Chương VIII. VỀ MỘT ÂM MƯU TRONG CUNG ĐÌNH

Trong khi đó, bốn mươi đồng pistole1 của Vua Louis XIII, cũng như bao phù du trên thế gian này, đã có khởi đầu ắt có ngày cạn kiệt. Và khi đồng tiền cuối cùng đội nón ra đi, bốn người bạn của chúng ta đành bước vào cảnh giật gấu vá vai. Ban đầu, Athos đã hào phóng dốc cạn hầu bao, gánh vác chi tiêu cho cả hội được một thời gian.

Kế đến, Porthos đứng ra cáng đáng. Nhờ một trong những chuyến vắng mặt đầy bí ẩn quen thuộc, anh đã lo liệu êm xuôi cái ăn cái mặc cho cả nhóm suốt nửa tháng trời. Cuối cùng, trọng trách lại rơi vào tay Aramis. Bằng sự điềm nhiên thường thấy, anh vui vẻ nhận lời và gặt hái thành công - theo như anh kể là nhờ bán vài cuốn sách thần học - để mang về một nhúm pistole cứu đói.

Sau đó, ngựa quen đường cũ, họ đành gõ cửa nhà ông de Tréville xin tạm ứng lương. Ngặt nỗi, chút tiền còm ấy nào có thấm tháp gì với ba gã Ngự lâm quân đang ngập đầu trong nợ nần, cùng một tay Vệ sĩ trẻ tuổi thậm chí còn chưa có tên trong danh sách nhận lương.

Đến bước đường cùng, khi cái nghèo thực sự bủa vây tứ phía, họ vét sạch sành sanh như một nỗ lực cuối cùng, gom được chừng tám hay mười đồng pistole đưa cho Porthos đi thử vận may nơi sòng bạc. Than ôi, vận rủi đeo bám, anh chẳng những thua sạch nhẵn mà còn gánh thêm món nợ danh dự lên tới hai mươi lăm đồng pistole.

Sự túng quẫn giờ đây đã hóa thành cảnh khốn cùng thê thảm. Những gã quý tộc đói meo, kéo theo đám người hầu cũng chẳng khá khẩm hơn, lê la lảng vảng khắp các bến bờ sông cho đến phòng Vệ sĩ. Họ nhặt nhạnh bất cứ bữa ăn nào từ những người quen vô tình gặp mặt. Bởi lẽ, theo như triết lý của Aramis, kẻ khôn ngoan là kẻ biết gieo rắc tiệc tùng vào thuở hưng thịnh để có ngày gặt hái lấy dăm ba bữa ăn lúc sa cơ.

Athos vớ bở được bốn lời mời, và lần nào anh cũng hào hiệp lôi kéo cả đám bạn lẫn người hầu đi theo. Porthos ăn may được sáu lần, cũng khéo léo xoay xở để chia phần cho các chiến hữu. Riêng Aramis thì thắng đậm với tận tám lần. Quả thực, như ta đã thấy, con người lặng lẽ ấy lại là kẻ được người đời bủa vây săn đón nhiều nhất.

Còn về phần D'Artagnan, chân ướt chân ráo lên thủ đô chẳng quen biết ai, cậu chỉ mò mẫm xin được một chầu điểm tâm với chút sô-cô-la tại nhà vị linh mục đồng hương, cùng một bữa tối nơi dinh cơ của viên chuẩn úy đội Vệ sĩ. Cậu bèn kéo cả đạo quân bụng rỗng của mình tới nhà vị linh mục, càn quét một lượng thức ăn thừa sức để cậu dùng dằn bụng suốt hai tháng trời. Tại nhà viên chuẩn úy, bữa tiệc cũng diễn ra tưng bừng như một phép màu. Thế nhưng, đúng như lời Planchet than vãn: "Người ta chẳng thể ăn một bữa mà no tới già, dù có nhồi nhét đến vỡ bụng đi chăng nữa."

