Chương I. BA MÓN QUÀ CỦA ÔNG D'ARTAGNAN
Vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Tư năm 1625, khu chợ tại thị trấn Meung - quê hương của tác giả cuốn Romance of the Rose1 - náo động ngùn ngụt cứ như thể phe Huguenot2 vừa biến nơi này thành một La Rochelle3 thứ hai. Thấy đám đàn bà con gái hớt hải bỏ chạy về phía phố chính, bỏ mặc những đứa trẻ rền rĩ khóc bên những cánh cửa bỏ ngỏ, đám thị dân tức tốc xách áo giáp ra mặc. Để trấn an lòng can đảm đang đôi phần chao đảo, họ vớ lấy khẩu súng hỏa mai hay cây kích rồi rảo bước thẳng tiến đến quán trọ Jolly Miller. Ngay trước cửa quán, một đám đông đặc kịt đang xúm đen xúm đỏ, mỗi lúc một huyên náo và sục sôi tò mò.
Thuở ấy, những cơn hoảng loạn nhường này vốn dĩ như cơm bữa. Chẳng mấy ngày trôi qua mà vắng bóng những sự kiện tương tự được chép vào sử biên niên của một thành phố nào đó. Nào là giới quý tộc choảng nhau sứt đầu mẻ trán; nhà vua đối đầu với hồng y; hay Tây Ban Nha nhăm nhe sinh sự với nhà vua. Bên cạnh những cuộc giao tranh dù ngấm ngầm hay công khai, rình rang hay bí mật ấy, lại còn đám lục lâm thảo khấu, bọn ăn mày, phe Huguenot, lũ chó sói và những phường vô lại sẵn sàng gây hấn với bất cứ ai. Đám thị dân lúc nào cũng lăm lăm vũ khí để chống trộm cướp, chó sói hay bọn thảo khấu. Họ thường xuyên đương cự với giới quý tộc hay phe Huguenot, đôi bận còn dám chống lại cả nhà vua, nhưng tuyệt nhiên chẳng bao giờ dám động đến hồng y hay người Tây Ban Nha. Dựa trên nếp nghĩ ấy, vào cái ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Tư năm 1625, vừa nghe tiếng ồn ào mà chẳng thấy bóng dáng lá cờ đỏ vàng hay đạo quân của Công tước Richelieu đâu, dân tình liền ùn ùn kéo đến quán trọ Jolly Miller. Vừa đặt chân đến nơi, nguyên cớ của vụ náo loạn đã phơi bày tỏ tường.
Tâm điểm là một chàng thanh niên mà ta có thể phác họa đôi nét chân dung. Hãy thử mường tượng ra một chàng Don Quixote4 trạc mười tám tuổi; một Don Quixote chẳng có giáp ngực, giáp lưới hay giáp đùi bảo vệ. Đó là một Don Quixote khoác chiếc áo doublet5 bằng len, với tông màu xanh đã bợt bạt thành một thứ sắc độ nhợt nhạt pha lẫn giữa màu cặn rượu vang và xanh da trời. Gương mặt cậu dài và ngăm đen. Gò má cao vót - dấu hiệu của một trí tuệ sắc sảo. Cơ hàm bành ra mạnh mẽ - một nét đặc trưng không lẫn vào đâu được của người vùng Gascon6, kể cả khi họ để đầu trần. Nhưng chàng thanh niên của chúng ta lại đang đội một chiếc mũ điểm xuyết một cọng lông chim. Đôi mắt cậu mở to, ánh lên vẻ thông minh nhạy bén. Chiếc mũi khoằm song lại mang những đường nét thanh tú lạ thường. Vóc dáng cậu quá khổ so với một thiếu niên, song lại chưa đủ độ vạm vỡ của một người đàn ông trưởng thành. Một ánh mắt sành sỏi hẳn đã nhầm cậu với con trai của một gã nông dân đang khăn gói đi xa, nếu như không có thanh trường kiếm lủng lẳng trên chiếc đai da đeo chéo. Mỗi bước cậu đi, thanh kiếm lại cứ cọ vào bắp chân chủ nhân, và những lúc cậu cưỡi ngựa, nó lại quật thình thịch vào phần hông bờm xờm của con vật.
Chàng thanh niên của chúng ta đang cưỡi một con chiến mã thực sự thu hút mọi ánh nhìn. Đó là giống ngựa lùn vùng Béarn, áng chừng mười hai đến mười bốn tuổi. Con vật mang bộ lông màu vàng ệch, chiếc đuôi trụi lủi đến mức chẳng còn lấy một cọng lông, trong khi đôi chân lại nổi đầy những nốt sưng tấy. Mỗi lần lê bước, đầu nó cứ gục xuống thấp hơn cả đầu gối, khiến cho cái dây cương phụ trở nên thừa thãi. Thế nhưng, con vật vẫn ì ạch lê lết được tám dặm mỗi ngày. Khốn nỗi, những phẩm chất nhẫn nại ấy lại bị che khuất quá kỹ dưới bộ lông có màu sắc quái đản và dáng điệu nực cười. Đến độ, giữa một thời đại mà ai nấy đều tự xưng là chuyên gia xem tướng ngựa, sự xuất hiện của con ngựa lùn này tại Meung - khi nó vừa lọt qua cổng Beaugency độ mười lăm phút trước - đã tạo ra một ấn tượng chẳng mấy thiện cảm. Và cái ấn tượng tồi tệ ấy lại lây luôn sang cả chủ nhân của nó.
Điều này càng khiến chàng D'Artagnan trẻ tuổi - đó chính là tên của chàng Don Quixote trên lưng con ngựa Rosinante phiên bản hai này - thêm phần rầu rĩ. Dẫu có là một tay cưỡi ngựa cừ khôi đến mấy, cậu cũng thừa biết con vật này mang lại cho mình một vẻ ngoài kệch cỡm đến nhường nào. Do đó, cậu đã thở dài sườn sượt khi nhận lấy món quà này từ tay cha mình, ông D'Artagnan. Cậu thừa hiểu một con vật tàn tạ nhường ấy họa chăng chỉ đáng giá đôi mươi livre7; thế nhưng, những lời răn dạy đi kèm với món quà ấy lại quý giá ngàn vàng.
"Con trai," vị quý tộc già vùng Gascon cất lời bằng chất giọng Béarn đặc sệt, thứ âm sắc mà Vua Henry IV chẳng bao giờ rũ bỏ được, "con ngựa này đã cất tiếng hí chào đời tại cơ ngơi của chúng ta chừng mười ba năm trước. Từ dạo đó đến nay, nó vẫn luôn gắn bó với gia đình ta, chỉ riêng điều ấy thôi cũng đủ để con phải trân quý nó. Đừng bao giờ bán nó đi. Hãy để nó được nhắm mắt xuôi tay trong bình yên và kiêu hãnh khi bóng xế tuổi già ập đến. Nếu con cưỡi nó ra trận mạc, hãy chăm bẵm nó ân cần như đối đãi với một lão bộc trung thành. Còn ở chốn cung đình, nếu con may mắn được đặt chân tới đó," ông D'Artagnan tiếp lời, "-một vinh dự mà con phải nhớ rằng, chính dòng dõi quý tộc lâu đời của chúng ta đã ban cho con đặc quyền ấy-hãy gìn giữ cho trọn vẹn danh xưng quý tộc của mình. Đó là tước vị mà tổ tiên ta đã hiên ngang mang vác suốt năm trăm năm ròng, vì phẩm giá của chính con và vì cả những người thân thuộc. Thân thuộc ở đây, ý cha là gia quyến và bằng hữu của con. Đừng cam chịu sự xấc xược từ bất cứ kẻ nào, ngoại trừ ngài Hồng y và đức Vua. Hãy khắc cốt ghi tâm, vào thời buổi này, một quý tộc chỉ có thể vươn lên bằng lòng can đảm, và duy nhất lòng can đảm mà thôi. Bất kẻ nào trót chần chừ dù chỉ một khắc cũng có thể đánh mất cơ đồ mà nữ thần may mắn vừa hào phóng ban tặng ngay khoảnh khắc ấy. Con còn trẻ. Con phải dũng cảm vì hai lẽ: thứ nhất, con là một người con vùng Gascon, và thứ hai, con là giọt máu của cha. Đừng bao giờ lùi bước trước những cuộc cãi vã, hãy xông xáo tìm kiếm những chuyến phiêu lưu. Cha đã rèn cho con đường gươm mũi kiếm; con lại sở hữu những thớ cơ rắn như sắt, cổ tay cứng như thép. Hãy chiến đấu bất chấp mọi hoàn cảnh. Các lệnh cấm đấu kiếm càng ngặt nghèo, con lại càng phải xông pha, bởi khi ấy, lòng can trường của con sẽ được nhân lên gấp bội. Con trai ạ, cha chẳng có gì để trao cho con ngoài mười lăm đồng crown8, con ngựa già này và những lời răn dạy mà con vừa nghe. Mẹ con sẽ gói ghém thêm cho con công thức của một loại thuốc mỡ nhiệm màu. Bà đã học được nó từ một người Bohemian9, với khả năng kỳ diệu có thể chữa lành mọi vết thương, miễn là chưa đâm thấu tim. Hãy tận dụng tất thảy những thứ đó, sống thật hạnh phúc và trường thọ. Cha chỉ muốn răn thêm một lời, đó là trao cho con một tấm gương để soi chiếu-không phải là cha, bởi cha chưa từng ló mặt chốn cung đình, mà chỉ góp mặt vào những cuộc chiến tranh tôn giáo với tư cách một quân tình nguyện. Tấm gương mà cha nhắc đến là ngài de Tréville, một người từng là láng giềng của cha. Thuở thiếu thời, ngài ấy có vinh hạnh được làm bạn nối khố với đức Vua Louis XIII của chúng ta, nguyện xin Chúa chở che người! Có đôi bận, những trò chơi con trẻ của họ biến thành những trận ẩu đả, và trong những trận kịch chiến ấy, đức Vua chẳng phải lúc nào cũng nắm phần thắng. Những đòn đau mà người nếm trải lại càng thắt chặt thêm sự nể trọng và tình bằng hữu mà người dành cho ngài de Tréville. Về sau, ngài de Tréville còn giao kiếm với biết bao kẻ khác: năm bận trong chuyến đi đầu tiên đến Paris; bảy bận từ lúc tiên đế băng hà cho đến khi vị vua trẻ tuổi khoác áo bào trưởng thành - đó là chưa kể đến những cuộc chiến và những trận vây hãm gắt gao; và từ đó đến nay, ắt hẳn phải đến cả trăm lần! Chính vì thế, mặc cho các sắc lệnh, chỉ thị hay luật lệ có bủa vây, ngài ấy vẫn sừng sững ở đó, chễm chệ ở ngôi vị Đội trưởng Đội lính ngự lâm. Nói cách khác, ngài ấy là thủ lĩnh của một đạo quân gồm toàn những võ tướng uy dũng, những người được đức Vua hết lòng kính trọng và khiến cho ngài Hồng y phải dè chừng-mặc dù ngài Hồng y vốn được đồn đại là chẳng biết sợ hãi điều gì. Đáng nể hơn, ngài de Tréville còn thu về mười ngàn crown mỗi năm. Ngài ấy quả là một nhà quý tộc quyền thế. Và ngài ấy cũng bắt đầu từ hai bàn tay trắng như con lúc này đây. Hãy đem bức thư này đến trình ngài ấy, lấy ngài ấy làm tấm gương sáng để rồi một ngày con cũng sẽ làm nên đại nghiệp như ngài ấy đã làm."
