CHƯƠNG XXXV.


“Nghe thấy tên mình được gọi.”

E

Elizabeth thức dậy vào sáng hôm sau, tâm trí vẫn vương vấn những suy tư và trăn trở đã đeo bám cô cho đến tận lúc nhắm mắt. Cô vẫn chưa hết bàng hoàng trước những sự việc vừa xảy ra: tâm trí cô dường như chẳng thể dung nạp thêm bất cứ điều gì khác. Chẳng còn chút tâm trạng nào để bận tâm đến công việc, cô quyết định ra ngoài tản bộ, hít thở bầu không khí trong lành ngay sau bữa điểm tâm. Đang thong dong tiến về lối đi dạo yêu thích, cô chợt nhớ ra ông Darcy thi thoảng cũng qua lại chốn ấy. Thế là thay vì rảo bước vào công viên, cô rẽ sang lối mòn dẫn ra xa con đường lớn. Men theo bờ rào công viên làm ranh giới ở một bên, cô nhanh chóng lách qua một trong những cánh cổng để vào bên trong.

Sau khi nấn ná dạo lại vài vòng dọc theo đoạn đường mòn ấy, tiết trời buổi ban mai êm ả đã níu bước chân cô dừng lại bên cánh cổng để đưa mắt ngắm nhìn quang cảnh công viên. Năm tuần lưu trú tại Kent đã mang lại một sự thay đổi lớn lao cho vùng quê này, và mỗi ngày trôi qua lại điểm tô thêm sắc xanh mơn mởn cho những tán cây đầu mùa. Cô vừa toan cất bước đi tiếp thì chợt thoáng thấy bóng dáng một quý ông bên trong khu rừng nhỏ ven công viên: ông ta đang rảo bước về hướng đó; và vì e sợ người ấy là ông Darcy, cô lập tức có ý định quay gót. Thế nhưng, người đó giờ đã tiến đến đủ gần để trông thấy cô, và với những sải bước hăm hở, ông cất tiếng gọi tên cô. Dẫu đã quay lưng lại, nhưng khi nghe tiếng gọi, với âm sắc đã chứng minh rõ đó chính là ông Darcy, cô vẫn quay bước về phía cánh cổng. Vừa lúc ông cũng đã đến nơi; chìa ra một lá thư mà cô đưa tay nhận lấy theo bản năng, ông cất lời với vẻ điềm tĩnh đầy kiêu hãnh: “Tôi đã dạo quanh khu rừng này một lúc với hy vọng được gặp cô. Cô sẽ ban cho tôi niềm vinh hạnh được đọc bức thư này chứ?”. Rồi với một cái cúi chào nhẹ nhàng, ông quay lưng bước vào rừng và nhanh chóng khuất bóng.

Không một mảy may vui thích, mà chỉ với một sự tò mò mãnh liệt, Elizabeth bóc lá thư. Sự kinh ngạc trong cô mỗi lúc một dâng cao khi thấy bên trong là hai tờ giấy chi chít những dòng chữ san sát nhau. Ngay cả mặt trong chiếc phong bì cũng phủ kín chữ. Cô vừa chậm rãi cất bước dọc theo lối mòn, vừa đưa mắt bắt đầu đọc. Bức thư được đề gửi từ Rosings, vào lúc tám giờ sáng, với nội dung như sau:-

“Thưa cô, xin đừng hoảng hốt khi nhận lá thư này, cũng đừng e ngại rằng nó chứa đựng những tình cảm hay những lời cầu hôn đã từng khiến cô phải chán ghét tột cùng vào đêm qua. Tôi viết những dòng này không hề có ý định làm tổn thương cô, hay tự hạ nhục bản thân bằng cách cứ mãi vương vấn những khát khao mà lẽ ra, vì hạnh phúc của cả hai ta, cần phải được chôn vùi càng sớm càng tốt. Lẽ ra tôi đã có thể tránh được sự nhọc nhằn khi phải viết ra những điều này, và cô cũng chẳng phải bận lòng đọc chúng, nếu như danh dự của tôi không khẩn thiết đòi hỏi sự thật phải được tỏ bày. Do đó, xin cô hãy lượng thứ cho sự mạn phép này khi tôi thỉnh cầu sự chú ý từ cô. Tôi biết những cảm xúc hiện tại sẽ khiến cô chỉ đọc nó một cách khiên cưỡng, nhưng tôi yêu cầu điều đó, vì sự công bằng của chính cô."