D'Artagnan thấy xót xa tủi thẹn vì chỉ kiếm được vỏn vẹn một bữa rưỡi cho những người anh em - bởi chầu điểm tâm nhà linh mục chỉ đáng tính là nửa bữa - để đền đáp lại những yến tiệc mà Athos, Porthos và Aramis đã mang về. Cậu tự trách mình là một gánh nặng của nhóm, quên khuấy mất trong sự bồng bột của tuổi trẻ rằng chính tay cậu đã nuôi cả hội suốt cả tháng ròng. Thế là D'Artagnan bắt đầu vắt óc suy tư. Cậu ngộ ra rằng, sự gắn kết của bốn gã trai trẻ sục sôi, gan góc, liều lĩnh và tràn trề sinh lực này hẳn phải mang một sứ mệnh nào đó lớn lao hơn, chứ đâu chỉ quẩn quanh với những buổi dạo gót nghênh ngang, vài bài tập kiếm thuật hay dăm ba trò đùa cợt sắc sảo.

Thật vậy, bốn con người như họ - bốn kẻ thề sống chết có nhau, chung túi tiền, chung sinh mệnh; bốn người anh em luôn kề vai sát cánh, chẳng một bước lùi dẫu phải hành động đơn độc hay kề vai tác chiến; bốn cánh tay vươn ra gieo rắc kinh hoàng bốn phương, hay cùng hội tụ tung đòn sấm sét vào một điểm - chắc chắn phải tự mở cho mình một con đường để bước tới vinh quang. Cho dù là âm thầm hay giữa thanh thiên bạch nhật, dù phải đào hầm khoét vách, nấp dưới chiến hào, dùng quỷ kế hay dùng vũ lực, họ cũng phải vươn tới cái đích đã định, mặc cho mục tiêu ấy có xa xôi hay được canh phòng cẩn mật đến đâu. Điều duy nhất khiến D'Artagnan lấy làm kinh ngạc là những người bạn của cậu lại chưa từng mường tượng đến điều này.

Giữa lúc cậu đang mải mê trầm tư, thậm chí nặn óc tìm kiếm một hướng đi cho sức mạnh vô song được nhân lên gấp bốn này - thứ sức mạnh mà cậu tin chắc rằng, tựa như điểm tựa của Archimedes2, sẽ giúp họ xoay chuyển cả thế giới - thì chợt có tiếng gõ cửa khẽ khàng cất lên. D'Artagnan vội đánh thức Planchet, sai hắn ra mở cửa.

Đọc đến dòng "D'Artagnan đánh thức Planchet", xin độc giả chớ vội lầm tưởng trời đã sang đêm hay mặt trời vừa ló rạng. Không đâu, đồng hồ lúc bấy giờ mới điểm đúng bốn giờ chiều. Hai tiếng trước, Planchet rền rĩ xin ông chủ bữa trưa, cậu bèn quẳng lại cho hắn một câu tục ngữ: "Ai ngủ là đã ăn3." Thế là Planchet đành nuốt giấc ngủ trừ bữa.

Một người đàn ông với dáng vẻ giản dị, nom tựa một thương gia, vừa bước vào phòng. Planchet, xem chừng coi vụ này như món tráng miệng béo bở, háo hức muốn nghe ngóng câu chuyện; thế nhưng vị thị dân kia liền nghiêm trang tuyên bố với D'Artagnan rằng những điều mình sắp nói cực kỳ hệ trọng và hoàn toàn bí mật, mong được đàm đạo riêng cùng cậu.

D'Artagnan phẩy tay cho Planchet lui bước, rồi lịch sự mời người khách an tọa. Một khoảnh khắc lặng thinh trôi qua, đôi bên đưa mắt dò xét lẫn nhau như để mường tượng sơ qua về đối phương. Xong xuôi, D'Artagnan khẽ gật đầu, ra hiệu rằng cậu đang chăm chú lắng nghe.

"Tôi nghe thiên hạ đồn ngài D'Artagnan đây là một chàng trai vô cùng dũng cảm," vị thị dân cất lời; "và danh tiếng lẫy lừng vô cùng xứng đáng ấy đã thôi thúc tôi thổ lộ cùng ngài một bí mật động trời."