Nói đoạn, ông D'Artagnan tự tay đeo thanh kiếm của chính mình cho con trai, âu yếm hôn lên hai má cậu và nghẹn ngào ban phước lành.
Vừa bước ra khỏi phòng cha, chàng thanh niên đã thấy mẹ mình chực sẵn cùng công thức của loại thuốc mỡ trứ danh - thứ mà những lời khuyên răn kia ngụ ý cậu sẽ phải cần đến rất nhiều. Cảnh chia ly ở phía này lại càng não nề và đẫm lệ hơn nhiều so với trước đó. Chẳng phải do ông D'Artagnan không thương đứa con trai độc nhất của mình, mà bởi ông là một người đàn ông, và ông cho rằng việc bộc lộ cảm xúc mướt mát là điều không đáng mặt nam nhi. Trong khi đó, bà D'Artagnan lại là một người phụ nữ, và trên hết, bà là một người mẹ. Bà khóc nức nở. Và - cũng phải dành lời khen cho chàng D'Artagnan trẻ tuổi - bất chấp mọi nỗ lực gồng mình để giữ vẻ sắt đá như một người lính ngự lâm tương lai phải thế, bản năng tự nhiên đã phá vỡ mọi hàng rào phòng ngự. Cậu đã rơi vô vàn giọt nước mắt, dù đã phải gồng mình gắng sức để giấu giếm đi một nửa sự mềm yếu ấy.
Ngay trong ngày hôm đó, chàng thanh niên hăm hở lên đường, mang theo ba món bảo vật của cha mình. Như chúng tôi đã kể, hành trang đó bao gồm mười lăm đồng crown, con ngựa già và bức thư tay gửi ngài de Tréville - tất nhiên là kèm theo cả một kho tàng những lời răn dạy.
Với chút hành trang ít ỏi ấy, D'Artagnan thực sự hiện lên như một bản sao hoàn hảo, cả về thể chất lẫn tinh thần, của vị anh hùng trong kiệt tác của Cervantes. Sự so sánh này mang lại cho chúng tôi không ít niềm vui khi bổn phận của một sử gia buộc chúng tôi phải khắc họa nên chân dung cậu. Nếu như Don Quixote nhầm tưởng cối xay gió là những gã khổng lồ vạm vỡ, bầy cừu là những đạo quân hùng hậu; thì D'Artagnan lại coi mọi nụ cười là một sự phỉ báng, và mọi ánh nhìn là một lời thách thức. Hậu quả là, suốt dọc chặng đường từ Tarbes đến Meung, nắm đấm của cậu lúc nào cũng cuộn chặt, hoặc bàn tay luôn lăm lăm chực chờ trên chuôi kiếm. Tuy thế, nắm đấm ấy chưa từng có cơ hội nện xuống hàm ai, và thanh kiếm nọ cũng chưa một lần tuốt khỏi vỏ. Chẳng phải cảnh tượng con ngựa lùn thảm hại kia không đủ sức khơi gợi vô số trận cười mỉa mai từ những kẻ qua đường. Song, bởi lủng lẳng bên hông con vật tàn tạ ấy lại là một thanh trường kiếm vô cùng gớm ghiếc, và phía trên thanh kiếm nọ lại lóe lên một ánh mắt dữ dằn bặm trợn hơn là kiêu ngạo. Kẻ qua người lại đành phải nuốt ngược tiếng cười vào trong. Hoặc giả, nếu thói cợt nhả có lỡ lấn át sự cẩn trọng, họ cũng đành cố rặn ra một nụ cười nhếch mép gượng gạo, y hệt như những chiếc mặt nạ cổ đại. Nhờ vậy, D'Artagnan vẫn giữ được trọn vẹn sự oai phong và lòng tự tôn ngút ngàn của mình, cho tới tận khoảnh khắc cậu đặt chân đến cái thành phố Meung đen đủi này.
Thế nhưng, khi vừa xuống ngựa trước cổng quán Jolly Miller, D'Artagnan chẳng thấy bóng dáng chủ quán, bồi bàn hay gã coi ngựa nào ra đón lấy dây cương. Qua khung cửa sổ để ngỏ ở tầng trệt, cậu thoáng thấy một vị quý ông vóc dáng cân đối, phong thái đĩnh đạc dù nét mặt có phần nghiêm nghị, đang trò chuyện cùng hai kẻ bàng quan. Bọn họ đang chăm chú lắng nghe ngài ta với thái độ vô cùng cung kính. Theo thói quen, D'Artagnan tự nhủ mình hẳn là chủ đề của cuộc bàn tán kia, thế nên cậu vểnh tai nghe ngóng. Lần này, cậu chỉ nhầm một nửa: bản thân cậu không phải là tâm điểm, mà chính là con ngựa của cậu. Vị quý ông nọ dường như đang mổ xẻ từng điểm đặc biệt của con vật cho đám thính giả nghe; và, như đã nói, vì đám người kia vô cùng nể trọng người kể chuyện, nên cứ dăm ba câu họ lại phá lên cười sảng khoái. Vốn dĩ, chỉ một nửa nụ cười mỉa mai cũng đủ châm ngòi cho cơn thịnh nộ của chàng thiếu niên, nên ta có thể dễ dàng mường tượng ra trận cười cợt ầm ĩ kia đã đả kích cậu nhường nào.
Dù vậy, D'Artagnan vẫn muốn quan sát xem diện mạo kẻ xấc xược đang chế nhạo mình ra sao. Cậu phóng ánh mắt kiêu ngạo về phía kẻ lạ mặt, nhận ra đó là một người đàn ông trạc bốn mươi đến bốn mươi lăm tuổi. Y mang đôi mắt đen thẳm sắc sảo, nước da nhợt nhạt, chiếc mũi cao nổi bật cùng bộ ria mép đen nhánh được tỉa tót vô cùng cẩn thận. Ngài ta diện một chiếc áo doublet và quần ống túm màu tím, đính những dải dây buộc cùng màu, chẳng có thêm món đồ trang sức nào ngoại trừ vài đường xẻ quen thuộc để lộ lớp áo sơ mi lót bên trong. Bộ y phục này tuy còn mới nhưng đã nhàu nhĩ, tựa như đồ đi đường bị nhồi nhét quá lâu trong túi xách. D'Artagnan thu trọn tất cả những chi tiết ấy vào tầm mắt với tốc độ của một kẻ quan sát sành sỏi. Chắc hẳn cậu mơ hồ linh cảm rằng kẻ lạ mặt này đã được định sẵn sẽ mang đến những ảnh hưởng lớn lao cho cuộc đời cậu sau này.
Đúng lúc D'Artagnan dán chặt mắt vào vị quý ông áo tím, thì ngài ta lại buông thêm một lời bình phẩm ra chiều sâu sắc và uyên bác nhất về con ngựa lùn vùng Béarn. Hai kẻ chầu chực lại được dịp cười rống lên to hơn trước, và ngay cả bản thân vị quý ông, dù trái với thói quen thường ngày, cũng để lướt qua một nụ cười nhạt (nếu tôi được phép dùng từ này) trên gương mặt. Lần này thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa; D'Artagnan đã thực sự bị xúc phạm. Chắc mẩm như vậy, cậu kéo sụp vành mũ xuống che khuất đôi mắt, cố ra vẻ bắt chước những điệu bộ cung đình mà cậu từng học lỏm được từ các tay quý tộc trẻ đi ngang qua vùng Gascony. Cậu sải bước tiến lên, một tay đặt hờ lên chuôi kiếm, tay kia chống nạnh. Ác thay, cậu càng bước tới, cơn thịnh nộ trong lòng càng sục sôi theo từng nhịp chân. Thành thử, thay vì buông lời thách đấu bằng một bài diễn thuyết đĩnh đạc và cao ngạo như đã chuẩn bị sẵn trong đầu, cậu lại chẳng thốt lên được gì ngoài một câu mắng chửi thô thiển, kèm theo một cử chỉ sặc mùi hằn học.
"Này, ông kia, cái ông đang nấp sau cánh cửa chớp kia-đúng, ông đấy, nói cho tôi biết ông đang cười cái gì, để chúng ta sẽ cùng cười xem nào!"
Vị quý ông từ từ dời mắt khỏi con ngựa ranh mãnh, hờ hững lướt nhìn chủ nhân của nó, tựa hồ đang cần chút thời gian để cân nhắc xem mấy lời xấc xược kỳ quái kia có phải đang nhắm vào mình hay không. Và rồi, khi đã chắc mẩm mình chính là mục tiêu, ngài ta khẽ nhíu mày. Bằng một giọng điệu mỉa mai và trịch thượng đến khó tả, ngài buông lời: "Ta không nói chuyện với nhà ngươi."
"Nhưng ta đang nói chuyện với ông!" chàng thiếu niên vặc lại, càng lúc càng cáu tiết trước sự pha trộn đến kỳ dị giữa vẻ ngạo mạn và phong thái tao nhã, giữa phép lịch sự và sự khinh khỉnh của kẻ kia.