“Đêm qua, cô đã cáo buộc tôi hai tội danh mang bản chất hoàn toàn khác biệt, và mức độ nghiêm trọng cũng chẳng hề tương đương. Điều đầu tiên là việc tôi đã cố tình chia rẽ anh Bingley khỏi chị gái cô, bất chấp tình cảm của cả hai bên. Điều thứ hai là việc tôi đã chà đạp lên danh dự và lòng nhân đạo, gạt bỏ mọi quyền lợi chính đáng để đập tan tương lai và sự thịnh vượng của hắn Wickham. Chủ tâm ruồng bỏ người bạn thuở thiếu thời, người từng được cha tôi nhận làm con đỡ đầu, một chàng trai trẻ gần như không còn chỗ dựa nào khác ngoài sự bảo trợ của gia đình tôi, và đã được nuôi dạy với niềm tin vào sự nâng đỡ ấy, quả là một hành vi đồi bại; một tội ác mà việc chia cắt hai người trẻ tuổi vừa chớm nở chút tình cảm cỏn con trong vài tuần ngắn ngủi chẳng thể nào sánh bằng. Dẫu cô đã buông lời phán xét quá đỗi gay gắt vào đêm qua về từng sự việc, tôi hy vọng từ nay về sau, khi cô đọc xong bản tường trình dưới đây về những hành động cũng như động cơ của mình, tôi sẽ được thấu hiểu. Nếu trong lúc tự bào chữa, tôi buộc phải nhắc lại những sự tình có thể khiến cô phật ý, tôi chỉ biết nói rằng tôi vô cùng lấy làm tiếc. Vì đây là việc chẳng đặng đừng, mọi lời tạ lỗi thêm nữa e rằng sẽ trở nên lố bịch. Tôi mới đến Hertfordshire chưa bao lâu thì đã nhận ra, cũng như bao người khác, rằng anh Bingley để tâm đến chị gái cô hơn bất kỳ thiếu nữ nào trong vùng. Nhưng phải đến vũ hội ở Netherfield, tôi mới bắt đầu lo ngại rằng anh ta đang vướng vào một mối tình nghiêm túc. Tôi từng nhiều lần thấy anh ta yêu đương trước đây. Tại buổi vũ hội đó, trong lúc hân hạnh khiêu vũ cùng cô, tôi tình cờ nghe được từ ngài William Lucas-lần đầu tiên tôi hay biết-rằng sự săn đón của anh Bingley dành cho cô ta đã dấy lên sự kỳ vọng chung về một đám cưới. Ông ta nói về nó như chuyện ván đã đóng thuyền, chỉ còn đợi ngày lành tháng tốt. Kể từ phút ấy, tôi bắt đầu cẩn trọng quan sát hành vi của bạn mình; và tôi nhận ra sự thiên vị anh ta dành cho cô Bennet đã vượt xa những gì tôi từng chứng kiến trước đây. Tôi cũng âm thầm theo dõi chị gái cô. Vẻ mặt và cung cách của cô ta vẫn cởi mở, vui vẻ, và đầy sức hút như mọi khi, nhưng không hề biểu lộ bất kỳ dấu hiệu nào của một sự gắn bó đặc biệt; và từ những gì quan sát được tối hôm đó, tôi vẫn tin chắc rằng dù cô ta hoan hỉ đón nhận sự săn đón của anh ta, cô ta không hề đáp lại bằng một tình cảm tương đương. Nếu không nhầm lẫn ở điểm này, thì ắt hẳn tôi đã sai. Hẳn nhiên, sự thấu hiểu sâu sắc của cô về chị gái mình làm cho vế sau trở nên hợp lý hơn. Nếu quả là vậy, nếu tôi đã bị một sai lầm như thế che mắt để rồi gây ra nỗi đau cho cô ta, thì sự oán giận của cô hoàn toàn có cơ sở. Nhưng tôi không ngần ngại khẳng định rằng, sự thanh thản trong nét mặt và dáng điệu của cô ta có thể khiến một người quan sát tinh tường nhất tin chắc một điều: dù tính khí có đáng yêu đến đâu, trái tim cô ta dường như không dễ bị lay động. Việc tôi ao ước tin vào sự thờ ơ của cô ta là sự thật; nhưng tôi dám chắc rằng những cuộc dò xét và định kiến của tôi thường không bị chi phối bởi mong mỏi hay nỗi sợ hãi