"Ông cứ nói, cứ tự nhiên giãi bày đi," D'Artagnan, với bản năng nhạy bén đánh hơi thấy chút tư lợi trong chuyện này, sốt sắng đáp lời.

Vị thị dân thoáng ngập ngừng rồi mím môi nói tiếp, "Thưa ngài, vợ tôi hiện là thợ may của hoàng hậu, và nàng chẳng hề kém cạnh ai về nhan sắc lẫn đức hạnh. Ba năm trước, tôi đã quyết định rước nàng về dinh, dẫu của hồi môn chẳng đáng là bao. Âu cũng bởi cha đỡ đầu của nàng là ông Laporte, người mang áo choàng cho hoàng hậu, và ông ấy luôn dang tay che chở cho nàng."

"Thế thì sao nữa, thưa ông?" D'Artagnan hỏi dồn.

"Chà!" người thị dân than thở, "chà, thưa ngài, sáng hôm qua, ngay khi vừa bước ra khỏi phòng làm việc, vợ tôi đã bị người ta bắt cóc."

"Vậy ai đã bắt cóc vợ ông?"

"Thưa ngài, tôi cũng chẳng tường tận, nhưng tôi đang nghi ngờ một kẻ."

"Và kẻ ông nhắm tới là ai?"

"Một gã đàn ông đã bám đuôi nàng từ lâu."

"Chết tiệt!"

"Nhưng xin phép cho tôi được thưa rõ với ngài," người thị dân vội vàng tiếp lời, "rằng tôi đinh ninh trong cơ sự này, tình ái thì ít mà sặc mùi chính trị thì nhiều."

"Tình ái thì ít mà sặc mùi chính trị thì nhiều," D'Artagnan lẩm bẩm lặp lại, vẻ mặt đầy suy lự; "thế rốt cuộc ông đang nghi ngờ điều gì?"

"Tôi chẳng rõ liệu mình có nên bộc bạch những hoài nghi trong lòng với ngài hay không nữa."

"Này ông, tôi mong ông hiểu cho rằng tôi chẳng hề cạy miệng ông lời nào. Chính ông là người đã cất công tìm đến tôi. Lại cũng chính ông bảo rằng có một bí mật muốn thổ lộ. Vậy thì, tùy ông định liệu sao cho phải; giờ rút lui vẫn còn kịp chán đấy."

"Không, thưa ngài, tuyệt đối không; trông ngài có vẻ là một thanh niên ngay thẳng, và tôi nguyện đặt trọn niềm tin nơi ngài. Tôi đồ rằng, vợ tôi bị bắt cóc chẳng phải vì ấp ủ âm mưu nào của riêng nàng, mà vì nàng đã vướng vào vòng xoáy mưu mô của một vị phu nhân mang địa vị cao quý hơn nàng gấp bội."

"Á à! Có phải do những vụ ái tình trăng hoa của phu nhân de Bois-Tracy không?" D'Artagnan gặng hỏi, cốt làm ra vẻ sành sỏi chuyện thâm cung bí sử trong mắt gã thị dân.

"Cao hơn thế, thưa ngài, cao hơn nữa kìa."

"Của phu nhân d'Aiguillon ư?"

"Vẫn cao hơn."

"Hay của phu nhân de Chevreuse?"

"Cao hơn, cao hơn nhiều lắm."

"Của-" D'Artagnan chợt nuốt lời, tự kìm mình lại.

"Vâng, thưa ngài," người thị dân run rẩy đáp lại, giọng thều thào nhỏ đến mức gần như bị không khí nuốt chửng.

"Thế liên quan đến ai?"

"Còn ai vào đây nữa, nếu chẳng phải là ngài Công tước-"

"Ngài Công tước-"

"Vâng, thưa ngài," gã thị dân xác nhận, giọng càng lúc càng lí nhí rụt rè.

"Nhưng cớ sao ông lại tường tận ngần ấy chuyện?"

"Làm sao tôi biết được ư?"

"Phải, làm sao ông biết? Đừng có úp mở nữa, nếu không-ông hiểu ý tôi chứ!"

"Là vợ tôi kể, thưa ngài-chính từ miệng nàng."

