SUỐI NGUỒN SỰ SỐNG
Từ thuở xa xưa, trước cả khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, tại một vương quốc xa xôi nọ, có một vị vua trị vì cùng ba vị hoàng tử. Một ngày kia, nhà vua bỗng lâm trọng bệnh. Bệnh tình trở nên nguy kịch đến mức không ai dám tin rằng ngài có thể qua khỏi. Các hoàng tử vô cùng đau buồn trước cơn bạo bệnh của vua cha. Khi ba anh em đang ủ rũ rảo bước trong khu vườn hoàng cung, một ông lão nhỏ thó chợt xuất hiện và hỏi thăm cớ sự. Họ bèn kể cho ông nghe rằng phụ vương đang ốm thập tử nhất sinh, e là vô phương cứu chữa. "Ta biết một thứ có thể cứu được ngài," ông lão nhỏ thó lên tiếng, "đó là Nước Trường Sinh1. Chỉ cần uống một ngụm, ngài sẽ lập tức bình phục. Có điều, thứ nước ấy vô cùng khó lấy." Nghe vậy, hoàng tử cả bèn nói: "Con sẽ đi tìm nó ngay." Chàng vội vàng đi đến bên giường bệnh, thiết tha cầu xin vua cha cho phép mình lên đường tìm kiếm Nước Trường Sinh, bởi đó là tia hy vọng duy nhất để cứu sống ngài. "Không được," nhà vua lắc đầu. "Ta thà chết chứ không thể để con dấn thân vào chốn hiểm nguy khôn lường như vậy." Thế nhưng, hoàng tử cả cứ hết lời nài nỉ, khiến nhà vua cuối cùng cũng đành phải mủi lòng đồng ý. Trong thâm tâm, hoàng tử thầm tính toán: "Nếu mình mang được thứ nước thần kỳ ấy về dâng phụ vương, người chắc chắn sẽ lập mình làm người thừa kế duy nhất của cả vương quốc."
Thế là hoàng tử cả vội vã lên đường. Đi được một quãng xa, chàng lọt vào một thung lũng sâu hun hút, bốn bề là vách đá dựng đứng và rừng cây rậm rạp. Đưa mắt nhìn quanh, chàng chợt thấy một người lùn nhỏ bé, xấu xí đang đứng trên mỏm đá phía trên. Lão ta đội chiếc mũ hình nón, khoác tấm áo choàng màu đỏ tươi rực rỡ, cất tiếng gọi: "Hoàng tử, ngài đi đâu mà vội thế?" "Chuyện đó thì liên quan gì đến mi, đồ quỷ lùn xấu xí?" hoàng tử cả hất hàm đáp với vẻ vô cùng kiêu ngạo, rồi thản nhiên giật cương ngựa đi thẳng.
Thái độ hống hách ấy làm người lùn vô cùng tức giận. Lão bèn buông một lời nguyền rủa giáng xuống đầu vị hoàng tử. Chàng càng tiến về phía trước, con đèo xuyên qua dãy núi càng thu hẹp lại. Cuối cùng, lối đi chật chội đến mức chàng chẳng thể nhích thêm dù chỉ một nửa bước chân. Đúng lúc hoàng tử định quay đầu ngựa để tìm lối cũ trở về, một tràng cười lớn bỗng vang vọng khắp không gian. Chàng bàng hoàng nhận ra lối đi phía sau cũng đã bị đất đá bịt kín tự bao giờ, giam hãm chàng giữa bốn bề vách núi. Chàng vội vàng tụt xuống ngựa, định tìm cách đi bộ tẩu thoát. Thế nhưng, tràng cười man rợ kia lại một lần nữa gầm rít bên tai. Lần này, hoàng tử thấy toàn thân tê liệt, chẳng thể nhúc nhích dù chỉ là một cái nhấc chân. Dưới sức mạnh của lời nguyền tăm tối, chàng đành bất lực chôn chân ở lại nơi khe núi hoang vu ấy.
Nơi quê nhà, nhà vua vẫn từng ngày thoi thóp nằm đó, mòn mỏi ngóng trông bóng dáng người con trai cả. Thấy vậy, hoàng tử hai bèn bước ra thưa: "Phụ vương, xin để con đi tìm Nước Trường Sinh." Trong đầu chàng rắp tâm tính kế: "Anh cả chắc chắn đã bỏ mạng nơi nào rồi. Giờ chỉ cần tìm được thứ nước đó, ngai vàng này ắt sẽ thuộc về tay mình." Ban đầu, nhà vua kiên quyết chối từ. Nhưng trước những lời khẩn khoản của hoàng tử hai, ngài đành ngậm ngùi chấp thuận. Thế là vị hoàng tử nọ hăm hở lên đường. Chàng men theo đúng vết xe đổ của người anh trai, và cũng chạm trán gã người lùn bí ẩn nọ. Gã chặn đường chàng ngay tại khúc quanh ấy, lặp lại câu hỏi quen thuộc: "Hoàng tử, hoàng tử đi đâu mà vội thế?" "Lo việc của mi đi, đồ tọc mạch!" hoàng tử hai buông lời khinh miệt, rồi vung roi ngựa lao vút đi.