của riêng mình. Tôi không tin cô ta thờ ơ chỉ vì tôi muốn thế; tôi tin điều đó dựa trên sự xác tín công tâm, khách quan không kém gì việc tôi mong mỏi nó bằng lý trí. Những lý do tôi phản đối cuộc hôn nhân này không chỉ đơn thuần là sự khác biệt môn đăng hộ đối-điều mà đêm qua tôi đã thừa nhận là đòi hỏi một sức mạnh tình cảm phi thường mới có thể gạt bỏ trong trường hợp của chính tôi; sự chênh lệch gia thế có lẽ không phải là mối đe dọa quá lớn đối với anh ta như với tôi. Nhưng vẫn còn đó những nguyên nhân khác gây ra sự ghê tởm; những nguyên nhân mà, dù vẫn hiện hữu ở mức độ tương đương trong cả hai trường hợp, chính tôi đã cố gắng quên đi, bởi vì chúng không hiển hiện ngay trước mắt. Những nguyên nhân này cần phải được giãi bày, dẫu chỉ là đôi nét. Hoàn cảnh gia đình bên ngoại của cô, tuy đáng chê trách, nhưng chẳng thấm vào đâu so với sự thiếu vắng hoàn toàn các phép tắc chuẩn mực đã diễn ra quá thường xuyên, và gần như bị phơi bày đồng loạt bởi chính bà ta, bởi ba cô em gái của cô, và đôi khi bởi cả ông ta:-xin thứ lỗi cho tôi,-việc xúc phạm cô cũng làm tôi đau đớn. Nhưng giữa muôn vàn trăn trở trước những khiếm khuyết của những người ruột thịt, và sự phẫn nộ trước lời nhận xét này, mong cô hãy để một điều mang lại niềm an ủi: việc cô và chị cả đã giữ mình thanh cao để không vấp phải bất kỳ sự chê trách tương tự nào, không chỉ là lời ngợi khen vô cùng xứng đáng dành cho hai chị em, mà còn là một minh chứng rạng rỡ cho lý trí và phẩm hạnh của cả hai. Tôi chỉ xin nói thêm rằng, từ những gì đã diễn ra đêm đó, nhận định của tôi về tất cả các bên đã được củng cố, càng thôi thúc tôi thực hiện những dự định đã nhen nhóm trước đó, nhằm cứu bạn mình khỏi một sự gắn kết mà tôi cho là bất hạnh nhất. Hôm sau anh ta đã rời Netherfield để đến London, chắc hẳn cô còn nhớ, với dự định sẽ sớm quay lại. Vai trò mà tôi đóng trong chuyện này giờ sẽ được làm sáng tỏ. Các chị em gái của anh ta cũng ôm nỗi lo âu ngang bằng với tôi: chúng tôi nhanh chóng nhận ra sự tương đồng trong suy nghĩ; và khi nhận thức được rằng không có thời gian để lãng phí trong việc tách người anh em của họ ra, chúng tôi đã sớm quyết định sẽ trực tiếp gặp anh ta ở London. Theo đó, chúng tôi khởi hành-và ở đó, tôi sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ vạch ra cho bạn mình thấy những tai ương nắm chắc phần mười của một sự lựa chọn như vậy. Tôi đã tha thiết mô tả và nhấn mạnh chúng. Nhưng dẫu cho lời can ngăn này có thể làm anh ta chùn bước hay hoãn lại quyết định, tôi không cho rằng nó có thể ngăn cản được cuộc hôn nhân, nếu không được củng cố bằng lời cam đoan của tôi-điều mà tôi đã không ngần ngại đưa ra-về sự thờ ơ của chị gái cô. Trước đó, anh ta vẫn tin rằng cô ta đáp lại tình cảm của anh ta bằng sự trân trọng chân thành, dẫu không mãnh liệt bằng. Nhưng anh Bingley có bản tính vô cùng khiêm nhường, luôn dựa dẫm vào phán đoán của tôi hơn là của chính mình. Do đó, thuyết phục anh ta rằng anh ta đã tự ảo tưởng không phải là chuyện quá khó. Một khi đã trao trọn niềm tin, việc thuyết phục anh ta không quay lại