Kẻ lạ mặt liếc nhìn cậu một lần nữa kèm theo một nụ cười nhếch mép, đoạn quay lưng rời khỏi cửa sổ. Ngài thong thả bước ra khỏi quán trọ, đứng ngay trước mặt con ngựa, chỉ cách D'Artagnan độ hai bước chân. Thái độ dửng dưng cùng nét mặt mỉa mai của ngài lại càng làm đám thính giả vẫn đang đứng hóng chuyện bên bậu cửa sổ thêm phần khoái trá.
Thấy kẻ kia tiến lại gần, D'Artagnan lập tức tuốt thanh kiếm ra khỏi vỏ chừng một tấc.
"Con ngựa này, nói đúng hơn là vào cái thời nó còn tơ, rõ ràng mang màu của loài hoa bơ vàng," kẻ lạ mặt vẫn thản nhiên tiếp tục những lời bình phẩm còn dang dở. Ngài hướng mắt về phía đám thính giả bên cửa sổ, chẳng buồn đoái hoài đến cục tức đang phình to của D'Artagnan, dù cậu đang đứng chắn ngay giữa bọn họ. "Đó là một màu sắc cực kỳ phổ biến trong giới thực vật, nhưng từ trước đến nay lại vô cùng hiếm thấy ở loài ngựa."
"Có những kẻ dư sức cười nhạo một con ngựa nhưng lại chẳng có gan cười nhạo chủ nhân của nó!" chàng thiếu niên đem lòng sùng bái ngài de Tréville gầm lên tức tối.
"Ta vốn không thường hay cười đâu, cậu ạ," kẻ lạ mặt đáp lời, "như cậu có thể thấy rõ qua nét mặt của ta đấy; thế nhưng ta vẫn giữ cho mình cái đặc quyền được cười mỗi khi ta thích."
"Còn ta," D'Artagnan quát lớn, "sẽ không cho phép bất cứ kẻ nào dám cười cợt khi điều đó làm ta gai mắt!"
"Thật vậy sao, cậu trai?" kẻ lạ mặt vẫn tiếp lời, điềm nhiên hơn bao giờ hết. "Ồ, vậy thì hoàn toàn hợp lý rồi!" Ngài xoay gót, toan bước trở vào quán trọ qua ngả cổng chính. Nơi đó, ngay từ lúc mới đặt chân tới, D'Artagnan đã tinh mắt để ý thấy một con ngựa khác đã được nai nịt yên cương sẵn sàng.
Nhưng D'Artagnan nào phải kiểu người chịu để cho kẻ có gan bêu rếu mình lại dễ dàng quay lưng bỏ đi như vậy. Cậu tuốt trần thanh kiếm, lao theo ngài ta và hét lên: "Quay lại, quay mặt lại đây, thằng hề kia, kẻo ta đâm một nhát từ phía sau đấy!"
"Đâm ta ư!" kẻ kia thốt lên, lập tức xoay người lại, găm vào chàng thiếu niên một cái nhìn pha lẫn giữa sự ngạc nhiên và nỗi khinh bỉ. "Chà, anh bạn hiền, ngươi điên thật rồi!" Rồi, bằng một chất giọng trầm thấp, tựa hồ đang lầm bầm với chính mình, ngài ta lấp lửng: "Thật phiền phức. Rõ là một món quà trời ban cho bệ hạ, ngài ấy vẫn luôn mỏi mắt tìm kiếm khắp nơi những gã choai choai liều lĩnh để sung vào đội Lính ngự lâm của mình!"
Ngài vừa dứt lời, D'Artagnan đã lồng lộn lao vào tung một cú đâm trí mạng. Nếu kẻ lạ mặt không lùi lại kịp thời, có lẽ đó đã là lần cuối cùng ngài được giở trò cợt nhả. Mãi tới lúc này mới nhận ra cớ sự đã đi quá giới hạn của một trò trêu chọc thường tình, ngài bèn tuốt kiếm, chào đối thủ và nghiêm cẩn vào thế thủ. Nhưng đúng vào khoảnh khắc ấy, hai gã thính giả bợ đỡ cùng với lão chủ quán đã xông ra, dùng gậy gộc, xẻng và cả kẹp gắp than quật tới tấp vào người D'Artagnan. Màn đánh lén này diễn ra chớp nhoáng và triệt để đến mức, trong lúc D'Artagnan phải cuống cuồng quay lại chống đỡ cơn mưa đòn giáng xuống đầu mình, thì đối thủ của cậu đã tra kiếm vào vỏ với một động tác gọn gàng, chuẩn xác. Và thế là, thay vì sắm vai một võ sĩ trên võ đài như suýt chút nữa ngài đã làm, ngài lại lùi bước trở thành một khán giả ung dung thưởng lãm trận đòn-một vai diễn được ngài thể hiện bằng thái độ dửng dưng quen thuộc, buông lời lầm bầm: "Lũ Gascon chết tiệt! Ném hắn trở lại lưng con ngựa màu cam của hắn rồi tống khứ đi cho khuất mắt!"
"Chưa đâu, chừng nào ta còn chưa kết liễu mạng ông, đồ hèn nhát!" D'Artagnan gầm lên, gắng sức bày ra bộ mặt hung tợn nhất có thể. Cậu không hề chùn bước trước ba kẻ tấn công đang thi nhau giáng những đòn chí tử lên người mình.
"Lại thêm một thói khoác lác rặc mùi Gascon nữa!" vị quý ông lầu bầu. "Thề có danh dự, bọn Gascon này đúng là hết thuốc chữa! Vậy thì cứ tiếp tục vũ điệu này đi, vì hắn đã muốn thế cơ mà. Khi nào rã rời, may ra hắn mới chịu mở miệng báo cho chúng ta biết rằng hắn đã nếm đòn đủ rồi."
Thế nhưng kẻ lạ mặt đâu hiểu nổi độ ngoan cố của kẻ ngài đang đối mặt; D'Artagnan vốn dĩ chẳng phải loại người biết cúi đầu van xin tha mạng. Trận hỗn chiến kéo dài thêm vài mươi giây nữa; đến khi một cú vung gậy trời giáng quật xuống làm gãy đôi thanh kiếm, cậu mới buông thõng tay làm rơi vũ khí. Cùng lúc đó, một đòn hiểm giáng thẳng vào trán khiến D'Artagnan đổ gục xuống mặt đất bùn lầy, thân mình bê bết máu và gần như bất tỉnh nhân sự.
Đúng lúc này, đám đông từ khắp các ngả bắt đầu tò mò đổ xô đến hiện trường. Lão chủ quán lo sợ rước họa vào thân, vội vã cùng đám gia nhân khiêng người thanh niên bị thương vào trong bếp, nơi cậu được chữa trị thương tích qua loa.
Về phần vị quý ông nọ, ngài rảo bước trở lại vị trí cũ bên bậu cửa sổ, đưa mắt nhìn đám đông hiếu kỳ bằng vẻ thiếu kiên nhẫn. Sự hiện diện dai dẳng của bọn họ rõ ràng đang làm ngài thấy chướng mắt.
"Sao rồi, gã điên đó ra sao rồi?" ngài cất tiếng hỏi, ngoái người lại ngay khi tiếng cửa mở cọt kẹt báo hiệu sự xuất hiện của lão chủ quán. Lão ta vừa bước vào buồng để khúm núm hỏi han xem ngài có hề hấn gì không.
"Ngài vẫn bình an vô sự chứ thưa ngài?" lão chủ quán xuýt xoa cất lời.
"Ồ, vâng! Ta đây hoàn toàn bình yên vô sự, ông lão ạ. Cái ta muốn biết là chuyện gì đã xảy ra với gã choai choai của chúng ta cơ."
"Cậu ta nằm im rồi thưa ngài," lão chủ quán đáp lời, "cậu ta đã ngất lịm đi hoàn toàn."
"Thật vậy sao!" vị quý ông buông lời.
"Nhưng ngay trước khi ngất đi, cậu ta đã cố vắt kiệt chút tàn hơi cuối cùng để thách đấu ngài, và thậm chí còn tuôn ra những lời lăng mạ ngài ngay trong lời thách đấu ấy."
"Chà, tên nhãi này chắc hẳn là hiện thân của ác quỷ rồi!" kẻ lạ mặt khẽ thốt lên.
"Ồ không, thưa ngài, cậu ta chẳng phải ác quỷ gì cho cam đâu," lão chủ quán đáp trả, nở một nụ cười nhếch mép đầy khinh miệt. "Bởi vì trong lúc cậu ta ngất xỉu, bọn tôi đã tiện tay lục soát túi xách của cậu ta và chẳng đào đâu ra được thứ gì ngoài một chiếc áo sơ mi sạch cùng mười một đồng crown. Dẫu vậy, điều đó cũng chẳng thể bịt miệng được cậu ta. Ngay lúc sắp lịm đi, cậu ta vẫn còn cố gào lên rằng nếu chuyện này xảy ra ở chốn Paris, ngài sẽ phải ân hận về sau."
"Thế thì," kẻ lạ mặt lạnh lùng buông lời, "hắn hẳn phải là một vị hoàng tử đang vi hành cải trang."
"Sở dĩ tôi hầu chuyện ngài những điều này, thưa ngài," lão chủ quán lại tiếp lời, "là để ngài có thể đề cao cảnh giác."
"Thế hắn có nhắc đến danh tánh kẻ nào trong cơn tức giận không?"
"Dạ thưa có; cậu ta đập bồm bộp vào túi áo rồi vỗ ngực nói, 'Chúng ta sẽ chống mắt lên xem ngài de Tréville nghĩ sao về việc kẻ được ngài ấy bảo trợ lại bị sỉ nhục thế này.'"
"Ngài de Tréville ư?" kẻ lạ mặt hỏi lại, thái độ bắt đầu lộ rõ sự chú tâm. "Hắn đập tay vào túi áo trong lúc nhắc đến danh xưng ngài de Tréville sao? Này ông lão, trong lúc gã thanh niên bất tỉnh nhân sự, ông hẳn đã không bỏ lỡ cơ hội kiểm tra xem trong cái túi ấy chứa những gì chứ. Có thứ gì ở trong đó vậy?"