"Vậy cô ấy nghe từ đâu?"

"Từ ngài Laporte. Chẳng phải tôi đã thưa với ngài nàng là con gái đỡ đầu của ông Laporte, tâm phúc của hoàng hậu đó sao? Chà, chính ông Laporte đã cắt cử nàng túc trực bên cạnh hoàng hậu của chúng ta, ngõ hầu bậc mẫu nghi tội nghiệp ấy chí ít cũng có một nơi để gửi gắm niềm tin, giữa cảnh bị quân vương ruồng rẫy, bị hồng y giáo chủ gắt gao nhòm ngó, và bị đám quần thần quay lưng phản trắc."

"Á à! Mọi chuyện bắt đầu sáng tỏ rồi đấy," D'Artagnan gật gù.

"Mới bốn hôm trước, vợ tôi có tạt qua nhà, thưa ngài. Vốn dĩ, một trong những điều kiện làm việc của nàng là được về thăm tôi mỗi tuần hai bận; bởi lẽ, như tôi đã hân hạnh thưa trước, nàng yêu tôi tha thiết lắm-vậy nên, nàng đã về và rỉ tai tôi rằng hoàng hậu lúc này đang sống trong nơm nớp lo âu."

"Thật sao!"

"Vâng. Hồng y giáo chủ, xem chừng, đang ráo riết bủa lưới và chèn ép hoàng hậu dữ dội hơn bao giờ hết. Lão ta không tài nào nuốt trôi cục tức về câu chuyện điệu nhảy Saraband4. Chắc ngài cũng tường tận chuyện điệu nhảy Saraband rồi chứ?"

"Chúa ơi! Lạ gì nữa!" D'Artagnan đáp liều, dẫu trong bụng lơ mơ chẳng hiểu mô tê gì, nhưng vẫn nắn gân cố tỏ ra ta đây rành rẽ mọi sự thế gian.

"Nên giờ đây, sự tình chẳng dừng lại ở oán hờn mâu thuẫn, mà đã thăng cấp thành những ngón đòn trả thù tàn độc."

"Thật vậy sao!"

"Và hoàng hậu đồ rằng-"

"Chà, hoàng hậu đồ rằng điều gì cơ?"

"Người đồ rằng có kẻ đã cả gan mạo danh hoàng hậu để viết mật thư gửi đến ngài Công tước Buckingham."

"Mạo danh hoàng hậu ư?"

"Vâng, cốt để dẫn dụ ngài ấy đến Paris; và hễ ngài ấy đặt chân đến đây, chúng sẽ lập tức tóm gọn ngài ấy vào cạm bẫy."

"Chết tiệt thật! Nhưng thưa ông, vợ ông thì có dây dưa gì đến mớ bòng bong này?"

"Lòng tận tụy của nàng dành cho hoàng hậu thì ai ai cũng rõ; bởi thế, bọn chúng rắp tâm chia rẽ nàng khỏi chủ nhân, hoặc giở trò đe dọa để moi móc bí mật của hoàng hậu, hay thậm chí dụ dỗ và mua chuộc nàng làm tai mắt cho chúng."

"Cũng rất có thể," D'Artagnan nói; "nhưng kẻ thủ ác đã bắt cóc cô ấy-ông có biết lai lịch hắn không?"

"Tôi đã thưa với ngài rằng tôi tin là mình biết mặt hắn."

"Tên hắn là gì?"

"Tôi chịu; tôi chỉ biết hắn là tay sai đắc lực của hồng y, là một con quỷ dữ khát máu dưới trướng ông ta."

"Nhưng ông đã tận mắt nhìn thấy hắn rồi chứ?"

"Vâng, có bận vợ tôi đã chỉ mặt hắn cho tôi."

"Hắn có nhân dạng nào đặc biệt để người ta dễ bề nhận mặt không?"

"Ôi, chắc chắn là có rồi; hắn là một gã quý tộc mang vẻ ngoài hống hách vô cùng, tóc đen tuyền, nước da ngăm đen, ánh mắt sắc lẹm, hàm răng trắng ởn, và ngay trên thái dương vắt ngang một vết sẹo."

