Chương 60: TRỞ LẠI NƯỚC PHÁP
Khi hay tin Công tước Buckingham bị ám sát, nỗi lo sợ đầu tiên ập đến với Vua Charles I của nước Anh là hung tin này có thể làm nản lòng phe La Rochelle. Theo những gì Hồng y Richelieu ghi lại trong Hồi ký, nhà vua đã cất công giấu nhẹm chuyện này càng lâu càng tốt. Ngài ra lệnh đóng cửa toàn bộ các bến cảng, giám sát gắt gao không cho phép bất kỳ chiếc tàu nào nhổ neo cho đến khi đội quân mà Buckingham dày công tập hợp được khởi hành. Thậm chí, đích thân nhà vua còn đứng ra giám sát việc xuất quân thay cho vị Công tước bạc mệnh.
Lệnh cấm này được thực thi vô cùng nghiêm ngặt. Cả những vị đại sứ của Đan Mạch đã nói lời cáo từ trước đó, hay vị đại sứ thường trực của Hà Lan - người nhận nhiệm vụ hộ tống những chiếc tàu buôn Ấn Độ mà Charles I đã trao trả cho Các tỉnh Liên hiệp1 về cảng Flushing - đều bị giữ lại.
Tuy nhiên, mãi đến năm giờ sau biến cố - tức là vào lúc hai giờ chiều - nhà vua mới ban bố sắc lệnh này. Do đó, hai chiếc tàu đã kịp rẽ sóng rời cảng. Chiếc đầu tiên, như chúng ta đã biết, chính là con tàu chở Milady. Ả đã lường trước mọi việc, và càng thêm đắc ý khi nhìn thấy lá cờ đen tung bay trên đỉnh cột buồm của tàu đô đốc.
Về phần chiếc tàu thứ hai, chúng tôi sẽ kể cho độc giả nghe ở những phần sau, rằng nó đã chở ai và ra khơi như thế nào.
Trong khoảng thời gian ấy, chốn doanh trại ở La Rochelle chẳng có lấy một sự kiện gì mới mẻ. Chỉ có nhà vua là luôn cảm thấy buồn chán. Mà cũng phải thôi, ở trong một khu doanh trại có lẽ còn tẻ nhạt hơn bất cứ nơi nào khác. Thế nên, ngài quyết định cải trang đi vi hành, dành trọn những ngày lễ Thánh Louis2 tại St. Germain. Ngài yêu cầu Đức Hồng y cấp cho mình một đội hộ tống nhỏ gọn, chỉ gồm hai mươi lính ngự lâm. Về phần Hồng y, đôi khi vị giáo chủ này cũng cảm thấy mệt mỏi với nhà vua, nên đã rất vui vẻ chấp thuận kỳ nghỉ ngắn ngày cho vị trung tướng hoàng gia của mình. Trước khi đi, nhà vua đã hứa sẽ quay trở lại vào khoảng ngày 15 tháng Chín.
Vừa nhận được thông báo từ Đức Hồng y, ngài de Tréville liền bắt tay vào việc thu xếp hành trang. Dù không tường tận nguyên nhân sâu xa, ngài vẫn thấu hiểu khát khao mãnh liệt và nhu cầu cấp bách của những người bạn trẻ muốn trở về Paris. Lẽ đương nhiên, ngài đã không ngần ngại chọn họ vào đội hộ tống danh dự này.
Bốn chàng trai trẻ nhận được tin vui chỉ vỏn vẹn một phần tư giờ sau ngài de Tréville, bởi họ chính là những người đầu tiên được ngài ưu ái báo tin. Ngay khoảnh khắc đó, D'Artagnan mới thực sự thấu hiểu và trân trọng đặc ân mà Hồng y đã ban cho mình, khi cuối cùng cũng cho phép anh khoác lên mình chiếc áo choàng của đội Ngự lâm quân. Nếu không nhờ ân huệ ấy, anh hẳn sẽ phải thui thủi ở lại doanh trại, bất lực nhìn những người anh em của mình lên đường.
