CHÀNG THỢ MAY NHỎ BÉ DŨNG CẢM
Vào một buổi sáng mùa hè rực rỡ, chàng thợ may bé nhỏ đang ngồi trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Anh vô cùng hứng khởi, thoăn thoắt may vá bằng tất cả tâm huyết. Đúng lúc ấy, một bà lão nông dân đi dọc theo con phố, cất tiếng rao lanh lảnh: "Mứt ngon, giá rẻ đây! Mứt ngon, giá rẻ đây!" Tiếng rao lọt vào tai nghe mới êm ái làm sao. Chàng thợ may thò cái đầu nhỏ nhắn ra ngoài cửa sổ, cất giọng gọi: "Lên đây đi, bà ơi; ở đây bà sẽ bán được hàng đấy." Bà lão ôm chiếc giỏ nặng nề bước lên ba bậc thềm để đến chỗ chàng thợ may. Anh bảo bà bày tất cả các hũ mứt ra cho mình xem. Tỉ mỉ xem xét từng hũ, anh nhấc lên, đưa mũi lại gần ngửi, rồi chậm rãi nói: "Mứt này có vẻ ngon đấy. Bà cân cho tôi bốn ounce1 nhé, bà ơi, và nếu có dư ra một phần tư pound2 thì cũng không sao đâu." Bà lão vốn đinh ninh vớ được mối hời nên khi cân xong món đồ anh cần rồi rời đi, bà lộ vẻ bực dọc và làu bàu không ngớt.
"Bây giờ, món mứt này sẽ được Chúa ban phước3," chàng thợ may reo lên, "và sẽ tiếp thêm cho mình sức khỏe cùng sức mạnh". Thế là anh lấy ổ bánh mì trong tủ, cắt một lát ngang rồi quết mứt lên. "Món này ắt hẳn sẽ ngọt ngào lắm đây," anh tự nhủ, "nhưng tôi sẽ may cho xong cái áo khoác này trước khi cắn một miếng." Anh đặt lát bánh sang một bên rồi tiếp tục công việc. Lòng tràn ngập niềm hân hoan, những mũi kim anh khâu ngày càng to hơn. Trong khi đó, mùi mứt thơm lừng bay lên, thu hút lũ ruồi đang bay lượn quanh đó. Chúng kéo đến đậu kịt trên miếng bánh. "Này! Ai mời các người đến thế?" chàng thợ may cất tiếng, rồi xua đuổi những vị khách không mời mà tới. Thế nhưng, lũ ruồi nào có hiểu tiếng Đức nên chẳng chịu bay đi, trái lại, chúng còn kéo đến đông đúc hơn. Cuối cùng, hết sạch kiên nhẫn, chàng thợ may rút một mảnh vải từ dưới gầm bàn ra và gắt: "Đợi đấy, rồi ta sẽ cho các người biết tay." Nói đoạn, anh vung mảnh vải đập xuống chúng không thương tiếc. Khi nhấc tấm vải lên và đếm, có tới bảy con ruồi nằm chết cứng, chân cẳng thẳng đờ trước mặt anh. "Mình là một kẻ ghê gớm đến thế sao?" anh tự nhủ, không giấu nổi sự ngưỡng mộ dành cho lòng dũng cảm của chính mình. "Cả thị trấn này sẽ phải biết chuyện này!" Anh vội vã cắt một chiếc thắt lưng, khâu lại rồi thêu lên đó những dòng chữ to tướng: "Một đòn chết bảy!" "Cái gì, chỉ thị trấn thôi ư!" anh nói tiếp, "Cả thế giới sẽ phải nghe về chuyện này!" Trái tim anh nhảy nhót mừng rỡ như chiếc đuôi của một chú cừu non. Chàng thợ may quấn chiếc thắt lưng vào người, quyết định lên đường chu du thiên hạ, bởi xưởng may bé nhỏ này đâu xứng tầm với lòng dũng cảm của anh. Trước lúc khởi hành, anh lục lọi quanh nhà xem có thứ gì đáng mang theo không, song chẳng kiếm được gì ngoài một miếng pho mát cũ. Anh bỏ nó vào túi. Ra đến trước cửa, thấy một chú chim đang mắc kẹt trong bụi rậm, anh liền nhét luôn chú chim vào túi cùng với miếng pho mát. Giờ thì anh hiên ngang lên đường. Nhờ thân hình nhẹ nhàng, lanh lợi, anh chẳng hề cảm thấy mỏi mệt. Con đường dẫn anh lên một ngọn núi. Vừa lên tới đỉnh, anh bắt gặp một gã khổng lồ vạm vỡ đang bình thản ngồi ngắm cảnh. Chàng thợ may nhỏ bé dũng cảm bước tới, bắt chuyện: "Chào ngày mới, anh bạn. Anh bạn đang ngồi đó ngắm nhìn thế giới bao la đấy à! Tôi cũng đang trên đường đến đó đây, muốn thử xem vận may của mình thế nào. Anh bạn có muốn đi cùng tôi không?" Gã khổng lồ liếc nhìn chàng thợ may đầy khinh bỉ, hừ mũi: "Đồ rách rưới! Mày đúng là một sinh vật thảm hại!"