"Một phong thư gửi cho ngài de Tréville, ngài đội trưởng đội Lính ngự lâm ạ."
"Thật vậy sao!"
"Đúng y hệt như những gì tôi vừa hân hạnh được thưa với ngài."
Vốn là kẻ chẳng được trời phú cho sự tinh nhạy, lão chủ quán tịnh không nhận thấy nét mặt kẻ lạ mặt chợt biến sắc sau những lời lão vừa thốt ra. Người đàn ông nọ lập tức rời khỏi bậu cửa sổ nơi ngài vừa tì khuỷu tay, đôi lông mày nhíu chặt lại phô bày sự âu lo lộ liễu.
"Chết tiệt!" ngài rít lên qua kẽ răng. "Lẽ nào chính tay Tréville đã phái gã Gascon này đến lùng sục ta? Hắn vắt mũi chưa sạch; nhưng một nhát kiếm vẫn hoàn một nhát kiếm, bất kể kẻ vung nó đang ở độ tuổi nào, và một gã trai tơ thì bao giờ cũng ít gây nghi ngờ hơn một kẻ lão luyện." Nói đoạn, kẻ lạ mặt chìm vào dòng suy tưởng kéo dài đằng đẵng vài phút đồng hồ. "Đôi khi chỉ một chướng ngại cỏn con cũng đủ sức làm lật nhào cả một mưu đồ vĩ đại.
"Này ông lão," ngài cất lời, "ông có thể nghĩ cách tống cổ thằng oắt con rồ dại này đi cho ta được không? Thật lương tâm mà nói, ta không nỡ ra tay tước đoạt mạng sống của hắn; thế nhưng," ngài tiếp lời, phô ra một biểu cảm đe dọa lạnh lùng thấu xương, "hắn đang làm ta vô cùng gai mắt. Hắn hiện đang ở đâu?"
"Dạ, đang ở trong phòng vợ tôi trên tầng một, bọn họ đang lúi húi băng bó vết thương cho cậu ta."
"Hành lý và túi xách của hắn có ở cạnh hắn không? Hắn đã cởi bỏ chiếc áo doublet ra chưa?"
"Hoàn toàn ngược lại thưa ngài, mọi thứ hiện đều nằm trong bếp. Nhưng nếu cái thằng ngốc vắt mũi chưa sạch này dám làm ngài chướng mắt-"
"Chắc chắn là hắn đã làm vậy rồi. Hắn dám gây rối rùm beng ngay trong quán trọ của ông, một hành động xấc xược mà những quý nhân đáng kính không tài nào dung thứ nổi. Thôi đi đi; hãy tính tiền cho ta và ra báo với người hầu của ta một tiếng."
"Sao cơ, thưa ngài, ngài định khởi hành sớm thế sao?"
"Ông thừa biết chuyện đó mà, bởi chính ta đã truyền lệnh thắng yên ngựa rồi cơ mà. Bọn họ vẫn chưa làm theo sao?"
"Dạ xong xuôi cả rồi ạ; như ngài đã thấy, ngựa của ngài hiện đang đứng túc trực ở cổng lớn, đã được nai nịt yên cương sẵn sàng chờ ngài lên đường."
"Rất tốt; vậy thì hãy làm y như những gì ta đã căn dặn."
"Quỷ tha ma bắt!" lão chủ quán thầm nhủ trong bụng. "Có khi nào ngài ấy đâm ra e sợ thằng ranh con này không nhỉ?" Nhưng chỉ một cái liếc mắt đầy uy quyền của kẻ lạ mặt đã đủ khiến lão im bặt; lão khúm núm cúi đầu chào rồi nhanh chóng lui ra ngoài.
"Chẳng có lý do gì để phu nhân Milady phải chạm mặt với tên khố rách áo ôm này," kẻ lạ mặt lại rầm rì một mình. "Bà ấy sẽ đi qua đây sớm thôi; bà ấy đã trễ hẹn rồi. Tốt hơn hết là ta nên lên ngựa đi đón bà ấy. Mặc dù vậy, ta vẫn vô cùng tò mò muốn biết trong phong thư gửi cho Tréville kia rốt cuộc ẩn chứa điều gì." Vừa lẩm nhẩm những toan tính, kẻ lạ mặt vừa rảo bước đi thẳng về phía nhà bếp.
(Chú thích: Chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ rằng danh xưng Milady lẽ ra chỉ được dùng đúng quy chuẩn khi đi kèm với tên họ. Nhưng vì trong bản thảo gốc từ ngữ này đã được viết như vậy, nên chúng tôi không muốn mạn phép tự ý thay đổi).
Trong lúc đó, chủ quán-người không mảy may nghi ngờ rằng chính sự hiện diện của chàng thanh niên đã khiến kẻ lạ mặt phải rời khỏi quán trọ-đã quay lại phòng vợ và thấy D'Artagnan vừa mới tỉnh lại. Bằng cách bóng gió cho cậu hiểu rằng cảnh sát sẽ ra tay khá nặng nề vì tội cố tình gây sự với một vị lãnh chúa quyền quý (vì theo nhận định của lão, kẻ lạ mặt không thể là ai khác ngoài một nhân vật đầy quyền thế), lão nài nỉ rằng bất chấp sức khỏe còn yếu ớt, D'Artagnan nên đứng dậy và rời đi càng sớm càng tốt. Vẫn còn nửa tỉnh nửa mê, trên người chỉ quấn độc mảnh vải lanh quanh đầu mà không có áo doublet, D'Artagnan liền gượng dậy. Dưới sự thúc giục của chủ quán, cậu lê bước xuống cầu thang. Thế nhưng, vừa đến bếp, đập vào mắt cậu là cảnh kẻ thù của mình đang điềm tĩnh trò chuyện bên hông một cỗ xe ngựa nặng nề, được kéo bởi hai con ngựa khổng lồ gốc Norman.
Người đang trò chuyện với hắn, thò đầu ra khỏi cửa sổ xe ngựa, là một người phụ nữ trạc hăm mươi đến hăm hai tuổi. Chúng ta đã từng thấy D'Artagnan nắm bắt nét mặt người khác nhanh đến mức nào, nên chỉ cần liếc qua, cậu đã nhận ra nàng rất trẻ và xinh đẹp. Vẻ đẹp ấy càng khiến cậu choáng ngợp vì nó hoàn toàn khác biệt với những thiếu nữ ở các vùng quê miền Nam nơi cậu từng sinh sống. Nàng có làn da trắng ngần, những lọn tóc xoăn dài buông lơi trên đôi bờ vai, đôi mắt to màu xanh mơ màng, đôi môi đỏ mọng cùng đôi bàn tay trắng như thạch cao. Nàng đang say sưa trò chuyện cùng kẻ lạ mặt.
"Đức Hồng y, ngài ấy đã ra lệnh cho phu nhân..." kẻ lạ mặt nói.
"Trở về Anh ngay lập tức, và báo cho ngài ấy ngay khi công tước rời khỏi London," nàng đáp.
"Còn những chỉ thị khác của tôi thì sao?" người nữ lữ khách xinh đẹp hỏi tiếp.
"Chúng nằm trong chiếc hộp này, phu nhân không được mở nó ra cho đến khi sang bên kia bờ eo biển Manche."
"Rất tốt. Còn ngài, ngài sẽ làm gì?"
"Tôi... tôi trở về Paris."
"Cái gì, mà ngài không trừng phạt thằng nhóc xấc xược kia sao?" phu nhân hỏi.
Kẻ lạ mặt toan trả lời. Nhưng ngay khi hắn vừa mở miệng, D'Artagnan, người đã nghe thấy tất cả, liền lao qua ngưỡng cửa.
"Thằng nhóc xấc xược này sẽ trừng phạt những kẻ khác!" cậu hét lên. "Và ta hy vọng rằng lần này, kẻ mà ta muốn trừng phạt sẽ không trốn thoát như lần trước!"
"Sẽ không trốn thoát nhà ngươi sao?" kẻ lạ mặt nhíu mày lặp lại.
"Không! Trước mặt một người phụ nữ, ta dám chắc nhà ngươi sẽ không dám bỏ chạy đâu, phải không?"
"Hãy nhớ," Milady lên tiếng khi thấy kẻ lạ mặt đặt tay lên chuôi kiếm, "chỉ một chút chậm trễ cũng có thể làm hỏng mọi chuyện."
"Phu nhân nói đúng," hắn kêu lên. "Vậy xin phu nhân hãy đi đi, và tôi cũng sẽ lên đường ngay bây giờ." Cúi chào phu nhân, hắn nhảy lên yên ngựa, trong khi gã xà ích vung roi quất mạnh vào bầy ngựa. Hai người cứ thế chia tay, lao đi theo hai hướng ngược nhau với tốc độ nước đại.
"Trả tiền cho lão ta đi, đồ đần độn!" kẻ lạ mặt gọi lớn tên hầu của mình, không hề kìm cương ngựa lại. Gã người hầu sau khi ném vài đồng bạc xuống chân ông chủ quán liền phóng ngựa đuổi theo chủ.
"Đồ hèn nhát đê tiện! Quỷ xảo quyệt!" D'Artagnan hét lên, lao tới đuổi theo gã người hầu. Nhưng vết thương đã khiến cậu quá đỗi yếu ớt để chịu đựng sự gắng sức như vậy. Đi chưa được mười bước, tai cậu bắt đầu ù đi, một cơn choáng váng ập đến, một đám mây máu lướt qua mắt. Cậu ngã gục xuống giữa đường, miệng vẫn không ngừng la lên: "Đồ hèn nhát! Đồ hèn nhát! Đồ hèn nhát!"
"Ngài ấy quả đúng là một kẻ hèn nhát," chủ quán càu nhàu, tiến lại gần D'Artagnan. Lão cố gắng dùng chút lời nịnh nọt này để xoa dịu chàng thanh niên, hệt như con diệc trong truyện ngụ ngôn đã làm với con ốc sên mà tối hôm trước nó còn khinh bỉ.
"Đúng, một kẻ hèn nhát đê tiện," D'Artagnan thều thào. "Nhưng nàng... nàng ấy mới thật đẹp làm sao."
"Nàng ấy là ai vậy thưa cậu?" chủ quán gặng hỏi.
"Milady," D'Artagnan ấp úng, rồi ngất xỉu lần thứ hai.