Và rồi, gã người lùn lại ếm một lời nguyền cay độc giáng xuống đầu hoàng tử hai, y hệt như những gì lão đã làm với người anh cả. Kết cục, chàng cũng bị giam cầm vĩnh viễn giữa thung lũng sâu thẳm. Những kẻ xốc nổi, kiêu ngạo luôn phải gánh lấy hậu quả đắng cay như vậy đấy! Lũ người ảo tưởng mình đứng trên vạn vật, quá kiêu ngạo để mở miệng cầu xin sự giúp đỡ hay lắng nghe lấy một lời khuyên chân thành.
Mòn mỏi chờ đợi một thời gian dài mà chẳng thấy tăm hơi người anh thứ hai đâu, vị hoàng tử út bèn quyết chí lên đường tìm Nước Trường Sinh. Chàng mang trong mình niềm tin mãnh liệt rằng sẽ sớm đem được phương thuốc thần kỳ về chữa lành cho phụ vương. Trên chặng đường vạn dặm, khi đi qua khe núi nọ, hoàng tử út cũng chạm trán người lùn ngay tại thung lũng năm xưa. Lão cất tiếng hỏi: "Hoàng tử, cậu đi đâu mà vội thế?" Vị hoàng tử út ôn tồn đáp lời: "Tôi đang đi tìm Nước Trường Sinh, bởi cha tôi đang lâm bạo bệnh, e rằng khó qua khỏi. Ông có thể giúp tôi không? Cúi xin ông hãy rủ lòng thương xót, chỉ đường dẫn lối cho tôi nếu ông có thể!" "Thế cậu đã biết nơi nào có thứ nước thần ấy chưa?" người lùn hỏi vặn lại. "Dạ chưa," hoàng tử khẽ đáp, "tôi hoàn toàn mù mờ. Xin ông rộng lòng chỉ bảo nếu ông biết lối." "Được rồi, vì cậu ăn nói khiêm nhường, lại biết hạ mình xin lời khuyên, ta sẽ chỉ đường dẫn lối cho cậu. Nguồn nước trường sinh mà cậu đang khao khát tuôn trào từ một chiếc giếng sâu nằm khuất trong một tòa lâu đài bị yểm bùa. Để cậu có thể bình an vô sự đến được đó, ta sẽ tặng cậu một chiếc đũa phép bằng sắt2 và hai ổ bánh mì nhỏ. Cậu hãy dùng cây đũa này gõ nhẹ vào cánh cổng sắt của lâu đài ba lần, nó sẽ tự động mở ra. Đón chờ cậu bên trong là hai con sư tử đói khát đang gầm gừ chực chờ con mồi. Nhưng cậu đừng sợ, hãy ném cho chúng hai ổ bánh mì, chúng sẽ nằm ngoan ngoãn để cậu đi qua. Lúc ấy, cậu phải thật mau lẹ tiến đến bên miệng giếng, múc lấy Nước Trường Sinh trước khi đồng hồ điểm mười hai giờ đêm3. Nếu cậu nán lại trễ dù chỉ một khắc, cánh cổng sắt sẽ sầm sập đóng lại, giam giữ cậu chốn đó đến muôn đời."
Hoàng tử rối rít cảm tạ người bạn nhỏ bé khoác áo choàng đỏ vì tấm lòng tốt bụng. Chàng trân trọng nhận lấy cây đũa phép cùng hai ổ bánh mì, rồi lại vội vã lên đường. Băng qua núi cao biển rộng, trèo đèo lội suối, cuối cùng chàng cũng đặt chân đến đích. Mọi thứ hiện ra trước mắt y hệt như những gì người lùn đã miêu tả. Ở nhát gõ thứ ba của cây đũa sắt, cánh cổng nặng nề từ từ hé mở. Ném bánh mì cho hai con ác thú để chúng nằm bẹp xuống ngoan ngoãn, chàng tiến thẳng vào bên trong lâu đài. Đi qua những hành lang hun hút, chàng bước vào một sảnh đường lộng lẫy xa hoa. Bốn bề quanh sảnh, những vị hiệp sĩ oai phong đang ngồi hóa đá4, ánh mắt vô hồn trống rỗng. Hoàng tử nhẹ nhàng tháo những chiếc nhẫn trên tay họ và lồng vào ngón tay mình. Rảo bước sang một gian phòng khác, đập vào mắt chàng là một thanh gươm báu và một ổ bánh mì đặt ngay ngắn trên bàn. Chàng cẩn thận cất chúng vào tay nải. Đi sâu vào trong nữa, hoàng tử bước vào một căn phòng nơi có một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp đang ngồi tựa lưng trên chiếc kỷ dài. Nhìn thấy chàng, nàng hân hoan chào đón, khẽ nói: "Nếu chàng có thể giải cứu thiếp khỏi lời nguyền cay độc này, cả vương quốc sẽ là của chàng. Hãy hứa với thiếp, đúng một năm sau chàng sẽ quay lại và kết duyên cùng thiếp." Sau đó, công chúa chỉ cho chàng biết chiếc giếng chứa Nước Trường Sinh nằm sâu trong khu vườn thượng uyển. Nàng tha thiết căn dặn chàng phải hành động thật nhanh, lấy thứ nước kỳ diệu ấy trước khi đồng hồ điểm trọn mười hai giờ đêm.