"Ồ, thật vậy sao?" chàng thợ may nhỏ bé đáp lời, đoạn cởi nút áo khoác, chỉ cho gã khổng lồ xem chiếc thắt lưng: "Anh bạn có thể đọc xem tôi là loại người như thế nào ở đây này!" Gã khổng lồ rướn mắt đọc: "Một đòn chết bảy." Tưởng rằng đó là số người mà chàng thợ may đã đoạt mạng, gã bắt đầu nảy sinh đôi chút kính nể. Tuy vậy, gã vẫn muốn thử tài anh chàng nhỏ bé này trước. Nhặt một hòn đá lên, gã bóp chặt đến mức nước rỉ ra. "Mày thử làm thế xem," gã khổng lồ nói, "nếu mày có sức mạnh." "Chỉ có thế thôi sao?" chàng thợ may bật cười. "Với tôi thì đó chỉ là trò trẻ con thôi!" Anh thọc tay vào túi, lấy miếng pho mát mềm ra rồi bóp cho đến khi nước cốt chảy ròng ròng. "Chà," anh lên tiếng, "như thế có vẻ tốt hơn một chút rồi nhỉ?" Gã khổng lồ cạn lời, không dám tin một kẻ bé nhỏ lại làm được điều kỳ diệu đến vậy. Tiếp đó, gã nhặt một hòn đá khác, ném lên cao tít mù khơi đến nỗi mắt thường khó lòng theo kịp. "Bây giờ, đồ tí hon, mày làm thế xem." "Ném khá đấy," chàng thợ may khen ngợi, "nhưng rốt cuộc hòn đá cũng rơi xuống đất thôi. Tôi sẽ ném cho anh bạn xem một thứ mà sẽ không bao giờ quay lại nữa." Nói rồi anh lại thọc tay vào túi, lôi chú chim ra tung lên không trung. Chú chim, vui sướng vì được tự do, vỗ cánh bay vút đi, chẳng bao giờ quay lại. "Cú ném đó thế nào, anh bạn?" chàng thợ may đắc ý hỏi. "Mày chắc chắn là biết ném," gã khổng lồ thừa nhận, "nhưng bây giờ chúng ta sẽ xem liệu mày có mang vác được thứ gì ra hồn không." Gã dẫn chàng thợ may đến một cây sồi cổ thụ đã bị đốn hạ nằm chình ình trên mặt đất, bảo: "Nếu mày đủ khỏe, hãy giúp tao khiêng cái cây này ra khỏi rừng." "Sẵn sàng," chàng trai nhỏ bé đáp lời, "anh bạn cứ vác phần thân cây lên vai, còn tôi sẽ nâng phần cành và nhánh; dù sao thì chúng cũng là phần nặng nhất." Gã khổng lồ ghé vai vác phần thân cây, trong khi chàng thợ may lanh lẹ nhảy tót lên một cành cây ngồi chễm chệ. Gã khổng lồ không ngoái đầu lại được, đành è cổ khiêng cả cái cây lẫn chàng thợ may đi cùng. Anh ung dung ngồi phía sau, vui vẻ huýt sáo bài hát "Ba chàng thợ may cưỡi ngựa ra khỏi cổng4," cứ như thể việc khiêng cây nhẹ tựa lông hồng. Gánh nặng oằn vai, đi được một quãng, gã khổng lồ kiệt sức gầm lên: "Nghe này, tao phải để cái cây rơi xuống thôi!" Chàng thợ may thoăn thoắt nhảy xuống, hai tay ôm lấy thân cây làm như thể mình vẫn đang oằn lưng khiêng nãy giờ. Anh mỉa mai: "Anh bạn to xác thế kia mà thậm chí không khiêng nổi một cái cây!"
Họ lại sánh bước bên nhau. Ngang qua một cây anh đào, gã khổng lồ vươn tay tóm lấy ngọn cây trĩu quả chín mọng, uốn cong xuống, đưa vào tay chàng thợ may rồi bảo anh ăn. Nhưng sức vóc nhỏ bé, chàng thợ may làm sao giữ nổi. Vừa lúc gã khổng lồ buông tay, cành cây bật tung trở lại, hất văng chàng thợ may lên không trung. Rơi phịch xuống đất mà chẳng mảy may sứt mẻ, gã khổng lồ chế giễu: "Chuyện này là sao? Mày không đủ sức giữ một cành cây yếu ớt à?" "Không phải là tôi thiếu sức mạnh," chàng thợ may thản nhiên đáp. "Anh bạn nghĩ điều đó có nhằm nhò gì với một kẻ đã hạ gục bảy mạng chỉ bằng một đòn sao? Tôi cố tình nhảy qua cái cây vì bọn thợ săn đang xả súng dưới lùm cây đằng kia kìa. Anh bạn thử nhảy như tôi xem, nếu có thể." Gã khổng lồ ráng sức nhảy nhưng chẳng thể vượt qua, thân hình to đùng vướng víu lơ lửng trên các cành cây. Thành thử, chàng thợ may lại một lần nữa giành thế thượng phong.