"Chà, đằng nào thì cũng vậy," chủ quán tự nhủ. "Mình đã mất hai vị khách, nhưng cậu này vẫn ở lại, và có vẻ cậu ta sẽ còn ở đây thêm vài ngày nữa. Sẽ kiếm được mười một đồng crown đây."
Nên nhớ rằng mười một đồng crown chính là toàn bộ số tiền còn lại trong túi của D'Artagnan.
Chủ quán đã nhẩm tính về mười một ngày giam lỏng khách với giá một đồng crown mỗi ngày, nhưng lão đã lầm to. Vào lúc năm giờ sáng hôm sau, D'Artagnan thức dậy, tự mình đi xuống bếp. Cậu yêu cầu một ít dầu, rượu vang, hương thảo cùng vài loại thảo mộc khác mà danh sách nay đã thất truyền. Với công thức của mẹ trong tay, cậu pha chế một loại thuốc mỡ để xoa lên vô số vết thương của mình. Tự tay thay băng và kiên quyết từ chối mọi sự trợ giúp của bác sĩ, D'Artagnan đã có thể đi lại ngay vào tối hôm đó, và gần như bình phục hoàn toàn vào ngày tiếp theo.
Nhưng khi đến lúc phải thanh toán tiền hương thảo, dầu và rượu vang-khoản chi phí duy nhất mà người chủ quán phải bỏ ra, vì cậu đã nhịn ăn vô cùng nghiêm ngặt (trong khi ngược lại, con ngựa vàng, ít nhất theo lời gã coi ngựa, đã xơi nhiều gấp ba lần so với mức ăn uống hợp lý của một con ngựa cỡ đó)-D'Artagnan chẳng tìm thấy gì trong túi ngoài chiếc túi nhung cũ bé nhỏ với mười một đồng crown. Còn bức thư gửi ngài de Tréville thì đã biến mất tăm.
Chàng thanh niên bắt đầu tìm kiếm bức thư với sự kiên nhẫn tột độ. Cậu lộn trái lộn phải đủ các loại túi quần áo hết lần này đến lần khác, lục tung túi xách, rồi lại mở ra đóng vào chiếc ví của mình. Nhưng khi nhận ra sự thật cay đắng rằng bức thư đã không cánh mà bay, cậu nổi cơn lôi đình lần thứ ba. Cơn thịnh nộ này suýt nữa đã khiến cậu phải dùng thêm một lượng lớn rượu, dầu và hương thảo. Bởi lẽ, khi thấy chàng trai nóng tính này trở nên cáu tiết và đe dọa sẽ đập phá mọi thứ trong quán nếu không tìm thấy thư, chủ quán đã vớ ngay lấy một cái xiên thịt, vợ lão cầm một cán chổi, và đám người hầu thì thủ sẵn những chiếc gậy họ từng dùng ngày hôm qua.
"Thư tiến cử của ta!" D'Artagnan gào lên, "Thư tiến cử của ta! Lão già, nếu không đưa ra, nhân danh dòng máu thánh, ta sẽ xiên tất cả các người như chim sẻ nướng!"
Thật không may, có một trở ngại lớn cản bước cậu thực hiện lời đe dọa này. Như chúng tôi đã kể, thanh kiếm của cậu đã gãy đôi trong cuộc xung đột đầu tiên-điều mà cậu đã hoàn toàn quên béng. Hệ quả là khi D'Artagnan hùng hổ rút kiếm ra, cậu nhận thấy mình chỉ được trang bị một cái cán với đoạn lưỡi dài chừng tám đến mười inch, thứ mà chủ quán đã cẩn thận nhét lại vào vỏ. Còn về phần lưỡi kiếm bị gãy, ông chủ đã ranh mãnh cất riêng để làm dụng cụ xiên thịt.
Nhưng sự lừa dối này có lẽ cũng chẳng thể ngăn cản chàng thanh niên nóng nảy của chúng ta nếu lão chủ quán không kịp nhận ra rằng cơn thịnh nộ của vị khách là hoàn toàn có cơ sở.
"Nhưng... thưa cậu rốt cuộc thì," lão nói, từ từ hạ mũi xiên xuống, "bức thư đó đâu?"
"Đúng vậy, bức thư đó đâu, lão già?" D'Artagnan gào lên. "Ta nói trước cho lão biết, bức thư đó được gửi cho ngài de Tréville. Nó phải được tìm thấy, nếu không, ngài ấy sẽ biết cách moi nó ra!"
Lời đe dọa của cậu đã giáng đòn chí mạng vào nỗi sợ của ông chủ quán. Sau nhà vua và Hồng y, ngài de Tréville là cái tên được nhắc đến nhiều nhất trong quân đội, và thậm chí trong cả giới thị dân. Tất nhiên, còn có cả Cha Joseph, nhưng tên của vị này chẳng bao giờ được xướng lên trừ khi qua những tiếng rầm rì thì thầm-đó là nỗi kinh hoàng được gieo rắc bởi Vị Hồng Y Áo Xám10, cánh tay phải đắc lực của Hồng y Richelieu.
Ném cái xiên xuống, ra lệnh cho vợ quẳng cán chổi, đám người hầu buông gậy, lão chủ quán làm gương bắt đầu một cuộc lùng sục ráo riết để tìm lại bức thư bị mất.
"Thưa cậu, bức thư có chứa thứ gì giá trị không?" chủ quán bồn chồn gặng hỏi sau vài phút tìm kiếm vô vọng.
"Chúa ơi! Lão nghĩ xem, ta đương nhiên là có rồi!" chàng trai xứ Gascon kêu lên, người vốn dĩ định dựa vào bức thư này để tiến thân chốn vương triều. "Nó chứa đựng cả gia tài của ta!"
"Những hối phiếu chuyển cho Tây Ban Nha chăng?" người chủ quán càng thêm hoảng hốt.
"Những hối phiếu chuyển vào kho bạc riêng của Bệ hạ," D'Artagnan đáp. Cậu đang ôm mộng được phục vụ nhà vua nhờ lá thư tiến cử này, nên tự nhủ rằng mình có thể mạo hiểm phóng đại như vậy mà chẳng mang tiếng là nói dối.
"Quỷ tha ma bắt!" chủ quán than vãn, hoàn toàn bế tắc.
"Nhưng điều đó không quan trọng với ta," D'Artagnan tiếp tục với vẻ tự tin thiên bẩm. "Điều đó chẳng hề hấn gì. Tiền bạc có là bao; bức thư đó mới là tất cả. Ta thà mất một ngàn đồng vàng còn hơn là để mất nó." Cậu ta sẽ không ngại phóng đại lên hai mươi ngàn, nhưng một chút khiêm nhường của tuổi trẻ đã kịp thời níu cậu lại.
Một tia sáng chợt lóe lên trong đầu người chủ quán khi lão đang nguyền rủa đủ điều vì tìm mãi không ra.
"Bức thư đó không hề bị mất!" lão kêu lên.
"Cái gì!" D'Artagnan thốt lên.
"Không thưa cậu, nó đã bị đánh cắp."
"Đánh cắp? Bởi ai hả lão già?"
"Bởi cái vị quý ông đã ở đây ngày hôm qua. Ngài ta đã xuống bếp, nơi cậu để chiếc áo doublet. Ngài ấy ở đó một mình một lúc. Tôi dám cá là ngài ấy đã nẫng nó đi rồi."
"Lão nghĩ vậy sao?" D'Artagnan đáp, nhưng không mấy tin tưởng, vì cậu thừa hiểu giá trị của bức thư này hoàn toàn mang tính cá nhân. Chẳng có gì trong đó đủ để khơi dậy lòng tham của người khác. Sự thật là không một người hầu hay lữ khách nào có mặt ở đó có thể thu lợi được gì từ mảnh giấy này.
"Lão nói," D'Artagnan tiếp tục, "rằng lão nghi ngờ gã xấc xược đó sao?"
"Tôi nói với cậu là tôi dám chắc điều đó," chủ quán cả quyết. "Khi tôi báo cho ngài ấy rằng cậu là người được ngài de Tréville bảo trợ, và cậu đang mang một lá thư gửi vị quý ông lừng lẫy đó, ngài ấy tỏ ra cực kỳ bối rối. Ngài ấy vội vàng hỏi tôi bức thư ở đâu, rồi lập tức đi xuống bếp, nơi ngài ấy thừa biết là có áo doublet của cậu."
"Thế thì đó chính là tên trộm của ta," D'Artagnan khẳng định. "Ta sẽ trình báo với ngài de Tréville, và ngài de Tréville sẽ bẩm báo lên nhà vua." Nói đoạn, cậu oai vệ rút hai đồng crown từ trong ví ra ném cho chủ quán. Lão khúm núm cắp mũ đi theo cậu ra tận cổng. Trèo lên con ngựa vàng của mình, D'Artagnan lên đường. Con vật đã đưa cậu đi mà không gặp thêm sóng gió nào cho tới tận cổng St. Antoine ở Paris. Tại đây, cậu bán nó với giá ba đồng crown. Đó quả là một món hời lớn, xét tới việc D'Artagnan đã vắt kiệt sức con vật trong chặng cuối. Kẻ buôn ngựa dù mua nó với giá chín livre cũng không buồn giấu cậu thanh niên rằng, lão vung tiền ra chỉ vì bộ lông có màu sắc kỳ quái của nó.
Thế là D'Artagnan cuốc bộ vào Paris, cắp một bọc hành lý nhỏ dưới nách. Cậu cứ lang thang mãi cho tới khi tìm được một căn hộ cho thuê với mức giá vừa vặn với chiếc túi tiền eo hẹp. Căn phòng này là một dạng gác xép, nằm trên con phố Rue des Fossoyeurs11, sát ngay vườn Luxembourg.
Ngay khi trả xong tiền cọc, D'Artagnan dọn vào chỗ ở. Cậu dành trọn nửa ngày còn lại để khâu vào áo doublet và quần ống túm những dải bện trang trí mà mẹ cậu đã tháo từ một chiếc áo gần như mới tinh của ông D'Artagnan rồi lén dúi cho con trai. Sau đó, cậu rảo bước đến khu Quai de la Ferraille để nhờ thợ rèn đánh một lưỡi kiếm mới, rồi quay lại hướng điện Louvre12, hỏi thăm người Lính ngự lâm đầu tiên cậu bắt gặp về vị trí dinh thự của ngài de Tréville. Thật trùng hợp, nó nằm trên phố Rue du Vieux-Colombier-nghĩa là ngay gần căn phòng cậu vừa thuê. Một sự tình cờ tưởng chừng mang đến điềm lành cho sự thành công của chuyến đi bão táp này.