Chia tay công chúa, chàng tiếp tục rảo bước. Lạc giữa những khu vườn rực rỡ sắc hoa, chàng đi đến một góc râm mát vô cùng tĩnh lặng, nơi có đặt sẵn một chiếc ghế dài êm ái. Quãng đường xa xôi khiến cơ thể hoàng tử dã rời, chàng bèn tặc lưỡi tự nhủ: "Mình nghỉ ngơi một lát thôi, tiện thể ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên tuyệt diệu này." Nghĩ vậy, chàng ngả lưng xuống ghế. Nào ngờ, cơn buồn ngủ từ đâu ập đến một cách vô thức, kéo chàng vào giấc mộng dài. Chàng thiếp đi say sưa, chẳng màng đến chuyện gì nữa, cho đến tận khi đồng hồ điểm mười một giờ bốn mươi lăm phút. Giật mình tỉnh giấc, hoàng tử hốt hoảng bật dậy khỏi ghế. Nỗi kinh hoàng bóp nghẹt trái tim, chàng phóng như bay đến bên miệng giếng, chộp lấy chiếc cốc vứt lăn lóc cạnh đó múc đầy Nước Trường Sinh, rồi co cẳng tháo chạy thục mạng khỏi tòa lâu đài quỷ ám. Đúng khoảnh khắc chàng vừa lao ra khỏi cánh cổng sắt nặng nề thì đồng hồ buông tiếng chuông điểm mười hai giờ. Cánh cửa rầm rập sập xuống với tốc độ kinh hồn, tiện đứt luôn một mẩu gót chân của vị hoàng tử trẻ.
Thoát hiểm trong gang tấc, vị hoàng tử vỡ òa trong niềm sung sướng tột độ. Giờ đây, bảo vật Nước Trường Sinh đã nằm gọn trong tay chàng. Trên đường quay về cố hương, chàng lại đi ngang qua chỗ người lùn nhỏ bé. Vừa thoáng thấy thanh gươm báu và ổ bánh mì, lão đã tấm tắc khen: "Cậu đã thu thập được những bảo vật vô giá rồi đấy. Với thanh gươm sắc bén ấy, chỉ cần một nhát chém cậu có thể quét sạch cả một đạo quân hùng hậu. Còn ổ bánh mì kia, dẫu có ăn bao nhiêu cũng chẳng bao giờ vơi đi." Lúc đó, tình máu mủ ruột rà lại trỗi dậy, chàng tự nhủ: "Mình không thể trở về nhìn mặt phụ vương nếu thiếu vắng các anh." Chàng bèn hỏi người lùn: "Người bạn quý mến của tôi ơi, ông có biết hai người anh của tôi đang lưu lạc phương nào không? Họ đã cất bước đi tìm Nước Trường Sinh trước tôi, nhưng mãi đến nay vẫn bặt vô âm tín." "Ta đã ếm bùa giam lỏng bọn họ giữa hai vách núi đá rồi," người lùn thở dài, "Bởi lũ chúng quá đỗi kiêu ngạo, hỗn xược, lại còn dám coi thường những lời khuyên chân thành." Nghe vậy, hoàng tử út tha thiết khẩn cầu xin ân xá cho hai anh. Chàng nài nỉ thảm thiết đến mức cuối cùng người lùn cũng mủi lòng giải bùa chú, dẫu lão chẳng mấy bằng lòng. Trọng giọng nghiêm nghị, lão dặn dò: "Cậu phải hết sức dè chừng bọn họ, tâm can chúng chứa đầy dã tâm đen tối đấy." Dù được cảnh báo, chàng hoàng tử út ngây thơ vẫn mừng rỡ khôn tả khi gặp lại hai anh. Chàng hồn nhiên kể tuốt tuột những chuyện lạ lùng đã xảy ra với mình: từ việc chàng tìm được Nước Trường Sinh ra sao, làm cách nào múc đầy một cốc mang về; đến chuyện chàng đã giải cứu một nàng công chúa kiều diễm khỏi lời nguyền quái ác như thế nào. Chàng rạng rỡ khoe rằng nàng đã đính ước, nguyện chờ đợi chàng trọn vẹn một năm để thành thân, và trao tặng cả vương quốc cho chàng cai trị.
Thế rồi, ba anh em cùng nhau giật cương, dong ngựa thẳng tiến về quê nhà. Dọc đường, họ tình cờ bước chân vào một vương quốc đang oằn mình gánh chịu thảm họa chiến tranh và nạn đói hoành hành. Dân tình điêu đứng, tuyệt vọng chờ đợi cái chết vì đói khát. Chẳng hề chần chừ, hoàng tử út trao ngay ổ bánh mì ma thuật cho vị quốc vương nọ. Lạ kỳ thay, cả vương quốc từ già đến trẻ ai nấy đều được no nê. Không dừng lại ở đó, chàng hào hiệp cho nhà vua mượn thanh gươm báu diệt địch. Với sức mạnh vô song của thanh gươm, nhà vua nhanh chóng dẹp tan mọi quân xâm lược, mang lại nền hòa bình và cuộc sống sung túc ấm no cho thần dân. Với tấm lòng nhân hậu, chàng hoàng tử lại tiếp tục ra tay cứu giúp thêm hai đất nước khốn cùng khác mà họ tình cờ ghé qua trên chặng đường dài.