Hertfordshire gần như chẳng tốn một khoảnh khắc nào. Tôi không tự trách mình vì đã làm những việc đó. Chỉ có một phần trong suốt quá trình ấy khiến tôi không khỏi cắn rứt khi ngẫm lại; đó là việc tôi đã hạ mình dùng đến thủ đoạn giấu nhẹm chuyện cô ta đang ở London. Bản thân tôi đã biết, cũng như cô Bingley đã biết; nhưng anh trai cô ta cho đến tận bây giờ vẫn hoàn toàn không hay biết gì. Dẫu việc họ tình cờ gặp nhau có lẽ cũng chẳng gây ra hậu quả tồi tệ nào; nhưng tình cảm của anh ta dường như vẫn chưa đủ nguội lạnh để đối mặt với cô ta mà không vướng phải hiểm nguy. Có lẽ sự giấu giếm, sự ngụy tạo này là hèn mọn đối với một kẻ như tôi. Tuy nhiên, nó đã được thực hiện, và được thực hiện vì những điều tốt đẹp nhất. Về chuyện này, tôi không còn gì để giãi bày, không còn lời bào chữa nào để đưa ra. Nếu tôi đã vô tình làm tổn thương cảm xúc của cô ta, thì đó hoàn toàn là điều ngoài ý muốn; và dẫu những động cơ thúc đẩy tôi, trong mắt cô, có thể chẳng mấy chính đáng, tôi vẫn chưa thể học được cách lên án chúng.-Về lời buộc tội còn lại, nặng nề hơn, rằng tôi đã hủy hoại hắn Wickham, tôi chỉ có thể bác bỏ bằng cách phơi bày trước mắt cô toàn bộ mối quan hệ của hắn ta với gia đình tôi. Về những tội danh mà hắn ta đã đặc biệt gán cho tôi, tôi không hề hay biết; nhưng về sự thật của những gì tôi sắp kể, tôi có thể triệu tập không chỉ một nhân chứng với nhân cách không thể nghi ngờ. Hắn Wickham là con trai của một người đàn ông vô cùng đáng kính, người đã cai quản toàn bộ điền trang ở Pemberley trong nhiều năm. Sự tận tụy và năng lực của ông trong việc thực thi sứ mệnh đã tự nhiên khơi dậy lòng tốt trong cha tôi; và với George Wickham, đứa con đỡ đầu của ông, sự hào phóng ấy đã được ban phát rộng rãi. Cha tôi đã chu cấp cho hắn ăn học ở trường, và sau đó là tại Cambridge; một sự bảo trợ mang tính bước ngoặt, bởi cha ruột hắn, luôn túng quẫn vì thói tiêu xài hoang phí của vợ, hẳn sẽ chẳng bao giờ lo nổi cho hắn một nền giáo dục của một quý tộc. Cha tôi không chỉ yêu mến sự bầu bạn của chàng trai trẻ với những cung cách đầy sức hút này, ông còn đánh giá hắn rất cao, và dự định sẽ thu xếp cho hắn một vị trí trong nhà thờ. Về phần mình, đã rất nhiều năm trôi qua kể từ khi tôi bắt đầu nhìn nhận hắn ta bằng một con mắt hoàn toàn khác. Những thói hư tật xấu, sự thiếu vắng chuẩn mực đạo đức mà hắn đã khéo léo che giấu khỏi vị ân nhân lớn nhất đời mình, không thể nào qua mắt được một chàng trai cùng trang lứa, người có cơ hội quan sát hắn trong những khoảnh khắc buông thả nhất-điều mà cha tôi không thể có. Đến đây, tôi lại một lần nữa làm cô tổn thương-tới mức độ nào thì chỉ có cô mới biết. Nhưng dẫu thứ tình cảm mà hắn Wickham nhen nhóm trong cô có là gì, một sự ngờ vực về bản chất của chúng cũng không thể ngăn tôi lột mặt nạ của hắn. Nó thậm chí còn bồi đắp thêm cho tôi một lý do. Người cha vĩ đại của tôi đã qua đời cách đây năm năm; và sự gắn bó của ông với hắn Wickham bền bỉ đến tận phút cuối cùng, đến mức trong di chúc, ông đặc biệt căn dặn tôi phải thúc đẩy sự nghiệp của hắn bằng mọi khả năng, và nếu hắn thụ phong linh mục, ông mong muốn một giáo xứ giá trị của gia đình1 sẽ được trao cho hắn ngay khi vị trí bị bỏ trống. Ngoài ra còn có một khoản thừa kế trị giá một ngàn bảng. Cha ruột của hắn cũng qua đời không lâu sau đó; và chỉ trong vòng nửa năm kể từ những biến cố này, hắn Wickham viết thư thông báo rằng hắn đã quyết định từ bỏ con đường giáo sĩ, và hy vọng tôi sẽ không thấy phi lý khi hắn mong mỏi một khoản hỗ trợ tiền bạc ngay lập tức, thay vì trông chờ vào một sự nghiệp mà hắn không thể dấn thân. Hắn bồi thêm rằng hắn có ý định học luật, và tôi ắt phải hiểu rằng khoản tiền lãi từ một ngàn bảng Anh sẽ là một sự hỗ trợ vô cùng ít ỏi. Dù trong lòng muốn tin nhưng thực chất tôi lại hoài nghi sự chân thành của hắn; tuy nhiên, tôi đã hoàn toàn sẵn lòng chấp thuận đề nghị này. Tôi biết rõ hắn Wickham không bao giờ nên trở thành một mục sư. Vì thế, mọi chuyện được dàn xếp êm thấm. Hắn từ bỏ mọi yêu sách liên quan đến nhà thờ, đổi lại, hắn nhận ba ngàn bảng. Mọi mối liên hệ giữa chúng tôi dường như bị cắt đứt từ đó. Tôi coi thường hắn ta đến mức không bao giờ mời hắn đến Pemberley, hay chấp nhận sự hiện diện của hắn ở London. Tại London, tôi tin rằng hắn chủ yếu đắm chìm trong khoái lạc, còn việc học luật chỉ là tấm bình phong; và giờ đây khi đã thoát khỏi mọi gông cùm kiềm tỏa, cuộc đời hắn trượt dài trong sự lười biếng và trác táng. Suốt ba năm trời, tôi hiếm khi nghe tin tức về hắn; nhưng khi vị mục sư đương nhiệm của giáo xứ vốn dĩ dành cho hắn qua đời, hắn lại gửi thư nài nỉ xin được tiến cử. Hắn quả quyết với tôi, và tôi chẳng chút hoài nghi, rằng hoàn cảnh của hắn đang vô cùng khốn đốn. Hắn nhận ra ngành luật chẳng mang lại chút lợi lộc nào, và giờ đây đã hạ quyết tâm thụ phong, nếu tôi đồng ý giao cho hắn giáo xứ kia-một điều mà hắn tự tin cho rằng chẳng có gì phải bàn cãi, bởi hắn đinh ninh tôi chưa tìm được ai thay thế, và không đời nào tôi lại dám quên đi di nguyện của người cha quá cố. Cô khó lòng mà trách cứ tôi vì đã từ chối yêu sách đó, hay vì đã dập tắt mọi ý định lặp lại nó của hắn. Cơn phẫn nộ của hắn tỉ lệ thuận với sự khốn cùng của bản thân-và hắn chắc chắn đã điên cuồng lăng mạ tôi với người khác, cay độc chẳng kém gì những lời nhục mạ hắn giáng thẳng vào mặt tôi. Sau sự kiện này, mọi lớp vỏ bọc quen biết đều bị xé toạc. Hắn sống mòn ra sao, tôi không rõ. Nhưng mùa hè năm ngoái, hắn lại một lần nữa xoáy sâu vào tâm trí tôi theo một cách vô cùng đau đớn. Giờ đây tôi buộc phải nhắc đến một sự tình mà chính bản thân tôi cũng ước mình có thể xóa nhòa, và nếu không vì nghĩa vụ bắt buộc, sẽ chẳng đời nào tôi phơi bày cho một ai khác. Đã nói đến nước này, tôi không mảy may nghi ngờ về sự kín tiếng của cô. Em gái tôi, người kém tôi hơn mười tuổi, đã được giao phó cho tôi và anh họ Fitzwilliam-cháu trai của mẹ tôi-cùng giám hộ. Khoảng một năm trước, em được cho nghỉ học, và một cơ ngơi được thiết lập cho em ở London; mùa hè năm ngoái, em cùng với quý bà quản gia đến Ramsgate; và hắn Wickham cũng theo chân đến đó, chắc chắn là có chủ đích; bởi hóa ra giữa hắn và bà Younge đã có một sự