Đêm đó, mãn nguyện với cách hành xử của bản thân tại Meung, chẳng mảy may hối hận về quá khứ, tràn đầy tự tin vào hiện tại và chan chứa hy vọng vào tương lai, cậu ngả lưng xuống giường, đánh một giấc say sưa của những kẻ dũng cảm.
Giấc ngủ này, dù vẫn vương chút hương vị của một anh chàng tỉnh lẻ, đã kéo dài một mạch đến tận chín giờ sáng hôm sau. Tỉnh dậy, cậu khoan khoái sửa soạn đến tư dinh của ngài de Tréville-nhân vật quyền lực thứ ba trong vương quốc13, ít nhất là theo sự đánh giá của cha cậu.
-
Trường ca Hoa Hồng (Le Roman de la Rose) là một bài thơ Pháp nổi tiếng của thời Trung cổ. Tác giả thứ hai của cuốn sách, Jean de Meun, sinh ra tại thị trấn Meung-sur-Loire. ↩
-
Huguenot là tên gọi những người theo đạo Tin Lành ở Pháp. Vào thế kỷ 16 và 17, họ thường xuyên xảy ra xung đột vũ trang với vương triều Pháp theo Công giáo. ↩
-
Một thành phố cảng lớn ở nước Pháp. Vào đầu thế kỷ 17, đây là thành trì kiên cố của lực lượng Huguenot và từng bị quân đội nhà vua bao vây khốc liệt. ↩
-
Nhân vật chính trong tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Tây Ban Nha Miguel de Cervantes. Ông là một hiệp sĩ hoang tưởng, gầy gò, thường cưỡi một con ngựa già còm nhom. ↩
-
Một loại áo khoác nam bó sát, thường có lớp lót, cài cúc phía trước, rất thịnh hành ở châu Âu từ thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 17. ↩
-
Gascon là một vùng đất ở Tây Nam nước Pháp. Người dân vùng này nổi tiếng trong văn hóa Pháp với tính cách nóng nảy, tự hào, dũng cảm nhưng đôi khi cũng hay khoác lác. ↩
-
Một đơn vị tiền tệ cũ của Pháp, được sử dụng từ thời Trung cổ cho đến năm 1795. ↩
-
Crown (hay écu) là một loại tiền xu bằng vàng hoặc bạc của Pháp thời bấy giờ, có giá trị lớn hơn đồng livre. ↩
-
Từ để chỉ những người du mục (Digan hay Romani) ở châu Âu, thường được người đương thời cho là có những phương thuốc dân gian bí truyền hoặc khả năng bói toán. ↩
-
Biệt danh của Cha Joseph, do ông luôn mặc áo choàng xám của dòng tu và nắm giữ quyền lực ngầm to lớn đằng sau Hồng y Richelieu. ↩
-
Trong tiếng Pháp, Rue des Fossoyeurs có nghĩa là 'Phố của những người đào huyệt'. ↩
-
Trước khi trở thành một bảo tàng nghệ thuật lớn như hiện nay, điện Louvre từng là cung điện hoàng gia chính thức của các vị vua Pháp. ↩
-
Cha D'Artagnan cho rằng ngoài nhà vua Louis XIII và Hồng y Richelieu nắm giữ quyền lực tuyệt đối, ngài de Tréville (Đội trưởng đội Lính ngự lâm của vua) chính là nhân vật đứng thứ ba. ↩
Chapter I. THE THREE PRESENTS OF D’ARTAGNAN THE ELDER
On the first Monday of the month of April, 1625, the market town of Meung, in which the author of Romance of the Rose was born, appeared to be in as perfect a state of revolution as if the Huguenots had just made a second La Rochelle of it. Many citizens, seeing the women flying toward the High Street, leaving their children crying at the open doors, hastened to don the cuirass, and supporting their somewhat uncertain courage with a musket or a partisan, directed their steps toward the hostelry of the Jolly Miller, before which was gathered, increasing every minute, a compact group, vociferous and full of curiosity.
In those times panics were common, and few days passed without some city or other registering in its archives an event of this kind. There were nobles, who made war against each other; there was the king, who made war against the cardinal; there was Spain, which made war against the king. Then, in addition to these concealed or public, secret or open wars, there were robbers, mendicants, Huguenots, wolves, and scoundrels, who made war upon everybody. The citizens always took up arms readily against thieves, wolves or scoundrels, often against nobles or Huguenots, sometimes against the king, but never against the cardinal or Spain. It resulted, then, from this habit that on the said first Monday of April, 1625, the citizens, on hearing the clamor, and seeing neither the red-and-yellow standard nor the livery of the Duc de Richelieu, rushed toward the hostel of the Jolly Miller. When arrived there, the cause of the hubbub was apparent to all.
A young man-we can sketch his portrait at a dash. Imagine to yourself a Don Quixote of eighteen; a Don Quixote without his corselet, without his coat of mail, without his cuisses; a Don Quixote clothed in a woolen doublet, the blue color of which had faded into a nameless shade between lees of wine and a heavenly azure; face long and brown; high cheek bones, a sign of sagacity; the maxillary muscles enormously developed, an infallible sign by which a Gascon may always be detected, even without his cap-and our young man wore a cap set off with a sort of feather; the eye open and intelligent; the nose hooked, but finely chiseled. Too big for a youth, too small for a grown man, an experienced eye might have taken him for a farmer’s son upon a journey had it not been for the long sword which, dangling from a leather baldric, hit against the calves of its owner as he walked, and against the rough side of his steed when he was on horseback.
For our young man had a steed which was the observed of all observers. It was a Béarn pony, from twelve to fourteen years old, yellow in his hide, without a hair in his tail, but not without windgalls on his legs, which, though going with his head lower than his knees, rendering a martingale quite unnecessary, contrived nevertheless to perform his eight leagues a day. Unfortunately, the qualities of this horse were so well concealed under his strange-colored hide and his unaccountable gait, that at a time when everybody was a connoisseur in horseflesh, the appearance of the aforesaid pony at Meung-which place he had entered about a quarter of an hour before, by the gate of Beaugency-produced an unfavorable feeling, which extended to his rider.
And this feeling had been more painfully perceived by young D’Artagnan-for so was the Don Quixote of this second Rosinante named-from his not being able to conceal from himself the ridiculous appearance that such a steed gave him, good horseman as he was. He had sighed deeply, therefore, when accepting the gift of the pony from M. d’Artagnan the elder. He was not ignorant that such a beast was worth at least twenty livres; and the words which had accompanied the present were above all price.
“My son,” said the old Gascon gentleman, in that pure Béarn patois of which Henry IV. could never rid himself, “this horse was born in the house of your father about thirteen years ago, and has remained in it ever since, which ought to make you love it. Never sell it; allow it to die tranquilly and honorably of old age, and if you make a campaign with it, take as much care of it as you would of an old servant. At court, provided you have ever the honor to go there,” continued M. d’Artagnan the elder, “-an honor to which, remember, your ancient nobility gives you the right-sustain worthily your name of gentleman, which has been worthily borne by your ancestors for five hundred years, both for your own sake and the sake of those who belong to you. By the latter I mean your relatives and friends. Endure nothing from anyone except Monsieur the Cardinal and the king. It is by his courage, please observe, by his courage alone, that a gentleman can make his way nowadays. Whoever hesitates for a second perhaps allows the bait to escape which during that exact second fortune held out to him. You are young. You ought to be brave for two reasons: the first is that you are a Gascon, and the second is that you are my son. Never fear quarrels, but seek adventures. I have taught you how to handle a sword; you have thews of iron, a wrist of steel. Fight on all occasions. Fight the more for duels being forbidden, since consequently there is twice as much courage in fighting. I have nothing to give you, my son, but fifteen crowns, my horse, and the counsels you have just heard. Your mother will add to them a recipe for a certain balsam, which she had from a Bohemian and which has the miraculous virtue of curing all wounds that do not reach the heart. Take advantage of all, and live happily and long. I have but one word to add, and that is to propose an example to you-not mine, for I myself have never appeared at court, and have only taken part in religious wars as a volunteer; I speak of Monsieur de Tréville, who was formerly my neighbor, and who had the honor to be, as a child, the play-fellow of our king, Louis XIII., whom God preserve! Sometimes their play degenerated into battles, and in these battles the king was not always the stronger. The blows which he received increased greatly his esteem and friendship for Monsieur de Tréville. Afterward, Monsieur de Tréville fought with others: in his first journey to Paris, five times; from the death of the late king till the young one came of age, without reckoning wars and sieges, seven times; and from that date up to the present day, a hundred times, perhaps! So that in spite of edicts, ordinances, and decrees, there he is, captain of the Musketeers; that is to say, chief of a legion of Cæsars, whom the king holds in great esteem and whom the cardinal dreads-he who dreads nothing, as it is said. Still further, Monsieur de Tréville gains ten thousand crowns a year; he is therefore a great noble. He began as you begin. Go to him with this letter, and make him your model in order that you may do as he has done.”
Upon which M. d’Artagnan the elder girded his own sword round his son, kissed him tenderly on both cheeks, and gave him his benediction.
On leaving the paternal chamber, the young man found his mother, who was waiting for him with the famous recipe of which the counsels we have just repeated would necessitate frequent employment. The adieux were on this side longer and more tender than they had been on the other-not that M. d’Artagnan did not love his son, who was his only offspring, but M. d’Artagnan was a man, and he would have considered it unworthy of a man to give way to his feelings; whereas Mme. D’Artagnan was a woman, and still more, a mother. She wept abundantly; and-let us speak it to the praise of M. d’Artagnan the younger-notwithstanding the efforts he made to remain firm, as a future Musketeer ought, nature prevailed, and he shed many tears, of which he succeeded with great difficulty in concealing the half.