"Một vết sẹo ngay trên thái dương!" D'Artagnan thảng thốt kêu lên; "cộng thêm hàm răng trắng, ánh mắt sắc lẹm, da ngăm, tóc đen, với cái dáng vẻ hống hách ấy-chà, chích chóc gã tồi ở Meung của tôi rồi."

"Ngài nói hắn là kẻ thù của ngài sao?"

"Đúng, đúng thế; cơ mà chuyện đó chẳng liên can gì. Không, ta nhầm rồi. Trái lại, sự trùng hợp này càng khiến vấn đề thêm phần giản đơn. Nếu kẻ thù của ông cũng chính là kẻ ta đang săn lùng, thì chỉ một mũi tên trúng hai đích, ta sẽ rửa hận cho cả hai; nhưng biết tìm hắn ở xó xỉnh nào?"

"Tôi không rõ."

"Ông không dò la được chút manh mối nào về nơi ẩn náu của hắn sao?"

"Tuyệt nhiên không. Có một bận, khi tôi đang hộ tống vợ trở lại điện Louvre, hắn vừa đi ra thì nàng đi vào, nàng đã lén chỉ mặt hắn cho tôi xem."

"Chết tiệt! Chết tiệt thật!" D'Artagnan lẩm bẩm; "mọi chuyện rối mù quá. Ông nghe hung tin vợ bị bắt cóc từ ai?"

"Từ ngài Laporte."

"Ông ấy có hé lộ cho ông chi tiết nào không?"

"Đến bản thân ông ấy cũng mù tịt."

"Thế ông chưa la liếm được tin tức nào từ các nguồn khác sao?"

"Có, tôi vừa nhận được-"

"Cái gì cơ?"

"Tôi e là bản thân đang vướng vào một sự bất cẩn chết người mất rồi."

"Ông lại dở chứng đắn đo nữa rồi; nhưng lần này tôi buộc phải cảnh tỉnh ông rằng, giờ đã quá muộn để tháo lui."

"Tôi nào có ý tháo lui, thề có Chúa!" người thị dân ré lên, lớn tiếng thề thốt để vớt vát chút dũng khí mỏng manh. "Hơn nữa, lấy danh dự của Bonacieux tôi ra thề-"

"Ông tên là Bonacieux sao?" D'Artagnan đột ngột ngắt lời.

"Vâng, là cái tên hèn mọn của tôi."

"Ông vừa nói, lấy danh dự của Bonacieux. Xin thứ lỗi vì đã đường đột ngắt lời, nhưng sao cái tên này lọt vào tai tôi lại thấy quen quen."

"Cũng dễ hiểu thôi, thưa ngài. Vì tôi chính là chủ nhà của ngài đây."

"Á à!" D'Artagnan chột dạ, nhỏm nửa người dậy và gật đầu chào; "hóa ra ông là chủ nhà của tôi đấy ư?"

"Vâng, thưa ngài, vâng. Và bởi lẽ ngài đã dọn đến đây ngót nghét ba tháng ròng, ấy thế mà, chắc do mải bận bịu với những quốc gia đại sự nên ngài lỡ quên bẵng mất tiền thuê nhà-dù vậy, tôi chưa từng quấy quả ngài lấy một lần, âu tôi cũng hy vọng ngài sẽ lưu tâm đến sự tế nhị đó của tôi."

"Lẽ nào ta lại vô tâm đến thế, ông Bonacieux thân mến?" D'Artagnan mau miệng đáp; "tin tôi đi, tôi vô cùng hàm ơn cách cư xử tuyệt vời ấy, và nếu, như tôi đã ngỏ lời từ trước, tôi có thể dang tay giúp ông việc gì-"

"Tôi tin ngài, thưa ngài, tôi tin tưởng ngài; và như tôi đang dang dở, lấy danh dự của Bonacieux ra thề, tôi nguyện trao trọn niềm tin nơi ngài."

"Nếu vậy thì hãy nói nốt những gì ông đang định nói đi nào."

Người thị dân rút một tờ giấy từ trong túi ra và đưa cho D'Artagnan.