giao du từ trước, người mà chúng tôi đã lầm tin một cách tai hại. Dưới sự đồng lõa của bà ta, hắn đã tiếp cận Georgiana. Trái tim ngây thơ trìu mến của con bé vẫn in đậm những ký ức về sự tử tế hắn dành cho em thuở bé, đến mức em bị dụ dỗ, tin rằng mình đang yêu và dại dột đồng ý bỏ trốn. Khi ấy em mới mười lăm tuổi, độ tuổi có lẽ là lời bào chữa duy nhất; và sau khi vạch trần sự bồng bột của em, tôi rất đỗi vui mừng nói thêm rằng, tôi biết được sự thật là nhờ chính con bé. Tôi đột ngột ghé thăm họ một hoặc hai ngày trước cuộc chạy trốn theo dự kiến; và rồi Georgiana, không thể chịu đựng nổi viễn cảnh làm đau buồn và xúc phạm một người anh trai mà em nhất mực kính trọng như cha, đã thú nhận toàn bộ sự thật với tôi. Cô có thể tưởng tượng được tôi đã cảm thấy thế nào và đã hành động ra sao. Sự tôn trọng đối với danh dự và cảm xúc của em gái đã ngăn tôi làm lớn chuyện; nhưng tôi đã viết thư cho hắn Wickham, kẻ đã phải cuốn gói khỏi nơi đó ngay lập tức, và bà Younge tất nhiên bị tống cổ khỏi vị trí. Mục tiêu tối thượng của hắn Wickham không gì khác ngoài khối tài sản ba mươi ngàn bảng của em gái tôi; nhưng tôi không thể không tin rằng, khát kho trả thù tôi cũng là một động cơ mãnh liệt. Nếu trót lọt, sự trả thù của hắn quả thực đã quá đỗi trọn vẹn. Thưa cô, đây là bản tường trình chân thực nhất về mọi sự vụ liên quan giữa chúng tôi; và nếu cô không vứt bỏ nó như một thứ dối trá bịa đặt, tôi hy vọng từ nay về sau cô sẽ tuyên bố tôi trắng án, thoát khỏi cái mác tàn nhẫn với hắn Wickham. Tôi không biết bằng thứ ma thuật dối trá nào hắn đã qua mặt cô; nhưng sự trót lọt của hắn có lẽ chẳng đáng ngạc nhiên, khi mà cô vốn không hề biết một chút gì về những câu chuyện của cả hai bên. Chạm đến sự thật là điều vượt quá khả năng của cô, và sự ngờ vực chắc chắn không nằm trong bản tính của cô. Cô có thể thắc mắc tại sao tất cả những uẩn khúc này không được phơi bày vào đêm qua. Nhưng khi đó, tôi chưa đủ làm chủ được bản thân để cân nhắc xem điều gì nên hay không nên nói ra. Về tính xác thực của những gì được viết ở đây, tôi có thể viện dẫn một cách đặc biệt đến lời chứng của anh họ Fitzwilliam, người nhờ vào mối thân tình họ hàng khăng khít, và trên cương vị một trong những người thi hành di chúc của cha tôi, đã không thể không nắm rõ từng chân tơ kẽ tóc của những giao dịch này. Nếu sự ghê tởm cô dành cho tôi khiến những lời khẳng định của tôi trở nên vô giá trị, thì ác cảm đó cũng không thể ngăn cản cô tin tưởng vào người anh họ của tôi; và để cô có cơ hội tham khảo ý kiến của anh ấy, tôi sẽ tìm cách trao tận tay cô bức thư này ngay trong sáng nay. Tôi chỉ xin nói thêm, cầu Chúa ban phước lành cho cô.”

“Fitzwilliam Darcy.”



  1. Trong xã hội Anh thế kỷ 19, hệ thống quyền bảo trợ (advowson) cho phép các điền chủ quý tộc có quyền chỉ định người đảm nhiệm vai trò mục sư cho các giáo xứ thuộc vùng đất của họ. Vị trí này (living) mang lại nhà ở và thu nhập ổn định suốt đời từ giáo dân, thường được dùng như một bệ phóng sự nghiệp danh giá để ban phát cho con em trong gia đình hoặc những người được sủng ái.