Đến bến cảng mênh mông sóng vỗ, ba anh em bước lên một con tàu lớn. Xuyên suốt chuyến lênh đênh trên biển, hai người anh lớn luôn miệng rỉ tai nhau: "Thằng em út đã lấy được thứ nước thần mà anh em ta đành bó tay. Cứ đà này, phụ vương chắc chắn sẽ phế truất chúng ta và trao cả vương quốc cho nó, một ngai vàng vốn dĩ thuộc về quyền thừa kế của anh em mình." Bóng tối của sự đố kỵ hèn hạ và lòng khao khát trả thù nhanh chóng gặm nhấm tâm can hai kẻ độc ác. Chúng thì thầm to nhỏ, vạch ra một âm mưu thâm độc nhằm hãm hại cậu em út tốt bụng. Canh đến lúc hoàng tử út say giấc nồng, bọn chúng lén lút trút cạn Nước Trường Sinh vào một chiếc bình khác để làm của riêng. Thay vào đó, chúng múc đầy nước biển mặn chát, đắng ngắt trút vào chiếc cốc của chàng.
Vừa cập bến quê hương, hoàng tử út vội vã chạy ngay đến bên giường dâng chiếc cốc quý giá cho phụ vương, ngỡ rằng phương thuốc tiên này sẽ lập tức chữa lành bạo bệnh. Nào ngờ, nhà vua vừa nhấp một ngụm nước biển chát xít, bệnh tình đã vội trở nặng, cơ thể suy kiệt thê thảm hơn trước gấp trăm lần. Đúng lúc đó, hai người anh lớn thản nhiên bước vào. Bọn chúng vu oan giáng họa cho cậu em hiền lành, trắng trợn đổi trắng thay đen những tội lỗi tày đình mà chính chúng đã nhúng tay vào. Bọn chúng bù lu bù loa rằng hoàng tử út đang dắp tâm mưu sát phụ vương bằng thuốc độc, và rêu rao chính mình mới là người trèo đèo lội suối mang được Nước Trường Sinh về. Nhà vua vừa nhấp môi thứ nước thần mà hai đứa con lớn dâng lên, ngay tức khắc mọi mầm bệnh tan biến như sương mai. Cơ thể ngài bỗng chốc tràn trề sinh lực, vạm vỡ, tráng kiện hệt như thuở thanh xuân trai tráng. Kế hoạch trót lọt, hai gã anh khốn nạn liền mò đến chỗ em út. Chúng buông lời cười nhạo mỉa mai: "Chà chà, em trai ngoan, em đã tìm thấy Nước Trường Sinh rồi phải không? Tiếc thay, em gánh vác mọi nhọc nhằn, còn phần thưởng vinh quang thì thuộc về các anh. Này, thông minh lanh lợi đến thế, sao em không biết mở to mắt ra mà canh chừng cơ chứ? Hãy nhớ lấy, đúng một năm nữa, một trong hai anh sẽ danh chính ngôn thuận cướp đi nàng công chúa xinh đẹp của em đấy. Ráng mà cẩn thận. Tốt nhất em nên khóa chặt miệng lại, đừng dại dột bẩm báo nửa lời với phụ vương. Bởi lẽ, ngài sẽ chẳng tin lấy một chữ nào thốt ra từ miệng em đâu. Chẳng may em lỡ mồm bép xép, cái mạng quèn của em cũng chẳng giữ nổi đâu. Cứ ngoan ngoãn ngậm miệng lại, bọn anh đây sẽ rộng lượng tha cho."
Cơn thịnh nộ của nhà vua vẫn ngùn ngụt bốc lên. Ngài đinh ninh rằng đứa con út đã thực sự rắp tâm hạ độc cướp ngôi. Ngay lập tức, ngài thiết triều, triệu tập bá quan văn võ đến bàn bạc cách xử lý nghịch tử. Tất cả quần thần đều đồng thanh cho rằng chàng hoàng tử út đáng bị xử trảm để răn đe kẻ khác. Mọi âm mưu hiểm độc diễn ra trong bóng tối mà vị hoàng tử đáng thương chẳng mảy may hay biết. Cho đến một ngày nọ, chàng cùng người thợ săn trưởng thân tín của nhà vua tiến vào rừng sâu săn bắn. Khi chỉ còn hai người tĩnh lặng giữa chốn thâm sơn, nét mặt người thợ săn bỗng chùng xuống đầy sầu thảm. Thấy lạ, hoàng tử liền ân cần hỏi han: "Bạn của tôi, có chuyện gì với anh vậy?" "Tôi không thể và cũng không dám bẩm báo với hoàng tử," người thợ săn ấp úng né tránh. Hoàng tử gặng hỏi tha thiết: "Anh cứ thật thà nói cho tôi biết cơ sự ra sao. Đừng lo tôi sẽ nổi giận, tôi nhất định sẽ thứ lỗi cho anh mà." "Than ôi!" người thợ săn ngậm ngùi buông tiếng thở dài, "Nhà vua đã ban thánh chỉ, ra lệnh cho tôi phải nhắm bắn hoàng tử." Nghe vậy, hoàng tử giật bắn mình sững sờ. Suy nghĩ trong giây lát, chàng bình tĩnh nói: "Hãy nương tay để tôi được sống, tôi sẽ tráo đổi quần áo với anh. Anh cứ lấy chiếc áo khoác hoàng gia của tôi mang về dâng lên phụ vương làm bằng chứng, và hãy nhường lại cho tôi chiếc áo sờn rách rưới này." "Rất sẵn lòng," người thợ săn gật đầu đáp. "Kỳ thực, tôi vô cùng mãn nguyện khi có thể cứu mạng hoàng tử, bởi lẽ tôi chẳng thể nào xuống tay nhắm bắn ngài được." Nói đoạn, anh ta vội vã lột chiếc áo thợ săn sờn rách đưa cho hoàng tử, nhận lấy chiếc áo khoác hoàng gia rực rỡ, rồi lặng lẽ luồn lách qua những hàng cây rậm rạp mà đi.