Gã khổng lồ rủ rê: "Nếu mày dũng cảm như vậy, hãy đi cùng tao vào hang và qua đêm với bọn tao." Chàng thợ may nhận lời và rảo bước theo sau gã. Vừa bước vào hang, anh thấy những gã khổng lồ khác đang ngồi quây quần bên đống lửa đỏ rực, mỗi gã tay cầm một con cừu quay đang nhồm nhoàm nhai. Đảo mắt quanh hang, anh nghĩ thầm: "Ở đây rộng rãi hơn xưởng may của mình nhiều." Gã khổng lồ chỉ cho anh một chiếc giường và giục anh đi ngủ. Ngặt nỗi chiếc giường quá khổ, chàng thợ may đành rúc vào một góc nằm. Nửa đêm, đinh ninh chàng thợ may đã ngủ say sưa, gã khổng lồ lồm cồm bò dậy. Gã xách một thanh sắt tảng, giáng một đòn chí mạng bổ đôi chiếc giường, đắc ý nhủ thầm đã kết liễu được con châu chấu ranh mãnh mãi mãi. Tảng sáng, đám khổng lồ kéo nhau vào rừng, quên bẵng chàng thợ may bé nhỏ. Chợt, anh bước ra tươi rói, hiên ngang như không có chuyện gì xảy ra. Thấy anh, bọn khổng lồ khiếp vía, sợ hãi bị đánh chết nên vắt chân lên cổ chạy thục mạng.
Chàng thợ may nhỏ bé lại rảo bước, cứ nhắm thẳng hướng mũi nhọn mà đi. Ròng rã một đoạn đường dài, anh đặt chân đến khoảng sân lộng lẫy của hoàng cung. Mỏi mệt, anh ngả lưng xuống thảm cỏ rồi thiếp đi lúc nào không hay. Giữa lúc anh say giấc, người dân tò mò kéo đến vây quanh quan sát. Đọc được dòng chữ "Một đòn chết bảy" trên thắt lưng anh, họ xì xào: "À! Vị chiến binh vĩ đại này muốn gì ở đây trong thời buổi thái bình chứ? Chắc hẳn ngài ấy là một vị lãnh chúa quyền uy." Họ tức tốc bẩm báo lên nhà vua, tâu rằng nếu có binh đao, người này ắt sẽ là một trụ cột đắc lực, tuyệt đối không thể để ngài ấy rời đi. Nghe bùi tai, nhà vua sai ngay một cận thần tới, túc trực đợi chàng thợ may tỉnh giấc để ngỏ lời mời anh gia nhập quân ngũ. Vị sứ giả nhẫn nại đứng chờ anh vươn vai, mở bừng mắt mới trịnh trọng truyền đạt thánh chỉ. "Đó chính là lý do ta đến đây," chàng thợ may từ tốn đáp. "Ta sẵn sàng phục vụ nhà vua." Ngay lập tức, anh được tiếp đón bằng những nghi thức trọng thể nhất và được cấp cho một dinh thự nguy nga.
Tuy nhiên, đám binh lính lại hậm hực với chàng thợ may, chỉ mong anh ta biến khuất mắt cho rảnh nợ. "Chuyện này rồi sẽ đi về đâu?" họ rỉ tai nhau. "Nếu chúng ta gây sự với hắn, và hắn ta ra tay, cứ mỗi đòn là bảy người chúng ta sẽ ngã gục; không một ai trong chúng ta có thể chống lại hắn." Bàn đi tính lại, tất thảy đồng lòng đến diện kiến nhà vua, xin cáo quan về quê. "Chúng tôi không sẵn sàng," họ tâu, "để ở lại cùng một kẻ có thể lấy mạng bảy người chỉ bằng một đòn." Vua buồn bã khôn nguôi khi vì một kẻ xa lạ mà mất đi cả đội quân trung thành. Ngài thầm ước giá như chưa từng gặp chàng thợ may và rất muốn tống khứ anh ta đi cho khuất mắt. Ngặt một nỗi, ngài chẳng dám ban lệnh đuổi anh, e rằng anh sẽ nổi cơn thịnh nộ giết sạch từ vua đến dân rồi tự mình cướp ngôi báu. Vắt óc suy tính mãi, cuối cùng nhà vua cũng nghĩ ra một diệu kế. Ngài cho triệu chàng thợ may tới, phán rằng bởi anh là một chiến binh xuất chúng, ngài muốn giao cho anh một trọng trách. Trong một khu rừng thuộc vương quốc có hai gã khổng lồ ngự trị. Chúng gieo rắc bao thảm họa, cướp bóc, giết chóc, tàn phá, phóng hỏa, chẳng ai dám bén mảng tới gần mà không đánh cược mạng sống của mình. Nếu anh đánh bại và hạ sát hai gã ác nhân này, ngài sẽ gả cô công chúa độc nhất cho anh, kèm theo nửa vương quốc làm của hồi môn, và cử một trăm kỵ binh theo phò tá. "Quả là một phần thưởng trong mơ!" chàng thợ may thầm nghĩ. "Cả đời người mấy ai được ban thưởng một nàng công chúa kiều diễm và nửa vương quốc!" "Ồ, vâng," anh hớn hở đáp lời, "thần sẽ sớm khuất phục bọn khổng lồ, và thần chẳng cần đến sự trợ giúp của một trăm kỵ binh; một người có thể hạ gục bảy mạng bằng một đòn thì việc gì phải nơm nớp sợ hai gã khổng lồ."