"Một bức thư ư?" người thanh niên hỏi.

"Tôi vừa nhận được sáng nay."

D'Artagnan mở thư. Trời đã ngả bóng xế chiều, cậu bèn tiến lại gần cửa sổ để đọc cho rõ. Người thị dân cũng rón rén bước theo sau.

"'Đừng cất công tìm kiếm vợ ngươi,'" D'Artagnan đọc to; "'cô ta sẽ được trả về khi nào không còn giá trị lợi dụng. Chỉ cần ngươi lỡ bước một bước đi tìm, ngươi sẽ mất mạng.'

"Mọi chuyện đã quá rành rành," D'Artagnan tiếp lời; "nhưng rốt cuộc, đây cũng chỉ là một lời đe dọa rỗng tuếch."

"Vâng; nhưng chừng đó cũng đủ khiến tôi khiếp đảm. Thưa ngài, tôi vốn chẳng phải kẻ thạo đao kiếm gì, và thú thật là tôi rất sợ ngục Bastille5."

"Hừm!" D'Artagnan khịt mũi. "Tôi cũng chẳng hứng thú với ngục Bastille hơn ông là bao. Nếu như đó chỉ là một nhát kiếm sòng phẳng, thì chà-"

"Chính vì thế mà tôi mới phải trông cậy vào ngài, thưa ngài."

"Thế à?"

"Thấy ngài lúc nào cũng được bao quanh bởi những vị Ngự lâm quân oai vệ, lại biết rằng họ đều dưới trướng ông de Tréville, và dĩ nhiên là đối nghịch với Đức Hồng y. Vậy nên tôi mới thầm nghĩ, trong lúc đòi lại công lý cho vị hoàng hậu đáng thương của chúng ta, hẳn ngài cùng các bạn mình sẽ rất sẵn lòng chơi khăm Đức Hồng y một vố đau."

"Chắc chắn là vậy rồi."

"Thế nên tôi mới nghĩ rằng, cứ xét đến ba tháng tiền nhà mà tôi chưa từng mở lời đòi hỏi-"

"Đúng, đúng; ông đã vin vào lý do đó, và tôi thấy nó vô cùng hợp lý."

"Chưa kể, chừng nào ngài còn ban cho tôi niềm vinh hạnh được lưu lại nơi này, tôi sẽ tuyệt đối không đả động gì đến chuyện tiền thuê nhà nữa-"

"Thật là tốt bụng!"

"Và nếu cần thiết, tôi sẵn sàng dâng ngài năm mươi đồng pistole, để phòng khi ngài lỡ rơi vào cảnh túng thiếu lúc này, dẫu cho khả năng đó là rất thấp."

"Thật đáng nể! Ông khấm khá đến vậy sao, ông Bonacieux thân mến?"

"Tôi cũng chỉ dư dả chút đỉnh để sống thoải mái thôi thưa ngài. Chẳng là tôi đã cóp nhặt được độ hai đến ba ngàn vương miện6 từ nghề bán đồ trang điểm, nhưng phần lớn là nhờ mạnh dạn đầu tư vào chuyến đi biển gần đây của nhà thám hiểm lừng danh Jean Moquet7. Ngài hiểu ý tôi chứ thưa ngài-Nhưng kìa!" người thị dân bỗng ré lên.

"Chuyện gì thế!" D'Artagnan giật mình.

"Tôi đang nhìn thấy ai đằng kia thế này?"

"Ở đâu cơ?"

"Ngoài phố, ngay đối diện cửa sổ phòng ngài, nép trong khe cửa lùi lùi kia kìa-một kẻ quấn kín áo choàng."

"Chính là hắn!" D'Artagnan và người thị dân cùng đồng thanh thốt lên, bởi cả hai đều nhận ra kẻ thù của mình.

"À, lần này," D'Artagnan gầm lên, tay chộp ngay lấy chuôi kiếm, "lần này thì nhà ngươi đừng hòng trốn thoát!"

Cậu tuốt kiếm khỏi vỏ, phi thẳng ra khỏi phòng. Ngay trên cầu thang, cậu đụng độ Athos và Porthos đang lên tìm mình. Hai người vội dạt sang hai bên, để D'Artagnan lao vút qua giữa họ nhanh như một mũi tên.