Bẵng đi một thời gian, ba phái đoàn sứ thần hùng hậu lũ lượt kéo đến triều đình nhà vua. Họ chở theo vô số vàng bạc, châu báu ngọc ngà chất cao như núi, thảy đều là những cống phẩm quý giá dành riêng dâng tặng vị hoàng tử út. Ấy là tấm lòng tri ân sâu sắc từ ba vị quốc vương mà chàng đã từng ra tay nghĩa hiệp, cho mượn thanh gươm báu và ổ bánh mì ma thuật để đánh đuổi giặc thù, cứu sống muôn dân bá tánh. Chuyện này khiến nhà vua vô cùng xúc động. Ngài mơ hồ nhận ra con trai mình rất có thể đã bị oan ức. Ngài nghẹn ngào hướng về các triều thần, than thở: "Ôi, giá như con trai ta vẫn còn sống trên cõi đời này! Nghĩ đến việc chính miệng ta đã ban án tử cho con mà ta đau đứt ruột gan!" "Hoàng tử vẫn còn sống," người thợ săn dũng cảm bước lên thưa, "và tôi cảm tạ trời đất vì mình đã rủ lòng thương xót, để ngài ấy an toàn rời đi, và chỉ mang về chiếc áo khoác hoàng gia để trình bẩm." Nghe vậy, trái tim nhà vua như vỡ òa trong niềm vui sướng tột độ. Ngài lập tức truyền chiếu chỉ khắp vương quốc, hứa sẽ ân xá mọi tội lỗi nếu con trai ngài chịu quay về đoàn tụ.
Ở một nơi xa xăm, nàng công chúa kiều diễm vẫn ngày đêm khắc khoải ngóng trông người ân nhân quay lại. Để chào đón hôn phu, nàng đã sai thợ trải một con đường dẫn thẳng lên lâu đài, đúc hoàn toàn bằng vàng ròng lấp lánh chói lòa. Nàng truyền lệnh cho lính gác: hễ ai ung dung cưỡi ngựa, hiên ngang đi thẳng một mạch trên con đường vàng ấy đến tận cổng, thì đó chính là vị hôn phu đích thực của nàng, phải lập tức mở cổng nghênh đón. Còn nếu kẻ nào rụt rè cưỡi ngựa nép sang một bên lề, kẻ đó chắc chắn là đồ giả mạo, phải tống cổ hắn đi ngay tức khắc.
Thấm thoắt, kỳ hạn một năm đã mãn. Người anh cả nhẩm tính thời gian, nhủ thầm phải cấp tốc đến gặp công chúa để mạo danh là vị cứu tinh của nàng. Hắn hy vọng sẽ ẵm trọn người đẹp làm vợ, tiện tay thu tóm luôn cả vương quốc hoa lệ kia. Khi phi ngựa đến trước tòa lâu đài, ánh sáng rực rỡ từ con đường vàng ròng đập vào mắt khiến hắn chói lòa. Hắn khựng lại ngẩn ngơ ngắm nghìn, rồi chép miệng tiếc rẻ: "Cưỡi ngựa dẫm đạp lên con đường lộng lẫy nhường này thì đúng là phí của giời!" Nghĩ vậy, hắn liền rẽ ngựa, phi tút sang mép đường bên phải. Khi hắn hí hửng dừng cương trước cổng, bọn lính gác đã thu gọn vào tầm mắt từng hành động rụt rè ấy. Họ lạnh lùng quát lớn: "Ngài không thể nào là vị hôn phu đích thực của công chúa như ngài tự xưng. Xin ngài xéo ngay đi chỗ khác mà lo việc của ngài."
Chẳng chịu kém cạnh, vị hoàng tử thứ hai cũng lật đật lên đường nhắm thẳng tới vương quốc nọ. Khi ngựa chiến vừa gõ nhẹ gót móng lên con đường vàng lóa mắt, hắn giật thót mình khựng lại. Vẻ kiêu sa tráng lệ của thứ kim loại quý giá khiến hắn xót xa lẩm bẩm: "Trời ơi, để cho thứ gì giẫm đạp lên lớp vàng ròng tuyệt mỹ này quả là trọng tội!" Giống y hệt gã anh cả, hắn liền rẽ cương, khúm núm phi ngựa dọc theo lề đường bên trái. Chờ khi hắn đến sát cổng, đám lính gác hất hàm lạnh nhạt: "Ngài đích thị không phải là vị hoàng tử chúng tôi cần tìm. Mời ngài lập tức quay đầu, đi chỗ khác mà bận tâm chuyện của ngài." Thế là gã hoàng tử thứ hai đành bẽ bàng quay gót chuồn thẳng.