The same day the young man set forward on his journey, furnished with the three paternal gifts, which consisted, as we have said, of fifteen crowns, the horse, and the letter for M. de Tréville-the counsels being thrown into the bargain.
With such a vade mecum D’Artagnan was morally and physically an exact copy of the hero of Cervantes, to whom we so happily compared him when our duty of an historian placed us under the necessity of sketching his portrait. Don Quixote took windmills for giants, and sheep for armies; D’Artagnan took every smile for an insult, and every look as a provocation-whence it resulted that from Tarbes to Meung his fist was constantly doubled, or his hand on the hilt of his sword; and yet the fist did not descend upon any jaw, nor did the sword issue from its scabbard. It was not that the sight of the wretched pony did not excite numerous smiles on the countenances of passers-by; but as against the side of this pony rattled a sword of respectable length, and as over this sword gleamed an eye rather ferocious than haughty, these passers-by repressed their hilarity, or if hilarity prevailed over prudence, they endeavored to laugh only on one side, like the masks of the ancients. D’Artagnan, then, remained majestic and intact in his susceptibility, till he came to this unlucky city of Meung.
But there, as he was alighting from his horse at the gate of the Jolly Miller, without anyone-host, waiter, or hostler-coming to hold his stirrup or take his horse, D’Artagnan spied, though an open window on the ground floor, a gentleman, well-made and of good carriage, although of rather a stern countenance, talking with two persons who appeared to listen to him with respect. D’Artagnan fancied quite naturally, according to his custom, that he must be the object of their conversation, and listened. This time D’Artagnan was only in part mistaken; he himself was not in question, but his horse was. The gentleman appeared to be enumerating all his qualities to his auditors; and, as I have said, the auditors seeming to have great deference for the narrator, they every moment burst into fits of laughter. Now, as a half-smile was sufficient to awaken the irascibility of the young man, the effect produced upon him by this vociferous mirth may be easily imagined.
Nevertheless, D’Artagnan was desirous of examining the appearance of this impertinent personage who ridiculed him. He fixed his haughty eye upon the stranger, and perceived a man of from forty to forty-five years of age, with black and piercing eyes, pale complexion, a strongly marked nose, and a black and well-shaped mustache. He was dressed in a doublet and hose of a violet color, with aiguillettes of the same color, without any other ornaments than the customary slashes, through which the shirt appeared. This doublet and hose, though new, were creased, like traveling clothes for a long time packed in a portmanteau. D’Artagnan made all these remarks with the rapidity of a most minute observer, and doubtless from an instinctive feeling that this stranger was destined to have a great influence over his future life.
Now, as at the moment in which D’Artagnan fixed his eyes upon the gentleman in the violet doublet, the gentleman made one of his most knowing and profound remarks respecting the Béarnese pony, his two auditors laughed even louder than before, and he himself, though contrary to his custom, allowed a pale smile (if I may be allowed to use such an expression) to stray over his countenance. This time there could be no doubt; D’Artagnan was really insulted. Full, then, of this conviction, he pulled his cap down over his eyes, and endeavoring to copy some of the court airs he had picked up in Gascony among young traveling nobles, he advanced with one hand on the hilt of his sword and the other resting on his hip. Unfortunately, as he advanced, his anger increased at every step; and instead of the proper and lofty speech he had prepared as a prelude to his challenge, he found nothing at the tip of his tongue but a gross personality, which he accompanied with a furious gesture.
“I say, sir, you sir, who are hiding yourself behind that shutter-yes, you, sir, tell me what you are laughing at, and we will laugh together!”
The gentleman raised his eyes slowly from the nag to his cavalier, as if he required some time to ascertain whether it could be to him that such strange reproaches were addressed; then, when he could not possibly entertain any doubt of the matter, his eyebrows slightly bent, and with an accent of irony and insolence impossible to be described, he replied to D’Artagnan, “I was not speaking to you, sir.”
“But I am speaking to you!” replied the young man, additionally exasperated with this mixture of insolence and good manners, of politeness and scorn.
The stranger looked at him again with a slight smile, and retiring from the window, came out of the hostelry with a slow step, and placed himself before the horse, within two paces of D’Artagnan. His quiet manner and the ironical expression of his countenance redoubled the mirth of the persons with whom he had been talking, and who still remained at the window.
D’Artagnan, seeing him approach, drew his sword a foot out of the scabbard.
“This horse is decidedly, or rather has been in his youth, a buttercup,” resumed the stranger, continuing the remarks he had begun, and addressing himself to his auditors at the window, without paying the least attention to the exasperation of D’Artagnan, who, however, placed himself between him and them. “It is a color very well known in botany, but till the present time very rare among horses.”
“There are people who laugh at the horse that would not dare to laugh at the master,” cried the young emulator of the furious Tréville.
“I do not often laugh, sir,” replied the stranger, “as you may perceive by the expression of my countenance; but nevertheless I retain the privilege of laughing when I please.”
“And I,” cried D’Artagnan, “will allow no man to laugh when it displeases me!”
“Indeed, sir,” continued the stranger, more calm than ever; “well, that is perfectly right!” and turning on his heel, was about to re-enter the hostelry by the front gate, beneath which D’Artagnan on arriving had observed a saddled horse.
But, D’Artagnan was not of a character to allow a man to escape him thus who had the insolence to ridicule him. He drew his sword entirely from the scabbard, and followed him, crying, “Turn, turn, Master Joker, lest I strike you behind!”
“Strike me!” said the other, turning on his heels, and surveying the young man with as much astonishment as contempt. “Why, my good fellow, you must be mad!” Then, in a suppressed tone, as if speaking to himself, “This is annoying,” continued he. “What a godsend this would be for his Majesty, who is seeking everywhere for brave fellows to recruit for his Musketeers!”
He had scarcely finished, when D’Artagnan made such a furious lunge at him that if he had not sprung nimbly backward, it is probable he would have jested for the last time. The stranger, then perceiving that the matter went beyond raillery, drew his sword, saluted his adversary, and seriously placed himself on guard. But at the same moment, his two auditors, accompanied by the host, fell upon D’Artagnan with sticks, shovels and tongs. This caused so rapid and complete a diversion from the attack that D’Artagnan’s adversary, while the latter turned round to face this shower of blows, sheathed his sword with the same precision, and instead of an actor, which he had nearly been, became a spectator of the fight-a part in which he acquitted himself with his usual impassiveness, muttering, nevertheless, “A plague upon these Gascons! Replace him on his orange horse, and let him begone!”
“Not before I have killed you, poltroon!” cried D’Artagnan, making the best face possible, and never retreating one step before his three assailants, who continued to shower blows upon him.
“Another gasconade!” murmured the gentleman. “By my honor, these Gascons are incorrigible! Keep up the dance, then, since he will have it so. When he is tired, he will perhaps tell us that he has had enough of it.”
But the stranger knew not the headstrong personage he had to do with; D’Artagnan was not the man ever to cry for quarter. The fight was therefore prolonged for some seconds; but at length D’Artagnan dropped his sword, which was broken in two pieces by the blow of a stick. Another blow full upon his forehead at the same moment brought him to the ground, covered with blood and almost fainting.
It was at this moment that people came flocking to the scene of action from all sides. The host, fearful of consequences, with the help of his servants carried the wounded man into the kitchen, where some trifling attentions were bestowed upon him.
As to the gentleman, he resumed his place at the window, and surveyed the crowd with a certain impatience, evidently annoyed by their remaining undispersed.
“Well, how is it with this madman?” exclaimed he, turning round as the noise of the door announced the entrance of the host, who came in to inquire if he was unhurt.
“Your Excellency is safe and sound?” asked the host.
“Oh, yes! Perfectly safe and sound, my good host; and I wish to know what has become of our young man.”
“He is better,” said the host, “he fainted quite away.”
“Indeed!” said the gentleman.
“But before he fainted, he collected all his strength to challenge you, and to defy you while challenging you.”
“Why, this fellow must be the devil in person!” cried the stranger.
“Oh, no, your Excellency, he is not the devil,” replied the host, with a grin of contempt; “for during his fainting we rummaged his valise and found nothing but a clean shirt and eleven crowns-which however, did not prevent his saying, as he was fainting, that if such a thing had happened in Paris, you should have cause to repent of it at a later period.”
“Then,” said the stranger coolly, “he must be some prince in disguise.”
“I have told you this, good sir,” resumed the host, “in order that you may be on your guard.”
“Did he name no one in his passion?”
“Yes; he struck his pocket and said, ‘We shall see what Monsieur de Tréville will think of this insult offered to his protégé.’”
“Monsieur de Tréville?” said the stranger, becoming attentive, “he put his hand upon his pocket while pronouncing the name of Monsieur de Tréville? Now, my dear host, while your young man was insensible, you did not fail, I am quite sure, to ascertain what that pocket contained. What was there in it?”
“A letter addressed to Monsieur de Tréville, captain of the Musketeers.”
“Indeed!”
“Exactly as I have the honor to tell your Excellency.”
The host, who was not endowed with great perspicacity, did not observe the expression which his words had given to the physiognomy of the stranger. The latter rose from the front of the window, upon the sill of which he had leaned with his elbow, and knitted his brow like a man disquieted.
“The devil!” murmured he, between his teeth. “Can Tréville have set this Gascon upon me? He is very young; but a sword thrust is a sword thrust, whatever be the age of him who gives it, and a youth is less to be suspected than an older man,” and the stranger fell into a reverie which lasted some minutes. “A weak obstacle is sometimes sufficient to overthrow a great design.
“Host,” said he, “could you not contrive to get rid of this frantic boy for me? In conscience, I cannot kill him; and yet,” added he, with a coldly menacing expression, “he annoys me. Where is he?”
“In my wife’s chamber, on the first flight, where they are dressing his wounds.”
“His things and his bag are with him? Has he taken off his doublet?”
“On the contrary, everything is in the kitchen. But if he annoys you, this young fool-”
“To be sure he does. He causes a disturbance in your hostelry, which respectable people cannot put up with. Go; make out my bill and notify my servant.”
“What, monsieur, will you leave us so soon?”
“You know that very well, as I gave my order to saddle my horse. Have they not obeyed me?”
“It is done; as your Excellency may have observed, your horse is in the great gateway, ready saddled for your departure.”
“That is well; do as I have directed you, then.”