Tất nhiên, sự nôn nóng muốn bay ngay về Paris của họ bắt nguồn từ mối hiểm họa khôn lường: bà Bonacieux rất có thể sẽ chạm trán Milady - kẻ thù không đội trời chung - ngay tại tu viện Béthune. Nắm bắt tình hình, Aramis lập tức gửi thư cho Marie Michon, cô thợ may ở Tours vốn có những mối quan hệ vô cùng quyền lực. Anh nhờ cô xin hoàng hậu ban giấy phép để bà Bonacieux rời khỏi tu viện, tìm đường lánh nạn sang Lorraine hoặc Bỉ. Họ chẳng phải mỏi mòn chờ đợi hồi âm. Chỉ tám hay mười ngày sau, Aramis đã nhận được một bức thư với nội dung như sau:
"ANH HỌ THÂN MẾN,
Đây là giấy phép do chính tay chị gái em viết, nhằm đưa cô hầu gái nhỏ của chúng ta thoát khỏi tu viện Béthune, cái nơi mà anh cho là chẳng lành chút nào với cô ấy. Chị gái em rất sẵn lòng gửi tờ giấy này, bởi chị ấy vô cùng yêu quý cô bé và còn dự định sẽ cưu mang, giúp đỡ cô ấy nhiều hơn trong tương lai.
"Em chào anh,
"MARIE MICHON"
Gửi kèm theo bức thư tay ấy là một tờ lệnh được soạn thảo bằng những lời lẽ quyền uy:
"Tại Louvre, ngày 10 tháng 8 năm 1628
"Viện trưởng tu viện Béthune sẽ giao cho người xuất trình tờ giấy này cô nữ tu đã vào tu viện theo lời giới thiệu và dưới sự bảo trợ của ta.
"ANNE"
Độc giả có thể dễ dàng hình dung ra mối quan hệ kỳ lạ giữa Aramis và một cô thợ may dám gọi hoàng hậu là "chị gái" đã khiến các chàng trai thích thú và tò mò đến nhường nào. Thế nhưng Aramis, sau khi phải đỏ mặt tía tai đến đôi ba bận vì những lời trêu chọc bỗ bã của Porthos, đã thành khẩn xin các bạn đừng đào sâu vào chủ đề này nữa. Anh thậm chí còn quả quyết tuyên bố rằng, nếu họ còn dám hó hé thêm nửa lời về chuyện đó, anh sẽ cạch mặt và không bao giờ thèm cầu xin các cô em họ của mình ra tay can thiệp vào những việc tương tự nữa.
Vậy là, trong số bốn người lính ngự lâm, cái tên Marie Michon không còn được nhắc tới nữa. Suy cho cùng, họ cũng đã có được thứ mình hằng mong muốn: lệnh đưa bà Bonacieux rời khỏi tu viện dòng Cát Minh ở Béthune. Nhưng trớ trêu thay, tờ mệnh lệnh quý giá này sẽ chẳng mang lại lợi ích gì mấy khi họ vẫn đang phải chôn chân đóng quân ở La Rochelle, tức là ở tận đầu kia của nước Pháp. Chính vì thế, D'Artagnan đã toan đến xin ngài de Tréville cho phép nghỉ phép, định bụng sẽ thành thật thú nhận tầm quan trọng của chuyến đi này. Đúng lúc đó, một tin tức chấn động được truyền đến tai anh cũng như ba người bạn: nhà vua chuẩn bị khởi hành trở về Paris cùng đội hộ tống hai mươi lính ngự lâm, và tuyệt vời thay, họ chính là một phần của đội quân vinh dự ấy.
Niềm vui sướng vỡ òa, tưởng chừng như vô bờ bến. Những người hầu nhanh chóng được lệnh mang theo hành lý đi trước, còn bốn chàng ngự lâm thì hăng hái lên đường vào rạng sáng ngày mười sáu.
Hồng y tháp tùng Bệ hạ từ Surgères đến tận Mauzes. Tại đó, nhà vua cùng vị thừa tướng tài ba của mình đã nói lời chia tay, trao nhau những cử chỉ thắm thiết như đôi bạn tâm giao.