Về phần người em út, đúng ngày đánh dấu mốc một năm tròn trĩnh, chàng mới rũ bỏ cuộc sống lẩn khuất giữa rừng sâu để lên đường tìm lại bóng hình vị hôn thê. Nỗi sợ hãi cơn lôi đình của vua cha nhường chỗ cho nỗi nhớ nhung da diết. Rong ruổi trên lưng ngựa, tâm trí chàng chỉ quẩn quanh hình bóng người con gái kiều diễm ấy. Vì nôn nóng trùng phùng, chàng phi ngựa như bay, chẳng thèm để tâm xem dưới chân ngựa là con đường đúc bằng thứ gì. Cứ thế, chàng đạp tung bụi mờ, phi thẳng một mạch trên mặt đường vàng óng ả. Ngay khi chàng vừa ghé tới, cánh cổng lâu đài đã bật mở tung. Nàng công chúa rạng ngời lao đến đón chào ân nhân. Nàng sung sướng tuyên bố chàng chính là dũng sĩ đã giải thoát nàng, từ nay sẽ trở thành người chồng yêu dấu và vị chúa tể anh minh của cả vương quốc. Sau khi men say của khoảnh khắc đoàn tụ lắng xuống, nàng thủ thỉ báo tin rằng vua cha đã ân xá cho chàng, và đang mòn mỏi trông chờ chàng quay lại. Chiều lòng cha, trước khi tiến hành hôn lễ lộng lẫy, chàng quyết định quay về cố hương, dắt theo nàng công chúa xinh đẹp sánh bước. Về tới hoàng cung, chàng từ tốn thuật lại ngọn ngành mọi chuyện: việc hai người anh vong ân bội nghĩa đã đánh tráo Nước Trường Sinh hòng cướp công thế nào, và chàng đã vì tấm lòng hiếu thảo mà ngậm đắng nuốt cay chịu oan khuất ra sao. Vua cha nghe xong thì nổi trận lôi đình, bừng bừng sát khí muốn trừng trị đích đáng hai nghịch tử máu lạnh. Nào ngờ, đánh hơi thấy sự bất lành, hai gã anh hèn nhát đã rủ nhau đánh bài chuồn. Chúng leo vội lên một con tàu viễn dương, nhổ neo giong buồm chạy trốn ra biển lớn mênh mông. Bọn chúng trôi dạt về phương trời nào, từ đó chẳng ai hay biết, và trần đời cũng chẳng một ai thèm bận tâm.
Sóng gió đi qua, đức vua rạng rỡ hạ lệnh triệu tập toàn thể bá quan văn võ. Ngài mở đại tiệc linh đình, mời muôn dân khắp chốn đến chung vui trong hôn lễ thế kỷ của chàng hoàng tử út cùng nàng công chúa sắc nước hương trời. Bất kể già trẻ, gái trai, từ tầng lớp quý tộc kiêu sa đến người dân cày lam lũ chân lấm tay bùn, ai nấy đều hân hoan hội tụ ngay tắp lự khi nghe tiếng chuông báo hỷ. Thật bất ngờ, chen chúc giữa biển người đông đúc trảy hội ấy, có cả bóng dáng ông lão người lùn tốt bụng. Lão vẫn chễm chệ đội chiếc mũ hình nón quen thuộc, nhưng hôm nay lại khoác trên mình một chiếc áo choàng đỏ tươi màu lựu chín, mới cáu cạnh.
Rồi lễ cưới tưng bừng tổ chức, tiếng chuông ngân vang dội bốn bề.
Những con người lương thiện cùng nhau nhảy múa, cất cao lời hát ca,
Và say sưa trong bữa tiệc tiễn đưa mọi muộn phiền, kéo dài mãi tới tận mai sau.
-
Dịch từ "Water of Life" (Nước Sự Sống). Đây là một nguyên mẫu (motif) phổ biến trong các thần thoại và tôn giáo phương Tây, tượng trưng cho nguồn nước thần kỳ có khả năng chữa bách bệnh, cải tử hoàn sinh và mang lại sự sống vĩnh cửu. ↩
-
Trong văn hóa dân gian và tín ngưỡng châu Âu cổ, sắt (iron) được coi là kim loại đặc biệt có sức mạnh xua đuổi tà ma, yêu tinh và bẻ gãy các phép thuật hắc ám. ↩
-
Trong văn hóa dân gian phương Tây, nửa đêm (12 giờ) thường được gọi là 'thời khắc phù thủy' (witching hour) và là thời hạn nghiêm ngặt mà phép thuật hết hiệu lực hoặc lời nguyền ứng nghiệm. ↩
-
Trạng thái 'hóa đá' (petrification) là một hình phạt hay lời nguyền rất quen thuộc trong thần thoại châu Âu, thường giáng xuống những kẻ thất bại trên hành trình chinh phục ma thuật. ↩
THE WATER OF LIFE
Long before you or I were born, there reigned, in a country a great way off, a king who had three sons. This king once fell very ill-so ill that nobody thought he could live. His sons were very much grieved at their father’s sickness; and as they were walking together very mournfully in the garden of the palace, a little old man met them and asked what was the matter. They told him that their father was very ill, and that they were afraid nothing could save him. ‘I know what would,’ said the little old man; ‘it is the Water of Life. If he could have a draught of it he would be well again; but it is very hard to get.’ Then the eldest son said, ‘I will soon find it’: and he went to the sick king, and begged that he might go in search of the Water of Life, as it was the only thing that could save him. ‘No,’ said the king. ‘I had rather die than place you in such great danger as you must meet with in your journey.’ But he begged so hard that the king let him go; and the prince thought to himself, ‘If I bring my father this water, he will make me sole heir to his kingdom.’
