came to the house and went inside, the old woman met him, and said, ‘Poor man! how tired you are! Come in and rest and let me give you something to eat and drink.’
‘No,’ answered the man, ‘I will neither eat not drink.’
But she would not leave him alone, and urged him saying, ‘If you will not eat anything, at least you might take a draught of wine; one drink counts for nothing,’ and at last he allowed himself to be persuaded, and drank.
As it drew towards the appointed hour, he went outside into the garden and mounted the tan-heap to await the raven. Suddenly a feeling of fatigue came over him, and unable to resist it, he lay down for a little while, fully determined, however, to keep awake; but in another minute his eyes closed of their own accord, and he fell into such a deep sleep, that all the noises in the world would not have awakened him. At two o’clock the raven came driving along, drawn by her four white horses; but even before she reached the spot, she said to herself, sighing, ‘I know he has fallen asleep.’ When she entered the garden, there she found him as she had feared, lying on the tan-heap, fast asleep. She got out of her carriage and went to him; she called him and shook him, but it was all in vain, he still continued sleeping.
The next day at noon, the old woman came to him again with food and drink which he at first refused. At last, overcome by her persistent entreaties that he would take something, he lifted the glass and drank again.
Towards two o’clock he went into the garden and on to the tan-heap to watch for the raven. He had not been there long before he began to feel so tired that his limbs seemed hardly able to support him, and he could not stand upright any longer; so again he lay down and fell fast asleep. As the raven drove along her four chestnut horses, she said sorrowfully to herself, ‘I know he has fallen asleep.’ She went as before to look for him, but he slept, and it was impossible to awaken him.
The following day the old woman said to him, ‘What is this? You are not eating or drinking anything, do you want to kill yourself?’
He answered, ‘I may not and will not either eat or drink.’
But she put down the dish of food and the glass of wine in front of him, and when he smelt the wine, he was unable to resist the temptation, and took a deep draught.
When the hour came round again he went as usual on to the tan-heap in the garden to await the king’s daughter, but he felt even more overcome with weariness than on the two previous days, and throwing himself down, he slept like a log. At two o’clock the raven could be seen approaching, and this time her coachman and everything about her, as well as her horses, were black.
She was sadder than ever as she drove along, and said mournfully, ‘I know he has fallen asleep, and will not be able to set me free.’ She found him sleeping heavily, and all her efforts to awaken him were of no avail. Then she placed beside him a loaf, and some meat, and a flask of wine, of such a kind, that however much he took of them, they would never grow less. After that she drew a gold ring, on which her name was engraved, off her finger, and put it upon one of his. Finally, she laid a letter near him, in which, after giving him particulars of the food and drink she had left for him, she finished with the following words: ‘I see that as long as you remain here you will never be able to set me free; if, however, you still wish to do so, come to the golden castle of Stromberg; this is well within your power to accomplish.’ She then returned to her carriage and drove to the golden castle of Stromberg.
When the man awoke and found that he had been sleeping, he was grieved at heart, and said, ‘She has no doubt been here and driven away again, and it is now too late for me to save her.’ Then his eyes fell on the things which were lying beside him; he read the letter, and knew from it all that had happened. He rose up without delay, eager to start on his way and to reach the castle of Stromberg, but he had no idea in which direction he ought to go. He travelled about a long time in search of it and came at last to a dark forest, through which he went on walking for fourteen days and still could not find a way out. Once more the night came on, and worn out he lay down under a bush and fell asleep. Again the next day he pursued his way through the forest, and that evening, thinking to rest again, he lay down as before, but he heard such a howling and wailing that he found it impossible to sleep. He waited till it was darker and people had begun to light up their houses, and then seeing a little glimmer ahead of him, he went towards it.
He found that the light came from a house which looked smaller than it really was, from the contrast of its height with that of an immense giant who stood in front of it. He thought to himself, ‘If the giant sees me going in, my life will not be worth much.’ However, after a while he summoned up courage and went forward. When the giant saw him, he called out, ‘It is lucky for that you have come, for I have not had anything to eat for a long time. I can have you now for my supper.’ ‘I would rather you let that alone,’ said the man, ‘for I do not willingly give myself up to be eaten; if you are wanting food I have enough to satisfy your hunger.’ ‘If that is so,’ replied the giant, ‘I will leave you in peace; I only thought of eating you because I had nothing else.’