Chàng thợ may nhỏ bé đi trước, một trăm kỵ binh rầm rập theo sau. Tới bìa rừng, anh dặn dò đội quân: "Các ngươi cứ đứng đợi ở đây, một mình ta sẽ sớm kết liễu bọn khổng lồ." Dứt lời, anh lao vút vào rừng rậm, đưa mắt sục sạo khắp nơi. Lát sau, anh phát hiện ra mục tiêu. Hai gã khổng lồ đang nằm ngủ dưới một gốc cây, tiếng ngáy vang rền rung chuyển cả những cành cây. Chẳng hề chần chừ, chàng thợ may gom hai túi đầy đá cuội rồi thoăn thoắt trèo lên cây. Lên đến lưng chừng, anh trượt dọc theo một nhánh cây, vắt vẻo ngay trên đầu hai kẻ đang ngáy sấm sét. Anh thả từng hòn đá rơi trúng ngực một gã. Mãi một lúc sau gã khổng lồ mới thấy râm ran, gã lồm cồm thức giấc, huých mạnh gã kia: "Sao mày lại đánh tao?" "Mày đang mơ ngủ à," gã kia gắt gỏng, "tao có đánh mày đâu." Chúng lại ngả lưng ngủ tiếp. Lần này, chàng thợ may nhắm hòn đá vào gã thứ hai. "Chuyện này là sao?" gã kia gầm lên. "Sao mày lại ném tao?" "Tao không ném mày," gã thứ nhất làu bàu cãi lại. Chúng cự cãi một hồi rồi vì quá buồn ngủ nên bỏ qua, lại nhắm nghiền mắt. Chàng thợ may tiếp tục trò tiêu khiển, chọn hòn đá tảng bự nhất, lấy hết sức bình sinh ném thẳng vào ngực gã thứ nhất. "Thế này thì quá đáng lắm rồi!" gã rống lên, bật dậy như một kẻ điên, đẩy mạnh đồng bọn đập vào thân cây làm cái cây rung bần bật. Gã kia chẳng vừa, lập tức ăn miếng trả miếng. Điên tiết, chúng nhổ bật cả rễ cây lên choảng nhau túi bụi. Trận kịch chiến kết thúc khi cả hai cùng gục ngã tắt thở. Lúc bấy giờ, chàng thợ may mới nhảy xuống. "Thật may mắn," anh đắc ý nhủ, "chúng đã không nhổ bật cái cây mà mình đang ngồi, nếu không mình đã phải chuyền sang cây khác như một con sóc; nhưng những thợ may chúng ta rất lanh lợi." Anh rút gươm, bồi thêm vài nhát vào ngực mỗi gã rồi thong dong bước ra chỗ kỵ binh, dõng dạc nói: "Công việc xong rồi; ta đã kết liễu cả hai bọn chúng. Quả là một trận chiến cam go! Bí thế, chúng đã nhổ bật cả cây lên để tự vệ, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích trước một kẻ có thể đoạt mạng bảy người chỉ bằng một đòn." "Nhưng ngài không bị thương chứ?" đám kỵ binh quan tâm hỏi. "Các ngươi không cần bận tâm về chuyện đó," chàng thợ may xua tay, "chúng chưa làm rụng một sợi tóc nào của ta cả." Bán tín bán nghi, đám kỵ binh phi ngựa vào rừng. Cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến họ há hốc: hai gã khổng lồ nằm bất động trong vũng máu, xung quanh là ngổn ngang những gốc cây bị nhổ bật rễ.
Trở về hoàng cung, chàng thợ may yêu cầu nhà vua ban thưởng như đã hứa. Tuy nhiên, nhà vua lại sinh lòng nuối tiếc, tiếp tục vắt óc nghĩ mưu tống khứ vị anh hùng. "Trước khi ngươi rước con gái ta và nhận nửa vương quốc," nhà vua phán, "nhà ngươi phải lập thêm một chiến công nữa. Trong rừng đang có một con kỳ lân5 hung dữ hoành hành, gây bao tai họa. Nhà ngươi phải bắt sống nó về đây." "Thần không sợ một con kỳ lân, càng không sợ hai gã khổng lồ. Bảy mạng chỉ bằng một đòn, đó mới là việc của thần." Mang theo sợi dây thừng và cây rìu, anh tiến thẳng vào rừng, dặn dò quân lính đứng ngoài chờ đợi. Chẳng phải tìm đâu xa, con kỳ lân nhanh chóng xuất hiện, hùng hổ lao thẳng về phía chàng thợ may, chực dùng cặp sừng nhọn hoắt húc anh tan xác. "Nhẹ nhàng thôi, nhẹ nhàng thôi; chuyện này không thể làm nhanh như vậy được đâu," anh lẩm bẩm, đứng bất động chờ con thú tới thật gần mới lẹ làng nhảy sang nấp sau thân cây. Con kỳ lân lao tới bằng tất cả sức mạnh, sừng cắm phập vào thân cây cứng ngắc, vẫy vùng cỡ nào cũng chẳng rút ra nổi. Thế là nó bị tóm gọn. "Bây giờ, ta đã bắt được con chim này," chàng thợ may đắc thắng bước ra khỏi chỗ nấp, tròng dây thừng quanh cổ con vật. Anh vung rìu chặt đứt sừng con kỳ lân dính vào cây, rồi đủng đỉnh dắt con thú về dâng lên nhà vua.