Dù đang thúc ngựa vội vã để kịp có mặt tại Paris vào ngày hai mươi ba, nhà vua - người vốn đam mê thú vui giải trí - thỉnh thoảng vẫn dừng lại để chơi trò thả chim ác là3. Đây là một thú tiêu khiển do de Luynes truyền lại, và ngài vẫn luôn giữ niềm say mê mãnh liệt với nó. Trong số hai mươi chàng lính ngự lâm hộ giá, mười sáu người tỏ ra vô cùng thích thú với những phút giây thư giãn ấy. Thế nhưng, bốn người còn lại chỉ biết rủa thầm trong bụng. Riêng D'Artagnan lúc nào cũng cảm thấy ù ù bên tai. Thấy vậy, Porthos liền giải thích: "Một quý bà vô cùng đáng kính từng bảo tôi rằng, hiện tượng đó có nghĩa là đang có ai đó ở phương xa nhắc tới cậu đấy."
Cuối cùng, màn đêm ngày hai mươi ba cũng buông xuống khi đội hộ tống tiến vào Paris. Nhà vua ban lời khen ngợi ngài de Tréville, đồng thời cho phép ngài cấp giấy nghỉ phép bốn ngày cho thuộc cấp. Tuy nhiên, ngài cũng ban kèm một lệnh cấm nghiêm ngặt: những người được hưởng đặc ân này tuyệt đối không được bén mảng đến bất kỳ chốn đông người nào, kẻo sẽ bị tống thẳng vào ngục Bastille.
Như lẽ đương nhiên, bốn tờ giấy phép đầu tiên đã lọt vào tay bốn người bạn của chúng ta. Hơn thế nữa, Athos còn cất lời xin ngài de Tréville cho nghỉ hẳn sáu ngày thay vì bốn. Chẳng những thế, anh còn khéo léo xin thêm hai đêm nữa, bởi lẽ họ sẽ khởi hành vào lúc năm giờ chiều ngày hai mươi tư. Và như một ân huệ đặc biệt, ngài de Tréville đã hào phóng lùi ngày bắt đầu tính phép sang tận buổi sáng ngày hai mươi lăm.
"Lạy Chúa!" D'Artagnan lên tiếng. Vốn là một chàng trai chẳng bao giờ chùn bước trước bất cứ điều gì, cậu quả quyết: "Tôi thấy dường như chúng ta đang quan trọng hóa một vấn đề hết sức đơn giản. Chỉ mất chừng hai ngày, và thay đổi độ hai ba con ngựa là cùng - mà chuyện đó chẳng hề hấn gì, bởi tôi đang rủng rỉnh tiền bạc - tôi sẽ tới tận Béthune. Tôi chỉ việc trình lá thư của Hoàng hậu cho viện trưởng, rồi đưa báu vật thân yêu mà tôi cất công tìm kiếm trở về. Không phải đến Lorraine, cũng chẳng phải đến Bỉ, mà là đưa nàng về ngay giữa Paris này. Nàng sẽ được che giấu kỹ lưỡng hơn nhiều, nhất là trong lúc Hồng y đang kẹt lại ở La Rochelle. Rồi thì, khi từ vùng quê trở về, một phần nhờ sự bảo trợ của người em họ cô ấy, một phần nhờ những công lao chúng ta đã đích thân dâng lên cho nàng, Hoàng hậu chắc chắn sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta hằng mong mỏi. Vậy nên các anh cứ ở lại đây nghỉ ngơi, đừng vắt kiệt sức lực vào một chuyến đi vô ích. Chuyến thám hiểm đơn giản nhường này, chỉ mình tôi và Planchet là quá đủ rồi."
Nghe những lời đó, Athos ôn tồn đáp lại: "Chúng ta cũng vẫn còn tiền mà. Số tiền bán kim cương của tôi vẫn chưa vơi hết vào những chầu rượu, và cả Porthos cùng Aramis cũng chưa tiêu pha cạn kiệt phần của họ. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể mua bốn con ngựa thay vì một. Nhưng hãy thử nghĩ mà xem, D'Artagnan," anh trầm giọng, sắc thái nghiêm trọng đến mức khiến chàng trai trẻ bất giác rùng mình, "hãy nhớ rằng Béthune chính là nơi Hồng y đã hẹn gặp người phụ nữ mang mầm mống tai ương đi gieo rắc khắp mọi nơi. D'Artagnan ạ, nếu đối thủ của cậu chỉ là bốn gã đàn ông lực lưỡng, tôi sẵn sàng để cậu đi một mình. Nhưng đằng này, cậu lại phải đối mặt với người phụ nữ xảo quyệt đó! Thế nên, cả bốn chúng ta sẽ cùng đi. Và tôi nguyện cầu Chúa rủ lòng thương, mong sao bốn anh em chúng ta cùng bốn người hầu là đã đủ sức chống lại ả."