"Chà! Cậu đi đâu mà vội thế?" hai chàng Ngự lâm quân cùng ngạc nhiên hỏi.

"Gã ở Meung!" D'Artagnan quẳng lại một câu rồi mất hút.

D'Artagnan đã không ít lần kể cho những người bạn của mình nghe về cuộc chạm trán với gã lạ mặt, cũng như sự xuất hiện của người phụ nữ ngoại quốc kiều diễm, người mà gã đàn ông kia đã tin cẩn giao phó một bức thư quan trọng.

Theo nhận định của Athos, D'Artagnan hẳn đã làm rơi lá thư trong lúc ẩu đả. Dưới góc nhìn của anh-và qua những gì D'Artagnan mô tả, gã lạ mặt kia ắt hẳn phải là một nhà quý tộc-mà một quý tộc thì đời nào lại làm cái trò đê tiện là đi ăn cắp một bức thư.

Porthos thì chẳng thấy gì mờ ám trong chuyện này, ngoài một cuộc hẹn hò tình ái, nơi một phu nhân trao thư cho một hiệp sĩ, hoặc ngược lại, chỉ tiếc là đã bị phá đám bởi sự xuất hiện đột ngột của D'Artagnan cùng con ngựa màu lông chồn của cậu.

Aramis lại cho rằng những chuyện thế này thường ẩn chứa nhiều điều bí mật, tốt nhất là không nên xoi mói quá sâu.

Vì thế, chỉ cần vài lời cộc lốc của D'Artagnan, họ đã đoán ngay được chuyện gì đang xảy ra. Cho rằng dù có tóm được gã kia hay để mất dấu, kiểu gì D'Artagnan cũng sẽ quay lại phòng, thế là họ cứ đủng đỉnh bước lên.

Khi bước vào phòng D'Artagnan, họ chỉ thấy trống hoác. Lão chủ nhà, vì quá khiếp đảm trước hậu quả của một cuộc đụng độ chắc chắn sắp nổ ra giữa người thanh niên và gã lạ mặt, đã nhanh trí chuồn êm cho lành-đúng với cái bản tính nhát gan mà lão vừa mới tự phác họa.



  1. Pistole là một loại tiền vàng từng được sử dụng phổ biến ở Pháp và một số quốc gia châu Âu vào thế kỷ 17. 

  2. Archimedes là một nhà toán học và vật lý học vĩ đại thời Hy Lạp cổ đại. Điển tích này bắt nguồn từ câu nói nổi tiếng của ông về nguyên lý đòn bẩy: 'Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên'. 

  3. Được dịch từ thành ngữ 'Qui dort dîne' của Pháp. Ý nói giấc ngủ có thể giúp cơ thể tạm quên đi cơn đói, thường được dùng để an ủi hoặc trêu đùa những người đang bị thiếu ăn. 

  4. Saraband (hay Sarabande) là một điệu khiêu vũ cung đình có nguồn gốc từ Tây Ban Nha, mang nhịp điệu chậm rãi, uyển chuyển và vô cùng trang trọng, rất thịnh hành trong giới quý tộc châu Âu thế kỷ 17. 

  5. Bastille là một pháo đài kiên cố ở thủ đô Paris, thường được vương triều Pháp thời bấy giờ sử dụng làm nhà tù chuyên giam giữ các tội phạm chính trị và những nhân vật đắc tội với hoàng gia. 

  6. Trong bối cảnh này, 'vương miện' (écu trong tiếng Pháp hoặc crown trong tiếng Anh) không phải là chiếc mũ của vua chúa, mà là tên gọi của một loại đồng tiền vàng hoặc bạc có giá trị cao thời bấy giờ. 

  7. Jean Moquet (1575-1614) là một nhà thám hiểm người Pháp nổi tiếng. Ông từng thực hiện nhiều chuyến hải trình đến châu Phi, châu Á và châu Mỹ để thu thập các loài động thực vật lạ và cổ vật quý hiếm.