“What the devil!” said the host to himself. “Can he be afraid of this boy?” But an imperious glance from the stranger stopped him short; he bowed humbly and retired.
“It is not necessary for Milady* to be seen by this fellow,” continued the stranger. “She will soon pass; she is already late. I had better get on horseback, and go and meet her. I should like, however, to know what this letter addressed to Tréville contains.” And the stranger, muttering to himself, directed his steps toward the kitchen.
* We are well aware that this term, milady, is only properly used when followed by a family name. But we find it thus in the manuscript, and we do not choose to take upon ourselves to alter it.
In the meantime, the host, who entertained no doubt that it was the presence of the young man that drove the stranger from his hostelry, re-ascended to his wife’s chamber, and found D’Artagnan just recovering his senses. Giving him to understand that the police would deal with him pretty severely for having sought a quarrel with a great lord-for in the opinion of the host the stranger could be nothing less than a great lord-he insisted that notwithstanding his weakness D’Artagnan should get up and depart as quickly as possible. D’Artagnan, half stupefied, without his doublet, and with his head bound up in a linen cloth, arose then, and urged by the host, began to descend the stairs; but on arriving at the kitchen, the first thing he saw was his antagonist talking calmly at the step of a heavy carriage, drawn by two large Norman horses.
His interlocutor, whose head appeared through the carriage window, was a woman of from twenty to two-and-twenty years. We have already observed with what rapidity D’Artagnan seized the expression of a countenance. He perceived then, at a glance, that this woman was young and beautiful; and her style of beauty struck him more forcibly from its being totally different from that of the southern countries in which D’Artagnan had hitherto resided. She was pale and fair, with long curls falling in profusion over her shoulders, had large, blue, languishing eyes, rosy lips, and hands of alabaster. She was talking with great animation with the stranger.
“His Eminence, then, orders me-” said the lady.
“To return instantly to England, and to inform him as soon as the duke leaves London.”
“And as to my other instructions?” asked the fair traveler.
“They are contained in this box, which you will not open until you are on the other side of the Channel.”
“Very well; and you-what will you do?”
“I-I return to Paris.”
“What, without chastising this insolent boy?” asked the lady.
The stranger was about to reply; but at the moment he opened his mouth, D’Artagnan, who had heard all, precipitated himself over the threshold of the door.
“This insolent boy chastises others,” cried he; “and I hope that this time he whom he ought to chastise will not escape him as before.”
“Will not escape him?” replied the stranger, knitting his brow.
“No; before a woman you would dare not fly, I presume?”
“Remember,” said Milady, seeing the stranger lay his hand on his sword, “the least delay may ruin everything.”
“You are right,” cried the gentleman; “begone then, on your part, and I will depart as quickly on mine.” And bowing to the lady, he sprang into his saddle, while her coachman applied his whip vigorously to his horses. The two interlocutors thus separated, taking opposite directions, at full gallop.
“Pay him, booby!” cried the stranger to his servant, without checking the speed of his horse; and the man, after throwing two or three silver pieces at the foot of mine host, galloped after his master.
“Base coward! false gentleman!” cried D’Artagnan, springing forward, in his turn, after the servant. But his wound had rendered him too weak to support such an exertion. Scarcely had he gone ten steps when his ears began to tingle, a faintness seized him, a cloud of blood passed over his eyes, and he fell in the middle of the street, crying still, “Coward! coward! coward!”
“He is a coward, indeed,” grumbled the host, drawing near to D’Artagnan, and endeavoring by this little flattery to make up matters with the young man, as the heron of the fable did with the snail he had despised the evening before.
“Yes, a base coward,” murmured D’Artagnan; “but she-she was very beautiful.”
“What she?” demanded the host.
“Milady,” faltered D’Artagnan, and fainted a second time.
“Ah, it’s all one,” said the host; “I have lost two customers, but this one remains, of whom I am pretty certain for some days to come. There will be eleven crowns gained.”
It is to be remembered that eleven crowns was just the sum that remained in D’Artagnan’s purse.
The host had reckoned upon eleven days of confinement at a crown a day, but he had reckoned without his guest. On the following morning at five o’clock D’Artagnan arose, and descending to the kitchen without help, asked, among other ingredients the list of which has not come down to us, for some oil, some wine, and some rosemary, and with his mother’s recipe in his hand composed a balsam, with which he anointed his numerous wounds, replacing his bandages himself, and positively refusing the assistance of any doctor, D’Artagnan walked about that same evening, and was almost cured by the morrow.
But when the time came to pay for his rosemary, this oil, and the wine, the only expense the master had incurred, as he had preserved a strict abstinence-while on the contrary, the yellow horse, by the account of the hostler at least, had eaten three times as much as a horse of his size could reasonably be supposed to have done-D’Artagnan found nothing in his pocket but his little old velvet purse with the eleven crowns it contained; for as to the letter addressed to M. de Tréville, it had disappeared.
The young man commenced his search for the letter with the greatest patience, turning out his pockets of all kinds over and over again, rummaging and rerummaging in his valise, and opening and reopening his purse; but when he found that he had come to the conviction that the letter was not to be found, he flew, for the third time, into such a rage as was near costing him a fresh consumption of wine, oil, and rosemary-for upon seeing this hot-headed youth become exasperated and threaten to destroy everything in the establishment if his letter were not found, the host seized a spit, his wife a broom handle, and the servants the same sticks they had used the day before.
“My letter of recommendation!” cried D’Artagnan, “my letter of recommendation! or, the holy blood, I will spit you all like ortolans!”
Unfortunately, there was one circumstance which created a powerful obstacle to the accomplishment of this threat; which was, as we have related, that his sword had been in his first conflict broken in two, and which he had entirely forgotten. Hence, it resulted when D’Artagnan proceeded to draw his sword in earnest, he found himself purely and simply armed with a stump of a sword about eight or ten inches in length, which the host had carefully placed in the scabbard. As to the rest of the blade, the master had slyly put that on one side to make himself a larding pin.
But this deception would probably not have stopped our fiery young man if the host had not reflected that the reclamation which his guest made was perfectly just.
“But, after all,” said he, lowering the point of his spit, “where is this letter?”
“Yes, where is this letter?” cried D’Artagnan. “In the first place, I warn you that that letter is for Monsieur de Tréville, and it must be found, or if it is not found, he will know how to find it.”
His threat completed the intimidation of the host. After the king and the cardinal, M. de Tréville was the man whose name was perhaps most frequently repeated by the military, and even by citizens. There was, to be sure, Father Joseph, but his name was never pronounced but with a subdued voice, such was the terror inspired by his Gray Eminence, as the cardinal’s familiar was called.
Throwing down his spit, and ordering his wife to do the same with her broom handle, and the servants with their sticks, he set the first example of commencing an earnest search for the lost letter.
“Does the letter contain anything valuable?” demanded the host, after a few minutes of useless investigation.
“Zounds! I think it does indeed!” cried the Gascon, who reckoned upon this letter for making his way at court. “It contained my fortune!”
“Bills upon Spain?” asked the disturbed host.
“Bills upon his Majesty’s private treasury,” answered D’Artagnan, who, reckoning upon entering into the king’s service in consequence of this recommendation, believed he could make this somewhat hazardous reply without telling of a falsehood.
“The devil!” cried the host, at his wits’ end.
“But it’s of no importance,” continued D’Artagnan, with natural assurance; “it’s of no importance. The money is nothing; that letter was everything. I would rather have lost a thousand pistoles than have lost it.” He would not have risked more if he had said twenty thousand; but a certain juvenile modesty restrained him.
A ray of light all at once broke upon the mind of the host as he was giving himself to the devil upon finding nothing.
“That letter is not lost!” cried he.
“What!” cried D’Artagnan.
“No, it has been stolen from you.”
“Stolen? By whom?”
“By the gentleman who was here yesterday. He came down into the kitchen, where your doublet was. He remained there some time alone. I would lay a wager he has stolen it.”
“Do you think so?” answered D’Artagnan, but little convinced, as he knew better than anyone else how entirely personal the value of this letter was, and saw nothing in it likely to tempt cupidity. The fact was that none of his servants, none of the travelers present, could have gained anything by being possessed of this paper.
“Do you say,” resumed D’Artagnan, “that you suspect that impertinent gentleman?”
“I tell you I am sure of it,” continued the host. “When I informed him that your lordship was the protégé of Monsieur de Tréville, and that you even had a letter for that illustrious gentleman, he appeared to be very much disturbed, and asked me where that letter was, and immediately came down into the kitchen, where he knew your doublet was.”
“Then that’s my thief,” replied D’Artagnan. “I will complain to Monsieur de Tréville, and Monsieur de Tréville will complain to the king.” He then drew two crowns majestically from his purse and gave them to the host, who accompanied him, cap in hand, to the gate, and remounted his yellow horse, which bore him without any further accident to the gate of St. Antoine at Paris, where his owner sold him for three crowns, which was a very good price, considering that D’Artagnan had ridden him hard during the last stage. Thus the dealer to whom D’Artagnan sold him for the nine livres did not conceal from the young man that he only gave that enormous sum for him on the account of the originality of his color.
Thus D’Artagnan entered Paris on foot, carrying his little packet under his arm, and walked about till he found an apartment to be let on terms suited to the scantiness of his means. This chamber was a sort of garret, situated in the Rue des Fossoyeurs, near the Luxembourg.
As soon as the earnest money was paid, D’Artagnan took possession of his lodging, and passed the remainder of the day in sewing onto his doublet and hose some ornamental braiding which his mother had taken off an almost-new doublet of the elder M. d’Artagnan, and which she had given her son secretly. Next he went to the Quai de Feraille to have a new blade put to his sword, and then returned toward the Louvre, inquiring of the first Musketeer he met for the situation of the hôtel of M. de Tréville, which proved to be in the Rue du Vieux-Colombier; that is to say, in the immediate vicinity of the chamber hired by D’Artagnan-a circumstance which appeared to furnish a happy augury for the success of his journey.
After this, satisfied with the way in which he had conducted himself at Meung, without remorse for the past, confident in the present, and full of hope for the future, he retired to bed and slept the sleep of the brave.
This sleep, provincial as it was, brought him to nine o’clock in the morning; at which hour he rose, in order to repair to the residence of M. de Tréville, the third personage in the kingdom, in the paternal estimation.