Vẫn chưa cam tâm ban thưởng, nhà vua đưa ra thử thách thứ ba. Trước khi hôn lễ diễn ra, chàng thợ may phải bắt một con lợn rừng đang tàn phá điên cuồng khu rừng, và lần này, đội thợ săn sẽ đi theo hỗ trợ. "Sẵn sàng," chàng thợ may cười lớn, "đó chỉ là trò trẻ con!" Anh không cho đám thợ săn vào rừng, và họ mừng quýnh vì con lợn rừng hung bạo đã bao phen khiến họ khiếp vía, chẳng ai dại gì mà đi nộp mạng. Vừa nhác thấy bóng chàng thợ may, con lợn rừng sùi bọt mép, nhe nanh sắc nhọn lao tới chực quật ngã anh. Vị anh hùng thoăn thoắt bỏ chạy, lẻn ngay vào một nhà nguyện6 gần đó, rồi phi lên bệ cửa sổ, phóng mình ra ngoài. Con lợn rừng điên cuồng đuổi theo. Nhanh như chớp, chàng thợ may vòng ra ngoài đóng sầm cánh cửa lại. Bị nhốt chặt trong nhà nguyện, con thú to xác vụng về chẳng thể nhảy qua cửa sổ tẩu thoát. Chàng thợ may đắc ý gọi đám thợ săn tới chiêm ngưỡng con mãnh thú bị sa bẫy. Vị anh hùng trở về diện kiến nhà vua. Đến nước này, dù muốn dù không, nhà vua đành nuốt hận giữ lời hứa, gả công chúa và trao nửa vương quốc cho anh. Phải chi ngài biết kẻ đứng trước mặt ngài chẳng phải là vị anh hùng cái thế nào mà chỉ là một gã thợ may tép riu, hẳn ngài còn đứt từng khúc ruột. Hôn lễ được tổ chức linh đình nhưng hiu hắt niềm vui. Từ một thợ may thấp hèn, anh vụt sáng trở thành một vị vua quyền uy.
Bẵng đi một thời gian, trong một đêm thanh vắng, hoàng hậu trẻ vô tình nghe tiếng chồng nói mớ: "Thằng nhóc kia, làm áo khoác cho ta, và vá mấy cái quần đùi lại, nếu không ta sẽ phang cái thước đo vào tai ngươi đấy." Sự thật phũ phàng về xuất thân của vị phu quân trẻ tuổi vỡ lở. Sáng hôm sau, nàng ấm ức chạy đến tìm phụ vương khóc lóc, khẩn khoản cầu xin cha giúp nàng rũ bỏ gã chồng thợ may rẻ rúng này. Nhà vua vuốt ve an ủi con gái: "Đêm nay con hãy mở hé cửa phòng ngủ, những người hầu của ta sẽ phục sẵn bên ngoài. Đợi lúc hắn ngủ say, họ sẽ ập vào, trói gô hắn lại, tống lên tàu chở đi đày biệt xứ." Người phụ nữ hả hê ưng thuận. Nhưng người mang áo giáp7 của nhà vua, vốn thân tín với vị lãnh chúa trẻ tuổi, đã vô tình nghe lén được toàn bộ âm mưu tàn độc. Anh vội vã bẩm báo mọi chuyện. "Ta sẽ cho bọn bay biết tay," chàng thợ may cười nhạt. Đêm xuống, anh lên giường ngủ cùng vợ như thường lệ. Tưởng chồng đã say giấc nồng, nàng rón rén bò dậy, hé cửa rồi nằm xuống. Chàng thợ may nhỏ bé, thực chất đang giả vờ ngủ, bất thần cất cao giọng dõng dạc: "Thằng nhóc kia, làm áo khoác và vá quần đùi cho ta, không ta sẽ phang cái thước đo vào tai ngươi đấy. Ta đã đánh một đòn chết bảy. Ta đã giết hai gã khổng lồ, ta đã dắt một con kỳ lân đi, và bắt một con lợn rừng, vậy mà ta phải sợ bọn bay đang đứng bên ngoài phòng sao." Đám hầu cận nấp ngoài cửa nghe thấy những lời đanh thép ấy liền khiếp hồn bạt vía. Chúng vứt cả vũ khí, ù té chạy thục mạng như thể bị lũ quỷ dữ truy đuổi, không một kẻ nào dám hó hé mưu đồ hãm hại anh thêm lần nào nữa. Và thế là, chàng thợ may nhỏ bé hiên ngang ngồi vững trên ngai vàng cho đến cuối đời.