"Anh làm tôi sợ đấy, Athos!" D'Artagnan thảng thốt kêu lên. "Lạy Chúa! Anh đang lo sợ điều gì cơ chứ?"
"Mọi thứ trên đời!" Athos trầm ngâm đáp.
D'Artagnan đưa mắt quan sát gương mặt của những người anh em đồng sinh cộng tử. Giống như Athos, sâu thẳm trong ánh mắt họ đều hiện lên một nỗi âu lo trĩu nặng. Cả nhóm tiếp tục cuộc hành trình, phóng ngựa đi nhanh hết mức có thể, bỏ lại phía sau một bầu không gian tĩnh lặng kéo dài, không ai nói với ai thêm một lời nào nữa.
Vào chiều tối ngày hai mươi lăm, khi nhóm bạn tiến vào Arras, D'Artagnan vừa bước xuống ngựa trước cửa quán trọ Cái Bừa Vàng để nhấp một ngụm rượu thì một gã kỵ sĩ phóng vọt ra khỏi sân trạm. Hắn cưỡi một con ngựa mới thay, phi nước đại thẳng tiến về hướng Paris. Vừa lúc hắn vụt qua cổng quán để ra đường cái, một cơn gió bất thần thổi tung chiếc áo choàng mà hắn đã khoác kín mít dù đương giữa tháng Tám, đồng thời hất văng cả chiếc mũ trên đầu. Gã lữ khách vội đưa tay chộp lấy chiếc mũ khi nó vừa chực bay đi, rồi vội vã kéo sụp vành mũ xuống che khuất nửa khuôn mặt.
D'Artagnan vẫn luôn dán chặt mắt vào gã đàn ông nọ. Chàng chợt tái mét mặt mày, đánh rơi cả ly rượu xuống đất.
"Có chuyện gì vậy, thưa ngài?" Planchet hoảng hốt kêu lên. "Ôi, mau lại đây các ngài ơi, chủ nhân của tôi phát bệnh rồi!"
Ba người bạn vội vã chạy ùa tới chỗ D'Artagnan. Chàng ngự lâm trẻ tuổi chẳng hề ốm đau gì sất, mà đang lao vùn vụt về phía con ngựa của mình. Ba người liền túm lấy cậu ở ngay ngưỡng cửa.
"Chà, cậu định đi đâu thế này?" Athos kêu lên.
"Chính là hắn!" D'Artagnan gằn giọng thốt lên, khuôn mặt nhợt nhạt vì giận dữ, trán rịn đầy mồ hôi. "Chính là hắn! Hãy để tôi đuổi theo hắn!"
"Hắn? Hắn nào?" Athos gặng hỏi.
"Hắn, cái gã đàn ông vừa rồi đó!"
"Người đàn ông nào cơ?"
"Cái gã khốn kiếp đó, khắc tinh của tôi, kẻ mà hễ mỗi lần có tai họa đe dọa giáng xuống đầu tôi là tôi lại đụng mặt. Kẻ đã tháp tùng người đàn bà tàn độc nọ vào lần đầu tiên tôi chạm trán ả. Kẻ mà tôi đã mải miết đuổi theo để rồi lỡ đắc tội với anh Athos của chúng ta đây. Kẻ mà tôi đã tận mắt nhìn thấy vào đúng cái buổi sáng bà Bonacieux bị bắt cóc. Tôi đã nhìn thấy hắn, chắc chắn là hắn! Lúc gió thổi tung chiếc áo choàng, tôi đã nhận ra ngay khuôn mặt hắn."
"Chết tiệt thật!" Athos trầm ngâm lẩm bẩm.
"Lên ngựa, các ngài! Lên ngựa! Chúng ta phải đuổi theo, nhất định sẽ tóm được hắn!"