Then he set out: and when he had gone on his way some time he came to a deep valley, overhung with rocks and woods; and as he looked around, he saw standing above him on one of the rocks a little ugly dwarf, with a sugarloaf cap and a scarlet cloak; and the dwarf called to him and said, ‘Prince, whither so fast?’ ‘What is that to thee, you ugly imp?’ said the prince haughtily, and rode on.
But the dwarf was enraged at his behaviour, and laid a fairy spell of ill-luck upon him; so that as he rode on the mountain pass became narrower and narrower, and at last the way was so straitened that he could not go to step forward: and when he thought to have turned his horse round and go back the way he came, he heard a loud laugh ringing round him, and found that the path was closed behind him, so that he was shut in all round. He next tried to get off his horse and make his way on foot, but again the laugh rang in his ears, and he found himself unable to move a step, and thus he was forced to abide spellbound.
Meantime the old king was lingering on in daily hope of his son’s return, till at last the second son said, ‘Father, I will go in search of the Water of Life.’ For he thought to himself, ‘My brother is surely dead, and the kingdom will fall to me if I find the water.’ The king was at first very unwilling to let him go, but at last yielded to his wish. So he set out and followed the same road which his brother had done, and met with the same elf, who stopped him at the same spot in the mountains, saying, as before, ‘Prince, prince, whither so fast?’ ‘Mind your own affairs, busybody!’ said the prince scornfully, and rode on.
But the dwarf put the same spell upon him as he put on his elder brother, and he, too, was at last obliged to take up his abode in the heart of the mountains. Thus it is with proud silly people, who think themselves above everyone else, and are too proud to ask or take advice.
When the second prince had thus been gone a long time, the youngest son said he would go and search for the Water of Life, and trusted he should soon be able to make his father well again. So he set out, and the dwarf met him too at the same spot in the valley, among the mountains, and said, ‘Prince, whither so fast?’ And the prince said, ‘I am going in search of the Water of Life, because my father is ill, and like to die: can you help me? Pray be kind, and aid me if you can!’ ‘Do you know where it is to be found?’ asked the dwarf. ‘No,’ said the prince, ‘I do not. Pray tell me if you know.’ ‘Then as you have spoken to me kindly, and are wise enough to seek for advice, I will tell you how and where to go. The water you seek springs from a well in an enchanted castle; and, that you may be able to reach it in safety, I will give you an iron wand and two little loaves of bread; strike the iron door of the castle three times with the wand, and it will open: two hungry lions will be lying down inside gaping for their prey, but if you throw them the bread they will let you pass; then hasten on to the well, and take some of the Water of Life before the clock strikes twelve; for if you tarry longer the door will shut upon you for ever.’
Then the prince thanked his little friend with the scarlet cloak for his friendly aid, and took the wand and the bread, and went travelling on and on, over sea and over land, till he came to his journey’s end, and found everything to be as the dwarf had told him. The door flew open at the third stroke of the wand, and when the lions were quieted he went on through the castle and came at length to a beautiful hall. Around it he saw several knights sitting in a trance; then he pulled off their rings and put them on his own fingers. In another room he saw on a table a sword and a loaf of bread, which he also took. Further on he came to a room where a beautiful young lady sat upon a couch; and she welcomed him joyfully, and said, if he would set her free from the spell that bound her, the kingdom should be his, if he would come back in a year and marry her. Then she told him that the well that held the Water of Life was in the palace gardens; and bade him make haste, and draw what he wanted before the clock struck twelve.
He walked on; and as he walked through beautiful gardens he came to a delightful shady spot in which stood a couch; and he thought to himself, as he felt tired, that he would rest himself for a while, and gaze on the lovely scenes around him. So he laid himself down, and sleep fell upon him unawares, so that he did not wake up till the clock was striking a quarter to twelve. Then he sprang from the couch dreadfully frightened, ran to the well, filled a cup that was standing by him full of water, and hastened to get away in time. Just as he was going out of the iron door it struck twelve, and the door fell so quickly upon him that it snapped off a piece of his heel.
When he found himself safe, he was overjoyed to think that he had got the Water of Life; and as he was going on his way homewards, he passed by the little dwarf, who, when he saw the sword and the loaf, said, ‘You have made a noble prize; with the sword you can at a blow slay whole armies, and the bread will never fail you.’ Then the prince thought to himself, ‘I cannot go home to my father without my brothers’; so he said, ‘My dear friend, cannot you tell me where my two brothers are, who set out in search of the Water of Life before me, and never came back?’ ‘I have shut them up by a charm between two mountains,’ said the dwarf, ‘because they were proud and ill-behaved, and scorned to ask advice.’ The prince begged so hard for his brothers, that the dwarf at last set them free, though unwillingly, saying, ‘Beware of them, for they have bad hearts.’ Their brother, however, was greatly rejoiced to see them, and told them all that had happened to him; how he had found the Water of Life, and had taken a cup full of it; and how he had set a beautiful princess free from a spell that bound her; and how she had engaged to wait a whole year, and then to marry him, and to give him the kingdom.