So they went indoors together and sat down, and the man brought out the bread, meat, and wine, which although he had eaten and drunk of them, were still unconsumed. The giant was pleased with the good cheer, and ate and drank to his heart’s content. When he had finished his supper the man asked him if he could direct him to the castle of Stromberg. The giant said, ‘I will look on my map; on it are marked all the towns, villages, and houses.’ So he fetched his map, and looked for the castle, but could not find it. ‘Never mind,’ he said, ‘I have larger maps upstairs in the cupboard, we will look on those,’ but they searched in vain, for the castle was not marked even on these. The man now thought he should like to continue his journey, but the giant begged him to remain for a day or two longer until the return of his brother, who was away in search of provisions. When the brother came home, they asked him about the castle of Stromberg, and he told them he would look on his own maps as soon as he had eaten and appeased his hunger. Accordingly, when he had finished his supper, they all went up together to his room and looked through his maps, but the castle was not to be found. Then he fetched other older maps, and they went on looking for the castle until at last they found it, but it was many thousand miles away. ‘How shall I be able to get there?’ asked the man. ‘I have two hours to spare,’ said the giant, ‘and I will carry you into the neighbourhood of the castle; I must then return to look after the child who is in our care.’
The giant, thereupon, carried the man to within about a hundred leagues of the castle, where he left him, saying, ‘You will be able to walk the remainder of the way yourself.’ The man journeyed on day and night till he reached the golden castle of Stromberg. He found it situated, however, on a glass mountain, and looking up from the foot he saw the enchanted maiden drive round her castle and then go inside. He was overjoyed to see her, and longed to get to the top of the mountain, but the sides were so slippery that every time he attempted to climb he fell back again. When he saw that it was impossible to reach her, he was greatly grieved, and said to himself, ‘I will remain here and wait for her,’ so he built himself a little hut, and there he sat and watched for a whole year, and every day he saw the king’s daughter driving round her castle, but still was unable to get nearer to her.
Looking out from his hut one day he saw three robbers fighting and he called out to them, ‘God be with you.’ They stopped when they heard the call, but looking round and seeing nobody, they went on again with their fighting, which now became more furious. ‘God be with you,’ he cried again, and again they paused and looked about, but seeing no one went back to their fighting. A third time he called out, ‘God be with you,’ and then thinking he should like to know the cause of dispute between the three men, he went out and asked them why they were fighting so angrily with one another. One of them said that he had found a stick, and that he had but to strike it against any door through which he wished to pass, and it immediately flew open. Another told him that he had found a cloak which rendered its wearer invisible; and the third had caught a horse which would carry its rider over any obstacle, and even up the glass mountain. They had been unable to decide whether they would keep together and have the things in common, or whether they would separate. On hearing this, the man said, ‘I will give you something in exchange for those three things; not money, for that I have not got, but something that is of far more value. I must first, however, prove whether all you have told me about your three things is true.’ The robbers, therefore, made him get on the horse, and handed him the stick and the cloak, and when he had put this round him he was no longer visible. Then he fell upon them with the stick and beat them one after another, crying, ‘There, you idle vagabonds, you have got what you deserve; are you satisfied now!’
After this he rode up the glass mountain. When he reached the gate of the castle, he found it closed, but he gave it a blow with his stick, and it flew wide open at once and he passed through. He mounted the steps and entered the room where the maiden was sitting, with a golden goblet full of wine in front of her. She could not see him for he still wore his cloak. He took the ring which she had given him off his finger, and threw it into the goblet, so that it rang as it touched the bottom. ‘That is my own ring,’ she exclaimed, ‘and if that is so the man must also be here who is coming to set me free.’
She sought for him about the castle, but could find him nowhere. Meanwhile he had gone outside again and mounted his horse and thrown off the cloak. When therefore she came to the castle gate she saw him, and cried aloud for joy. Then he dismounted and took her in his arms; and she kissed him, and said, ‘Now you have indeed set me free, and tomorrow we will celebrate our marriage.’