-
Đơn vị đo khối lượng truyền thống của phương Tây, 1 ounce tương đương khoảng 28,3 gram. ↩
-
Đơn vị đo khối lượng truyền thống của phương Tây, 1 pound tương đương khoảng 453,6 gram (gần nửa kilogram). ↩
-
Câu nói thể hiện tín ngưỡng Cơ Đốc giáo, mang ý nghĩa mong cầu sự tốt lành và tạ ơn Thượng đế vì thức ăn được ban cho. ↩
-
Nhắc đến một bài hát dân ca châm biếm cổ của Đức, kể về ba người thợ may nghèo khổ phải dùng chung một con ngựa, tạo sự đối lập hài hước với hình ảnh gã khổng lồ đang phải è cổ cõng chàng thợ may. ↩
-
Kỳ lân (Unicorn) trong thần thoại phương Tây là một loài sinh vật huyền bí có hình dáng giống ngựa trắng với một chiếc sừng nhọn duy nhất mọc giữa trán, tượng trưng cho sức mạnh hoang dã. ↩
-
Nhà nguyện (chapel) là nơi thờ tự và cầu nguyện nhỏ của đạo Cơ Đốc, thường được xây dựng trong lâu đài, trường học, bệnh viện hoặc đôi khi nằm lẻ loi giữa rừng. ↩
-
Người hầu cận thân tín của vua chúa hay hiệp sĩ (armor-bearer), chịu trách nhiệm mang vác vũ khí, áo giáp và hỗ trợ chủ nhân trong chiến đấu. ↩
THE VALIANT LITTLE TAILOR
One summer’s morning a little tailor was sitting on his table by the window; he was in good spirits, and sewed with all his might. Then came a peasant woman down the street crying: ‘Good jams, cheap! Good jams, cheap!’ This rang pleasantly in the tailor’s ears; he stretched his delicate head out of the window, and called: ‘Come up here, dear woman; here you will get rid of your goods.’ The woman came up the three steps to the tailor with her heavy basket, and he made her unpack all the pots for him. He inspected each one, lifted it up, put his nose to it, and at length said: ‘The jam seems to me to be good, so weigh me out four ounces, dear woman, and if it is a quarter of a pound that is of no consequence.’ The woman who had hoped to find a good sale, gave him what he desired, but went away quite angry and grumbling. ‘Now, this jam shall be blessed by God,’ cried the little tailor, ‘and give me health and strength’; so he brought the bread out of the cupboard, cut himself a piece right across the loaf and spread the jam over it. ‘This won’t taste bitter,’ said he, ‘but I will just finish the jacket before I take a bite.’ He laid the bread near him, sewed on, and in his joy, made bigger and bigger stitches. In the meantime the smell of the sweet jam rose to where the flies were sitting in great numbers, and they were attracted and descended on it in hosts. ‘Hi! who invited you?’ said the little tailor, and drove the unbidden guests away. The flies, however, who understood no German, would not be turned away, but came back again in ever-increasing companies. The little tailor at last lost all patience, and drew a piece of cloth from the hole under his work-table, and saying: ‘Wait, and I will give it to you,’ struck it mercilessly on them. When he drew it away and counted, there lay before him no fewer than seven, dead and with legs stretched out. ‘Are you a fellow of that sort?’ said he, and could not help admiring his own bravery. ‘The whole town shall know of this!’ And the little tailor hastened to cut himself a girdle, stitched it, and embroidered on it in large letters: ‘Seven at one stroke!’ ‘What, the town!’ he continued, ‘the whole world shall hear of it!’ and his heart wagged with joy like a lamb’s tail. The tailor put on the girdle, and resolved to go forth into the world, because he thought his workshop was too small for his valour. Before he went away, he sought about in the house to see if there was anything which he could take with him; however, he found nothing but an old cheese, and that he put in his pocket. In front of the door he observed a bird which had caught itself in the thicket. It had to go into his pocket with the cheese. Now he took to the road boldly, and as he was light and nimble, he felt no fatigue. The road led him up a mountain, and when he had reached the highest point of it, there sat a powerful giant looking peacefully about him. The little tailor went bravely up, spoke to him, and said: ‘Good day, comrade, so you are sitting there overlooking the wide-spread world! I am just on my way thither, and want to try my luck. Have you any inclination to go with me?’ The giant looked contemptuously at the tailor, and said: ‘You ragamuffin! You miserable creature!’
‘Oh, indeed?’ answered the little tailor, and unbuttoned his coat, and showed the giant the girdle, ‘there may you read what kind of a man I am!’ The giant read: ‘Seven at one stroke,’ and thought that they had been men whom the tailor had killed, and began to feel a little respect for the tiny fellow. Nevertheless, he wished to try him first, and took a stone in his hand and squeezed it together so that water dropped out of it. ‘Do that likewise,’ said the giant, ‘if you have strength.’ ‘Is that all?’ said the tailor, ‘that is child’s play with us!’ and put his hand into his pocket, brought out the soft cheese, and pressed it until the liquid ran out of it. ‘Faith,’ said he, ‘that was a little better, wasn’t it?’ The giant did not know what to say, and could not believe it of the little man. Then the giant picked up a stone and threw it so high that the eye could scarcely follow it. ‘Now, little mite of a man, do that likewise,’ ‘Well thrown,’ said the tailor, ‘but after all the stone came down to earth again; I will throw you one which shall never come back at all,’ and he put his hand into his pocket, took out the bird, and threw it into the air. The bird, delighted with its liberty, rose, flew away and did not come back. ‘How does that shot please you, comrade?’ asked the tailor. ‘You can certainly throw,’ said the giant, ‘but now we will see if you are able to carry anything properly.’ He took the little tailor to a mighty oak tree which lay there felled on the ground, and said: ‘If you are strong enough, help me to carry the tree out of the forest.’ ‘Readily,’ answered the little man; ‘take you the trunk on your shoulders, and I will raise up the branches and twigs; after all, they are the heaviest.’ The giant took the trunk on his shoulder, but the tailor seated himself on a branch, and the giant, who could not look round, had to carry away the whole tree, and the little tailor into the bargain: he behind, was quite merry and happy, and whistled the song: ‘Three tailors rode forth from the gate,’ as if carrying the tree were child’s play. The giant, after he had dragged the heavy burden part of the way, could go no further, and cried: ‘Hark you, I shall have to let the tree fall!’ The tailor sprang nimbly down, seized the tree with both arms as if he had been carrying it, and said to the giant: ‘You are such a great fellow, and yet cannot even carry the tree!’