Then they all three rode on together, and on their way home came to a country that was laid waste by war and a dreadful famine, so that it was feared all must die for want. But the prince gave the king of the land the bread, and all his kingdom ate of it. And he lent the king the wonderful sword, and he slew the enemy’s army with it; and thus the kingdom was once more in peace and plenty. In the same manner he befriended two other countries through which they passed on their way.
When they came to the sea, they got into a ship and during their voyage the two eldest said to themselves, ‘Our brother has got the water which we could not find, therefore our father will forsake us and give him the kingdom, which is our right’; so they were full of envy and revenge, and agreed together how they could ruin him. Then they waited till he was fast asleep, and poured the Water of Life out of the cup, and took it for themselves, giving him bitter sea-water instead.
When they came to their journey’s end, the youngest son brought his cup to the sick king, that he might drink and be healed. Scarcely, however, had he tasted the bitter sea-water when he became worse even than he was before; and then both the elder sons came in, and blamed the youngest for what they had done; and said that he wanted to poison their father, but that they had found the Water of Life, and had brought it with them. He no sooner began to drink of what they brought him, than he felt his sickness leave him, and was as strong and well as in his younger days. Then they went to their brother, and laughed at him, and said, ‘Well, brother, you found the Water of Life, did you? You have had the trouble and we shall have the reward. Pray, with all your cleverness, why did not you manage to keep your eyes open? Next year one of us will take away your beautiful princess, if you do not take care. You had better say nothing about this to our father, for he does not believe a word you say; and if you tell tales, you shall lose your life into the bargain: but be quiet, and we will let you off.’
The old king was still very angry with his youngest son, and thought that he really meant to have taken away his life; so he called his court together, and asked what should be done, and all agreed that he ought to be put to death. The prince knew nothing of what was going on, till one day, when the king’s chief huntsmen went a-hunting with him, and they were alone in the wood together, the huntsman looked so sorrowful that the prince said, ‘My friend, what is the matter with you?’ ‘I cannot and dare not tell you,’ said he. But the prince begged very hard, and said, ‘Only tell me what it is, and do not think I shall be angry, for I will forgive you.’ ‘Alas!’ said the huntsman; ‘the king has ordered me to shoot you.’ The prince started at this, and said, ‘Let me live, and I will change dresses with you; you shall take my royal coat to show to my father, and do you give me your shabby one.’ ‘With all my heart,’ said the huntsman; ‘I am sure I shall be glad to save you, for I could not have shot you.’ Then he took the prince’s coat, and gave him the shabby one, and went away through the wood.
Some time after, three grand embassies came to the old king’s court, with rich gifts of gold and precious stones for his youngest son; now all these were sent from the three kings to whom he had lent his sword and loaf of bread, in order to rid them of their enemy and feed their people. This touched the old king’s heart, and he thought his son might still be guiltless, and said to his court, ‘O that my son were still alive! how it grieves me that I had him killed!’ ‘He is still alive,’ said the huntsman; ‘and I am glad that I had pity on him, but let him go in peace, and brought home his royal coat.’ At this the king was overwhelmed with joy, and made it known throughout all his kingdom, that if his son would come back to his court he would forgive him.
Meanwhile the princess was eagerly waiting till her deliverer should come back; and had a road made leading up to her palace all of shining gold; and told her courtiers that whoever came on horseback, and rode straight up to the gate upon it, was her true lover; and that they must let him in: but whoever rode on one side of it, they must be sure was not the right one; and that they must send him away at once.
The time soon came, when the eldest brother thought that he would make haste to go to the princess, and say that he was the one who had set her free, and that he should have her for his wife, and the kingdom with her. As he came before the palace and saw the golden road, he stopped to look at it, and he thought to himself, ‘It is a pity to ride upon this beautiful road’; so he turned aside and rode on the right-hand side of it. But when he came to the gate, the guards, who had seen the road he took, said to him, he could not be what he said he was, and must go about his business.
The second prince set out soon afterwards on the same errand; and when he came to the golden road, and his horse had set one foot upon it, he stopped to look at it, and thought it very beautiful, and said to himself, ‘What a pity it is that anything should tread here!’ Then he too turned aside and rode on the left side of it. But when he came to the gate the guards said he was not the true prince, and that he too must go away about his business; and away he went.
Now when the full year was come round, the third brother left the forest in which he had lain hid for fear of his father’s anger, and set out in search of his betrothed bride. So he journeyed on, thinking of her all the way, and rode so quickly that he did not even see what the road was made of, but went with his horse straight over it; and as he came to the gate it flew open, and the princess welcomed him with joy, and said he was her deliverer, and should now be her husband and lord of the kingdom. When the first joy at their meeting was over, the princess told him she had heard of his father having forgiven him, and of his wish to have him home again: so, before his wedding with the princess, he went to visit his father, taking her with him. Then he told him everything; how his brothers had cheated and robbed him, and yet that he had borne all those wrongs for the love of his father. And the old king was very angry, and wanted to punish his wicked sons; but they made their escape, and got into a ship and sailed away over the wide sea, and where they went to nobody knew and nobody cared.
And now the old king gathered together his court, and asked all his kingdom to come and celebrate the wedding of his son and the princess. And young and old, noble and squire, gentle and simple, came at once on the summons; and among the rest came the friendly dwarf, with the sugarloaf hat, and a new scarlet cloak.
And the wedding was held, and the merry bells run.
And all the good people they danced and they sung,
And feasted and frolick’d I can’t tell how long.