They went on together, and as they passed a cherry-tree, the giant laid hold of the top of the tree where the ripest fruit was hanging, bent it down, gave it into the tailor’s hand, and bade him eat. But the little tailor was much too weak to hold the tree, and when the giant let it go, it sprang back again, and the tailor was tossed into the air with it. When he had fallen down again without injury, the giant said: ‘What is this? Have you not strength enough to hold the weak twig?’ ‘There is no lack of strength,’ answered the little tailor. ‘Do you think that could be anything to a man who has struck down seven at one blow? I leapt over the tree because the huntsmen are shooting down there in the thicket. Jump as I did, if you can do it.’ The giant made the attempt but he could not get over the tree, and remained hanging in the branches, so that in this also the tailor kept the upper hand.
The giant said: ‘If you are such a valiant fellow, come with me into our cavern and spend the night with us.’ The little tailor was willing, and followed him. When they went into the cave, other giants were sitting there by the fire, and each of them had a roasted sheep in his hand and was eating it. The little tailor looked round and thought: ‘It is much more spacious here than in my workshop.’ The giant showed him a bed, and said he was to lie down in it and sleep. The bed, however, was too big for the little tailor; he did not lie down in it, but crept into a corner. When it was midnight, and the giant thought that the little tailor was lying in a sound sleep, he got up, took a great iron bar, cut through the bed with one blow, and thought he had finished off the grasshopper for good. With the earliest dawn the giants went into the forest, and had quite forgotten the little tailor, when all at once he walked up to them quite merrily and boldly. The giants were terrified, they were afraid that he would strike them all dead, and ran away in a great hurry.
The little tailor went onwards, always following his own pointed nose. After he had walked for a long time, he came to the courtyard of a royal palace, and as he felt weary, he lay down on the grass and fell asleep. Whilst he lay there, the people came and inspected him on all sides, and read on his girdle: ‘Seven at one stroke.’ ‘Ah!’ said they, ‘what does the great warrior want here in the midst of peace? He must be a mighty lord.’ They went and announced him to the king, and gave it as their opinion that if war should break out, this would be a weighty and useful man who ought on no account to be allowed to depart. The counsel pleased the king, and he sent one of his courtiers to the little tailor to offer him military service when he awoke. The ambassador remained standing by the sleeper, waited until he stretched his limbs and opened his eyes, and then conveyed to him this proposal. ‘For this very reason have I come here,’ the tailor replied, ‘I am ready to enter the king’s service.’ He was therefore honourably received, and a special dwelling was assigned him.
The soldiers, however, were set against the little tailor, and wished him a thousand miles away. ‘What is to be the end of this?’ they said among themselves. ‘If we quarrel with him, and he strikes about him, seven of us will fall at every blow; not one of us can stand against him.’ They came therefore to a decision, betook themselves in a body to the king, and begged for their dismissal. ‘We are not prepared,’ said they, ‘to stay with a man who kills seven at one stroke.’ The king was sorry that for the sake of one he should lose all his faithful servants, wished that he had never set eyes on the tailor, and would willingly have been rid of him again. But he did not venture to give him his dismissal, for he dreaded lest he should strike him and all his people dead, and place himself on the royal throne. He thought about it for a long time, and at last found good counsel. He sent to the little tailor and caused him to be informed that as he was a great warrior, he had one request to make to him. In a forest of his country lived two giants, who caused great mischief with their robbing, murdering, ravaging, and burning, and no one could approach them without putting himself in danger of death. If the tailor conquered and killed these two giants, he would give him his only daughter to wife, and half of his kingdom as a dowry, likewise one hundred horsemen should go with him to assist him. ‘That would indeed be a fine thing for a man like me!’ thought the little tailor. ‘One is not offered a beautiful princess and half a kingdom every day of one’s life!’ ‘Oh, yes,’ he replied, ‘I will soon subdue the giants, and do not require the help of the hundred horsemen to do it; he who can hit seven with one blow has no need to be afraid of two.’
The little tailor went forth, and the hundred horsemen followed him. When he came to the outskirts of the forest, he said to his followers: ‘Just stay waiting here, I alone will soon finish off the giants.’ Then he bounded into the forest and looked about right and left. After a while he perceived both giants. They lay sleeping under a tree, and snored so that the branches waved up and down. The little tailor, not idle, gathered two pocketsful of stones, and with these climbed up the tree. When he was halfway up, he slipped down by a branch, until he sat just above the sleepers, and then let one stone after another fall on the breast of one of the giants. For a long time the giant felt nothing, but at last he awoke, pushed his comrade, and said: ‘Why are you knocking me?’ ‘You must be dreaming,’ said the other, ‘I am not knocking you.’ They laid themselves down to sleep again, and then the tailor threw a stone down on the second. ‘What is the meaning of this?’ cried the other ‘Why are you pelting me?’ ‘I am not pelting you,’ answered the first, growling. They disputed about it for a time, but as they were weary they let the matter rest, and their eyes closed once more. The little tailor began his game again, picked out the biggest stone, and threw it with all his might on the breast of the first giant. ‘That is too bad!’ cried he, and sprang up like a madman, and pushed his companion against the tree until it shook. The other paid him back in the same coin, and they got into such a rage that they tore up trees and belaboured each other so long, that at last they both fell down dead on the ground at the same time. Then the little tailor leapt down. ‘It is a lucky thing,’ said he, ‘that they did not tear up the tree on which I was sitting, or I should have had to sprint on to another like a squirrel; but we tailors are nimble.’ He drew out his sword and gave each of them a couple of thrusts in the breast, and then went out to the horsemen and said: ‘The work is done; I have finished both of them off, but it was hard work! They tore up trees in their sore need, and defended themselves with them, but all that is to no purpose when a man like myself comes, who can kill seven at one blow.’ ‘But are you not wounded?’ asked the horsemen. ‘You need not concern yourself about that,’ answered the tailor, ‘they have not bent one hair of mine.’ The horsemen would not believe him, and rode into the forest; there they found the giants swimming in their blood, and all round about lay the torn-up trees.
The little tailor demanded of the king the promised reward; he, however, repented of his promise, and again bethought himself how he could get rid of the hero. ‘Before you receive my daughter, and the half of my kingdom,’ said he to him, ‘you must perform one more heroic deed. In the forest roams a unicorn which does great harm, and you must catch it first.’ ‘I fear one unicorn still less than two giants. Seven at one blow, is my kind of affair.’ He took a rope and an axe with him, went forth into the forest, and again bade those who were sent with him to wait outside. He had not long to seek. The unicorn soon came towards him, and rushed directly on the tailor, as if it would gore him with its horn without more ado. ‘Softly, softly; it can’t be done as quickly as that,’ said he, and stood still and waited until the animal was quite close, and then sprang nimbly behind the tree. The unicorn ran against the tree with all its strength, and stuck its horn so fast in the trunk that it had not the strength enough to draw it out again, and thus it was caught. ‘Now, I have got the bird,’ said the tailor, and came out from behind the tree and put the rope round its neck, and then with his axe he hewed the horn out of the tree, and when all was ready he led the beast away and took it to the king.
The king still would not give him the promised reward, and made a third demand. Before the wedding the tailor was to catch him a wild boar that made great havoc in the forest, and the huntsmen should give him their help. ‘Willingly,’ said the tailor, ‘that is child’s play!’ He did not take the huntsmen with him into the forest, and they were well pleased that he did not, for the wild boar had several times received them in such a manner that they had no inclination to lie in wait for him. When the boar perceived the tailor, it ran on him with foaming mouth and whetted tusks, and was about to throw him to the ground, but the hero fled and sprang into a chapel which was near and up to the window at once, and in one bound out again. The boar ran after him, but the tailor ran round outside and shut the door behind it, and then the raging beast, which was much too heavy and awkward to leap out of the window, was caught. The little tailor called the huntsmen thither that they might see the prisoner with their own eyes. The hero, however, went to the king, who was now, whether he liked it or not, obliged to keep his promise, and gave his daughter and the half of his kingdom. Had he known that it was no warlike hero, but a little tailor who was standing before him, it would have gone to his heart still more than it did. The wedding was held with great magnificence and small joy, and out of a tailor a king was made.
After some time the young queen heard her husband say in his dreams at night: ‘Boy, make me the doublet, and patch the pantaloons, or else I will rap the yard-measure over your ears.’ Then she discovered in what state of life the young lord had been born, and next morning complained of her wrongs to her father, and begged him to help her to get rid of her husband, who was nothing else but a tailor. The king comforted her and said: ‘Leave your bedroom door open this night, and my servants shall stand outside, and when he has fallen asleep shall go in, bind him, and take him on board a ship which shall carry him into the wide world.’ The woman was satisfied with this; but the king’s armour-bearer, who had heard all, was friendly with the young lord, and informed him of the whole plot. ‘I’ll put a screw into that business,’ said the little tailor. At night he went to bed with his wife at the usual time, and when she thought that he had fallen asleep, she got up, opened the door, and then lay down again. The little tailor, who was only pretending to be asleep, began to cry out in a clear voice: ‘Boy, make me the doublet and patch me the pantaloons, or I will rap the yard-measure over your ears. I smote seven at one blow. I killed two giants, I brought away one unicorn, and caught a wild boar, and am I to fear those who are standing outside the room.’ When these men heard the tailor speaking thus, they were overcome by a great dread, and ran as if the wild huntsman were behind them, and none of them would venture anything further against him. So the little tailor was and remained a king to the end of his life.