"Bạn thân mến," Aramis điềm tĩnh khuyên can, "hãy nhớ rằng gã đó đang đi theo hướng ngược lại với chúng ta. Hắn lại cưỡi một con ngựa mới thay, trong khi ngựa của chúng ta đều đã mệt nhoài. Nếu gắng sức, ta chỉ làm lũ ngựa kiệt sức mà chẳng mảy may có chút cơ hội nào tóm được hắn. Hãy để hắn đi, D'Artagnan, việc quan trọng lúc này là cứu người phụ nữ kia."
"Thưa ngài! Thưa ngài!" Một anh chàng giữ ngựa vừa cuống cuồng chạy vụt ra vừa đăm đăm nhìn theo bóng lưng kẻ lạ mặt mà gọi lớn. "Thưa ngài, có một mảnh giấy rớt ra từ mũ của ngài đây này! Này, thưa ngài, này!"
"Anh bạn," D'Artagnan lên tiếng, "nửa đồng pistole cho mảnh giấy đó, được không!"
"Ôi, thưa ngài, rất sẵn lòng ạ! Của ngài đây!"
Anh chàng giữ ngựa, sung sướng khôn tả với món hời lớn từ trên trời rơi xuống, hớn hở quay trở lại sân trạm. D'Artagnan vội vàng giở mảnh giấy ra.
"Sao rồi?" cả ba người bạn đồng thanh háo hức hỏi.
"Chỉ có đúng một từ!" D'Artagnan đáp.
"Đúng vậy," Aramis nhận định, "nhưng từ đó là tên của một thị trấn hoặc một ngôi làng nào đó."
"Armentières," Porthos rướn người đọc to. "Armentières ư? Tôi chưa từng nghe đến nơi nào như vậy."
"Và cái tên của thị trấn hoặc ngôi làng đó lại được viết bằng nét chữ của cô ta!" Athos kinh ngạc thốt lên.
"Đi nào, đi thôi!" D'Artagnan giục giã. "Chúng ta hãy cất kỹ mảnh giấy này, có lẽ tôi đã không vứt ném nửa đồng pistole đi một cách hoài phí đâu. Lên ngựa, các bạn của tôi, lên ngựa thẳng tiến!"
Và thế là, bốn người bạn cùng nhau tung vó ngựa, phóng nước đại dọc theo con đường hướng thẳng đến Béthune.
-
Tên gọi chính thức của nước Cộng hòa Hà Lan vào thế kỷ 17 (Cộng hòa Bảy tỉnh Liên hiệp Hà Lan). ↩
-
Ngày lễ tưởng niệm Vua Louis IX của Pháp (người được Giáo hội phong thánh), diễn ra vào ngày 25 tháng Tám hàng năm. Chi tiết này giúp lý giải mốc thời gian trong chuyến đi của các nhân vật. ↩
-
Một hình thức đi săn tiêu khiển của giới quý tộc xưa, trong đó họ huấn luyện chim ưng hoặc chim cắt để săn bắt các loài chim khác (như chim ác là) ở ngoài tự nhiên. ↩
Chapter LX. IN FRANCE
The first fear of the King of England, Charles I., on learning of the death of the duke, was that such terrible news might discourage the Rochellais; he tried, says Richelieu in his Memoirs, to conceal it from them as long as possible, closing all the ports of his kingdom, and carefully keeping watch that no vessel should sail until the army which Buckingham was getting together had gone, taking upon himself, in default of Buckingham, to superintend the departure.
He carried the strictness of this order so far as to detain in England the ambassadors of Denmark, who had taken their leave, and the regular ambassador of Holland, who was to take back to the port of Flushing the Indian merchantmen of which Charles I. had made restitution to the United Provinces.
But as he did not think of giving this order till five hours after the event-that is to say, till two o’clock in the afternoon-two vessels had already left the port, the one bearing, as we know, Milady, who, already anticipating the event, was further confirmed in that belief by seeing the black flag flying at the masthead of the admiral’s ship.
As to the second vessel, we will tell hereafter whom it carried, and how it set sail.
During this time nothing new occurred in the camp at La Rochelle; only the king, who was bored, as always, but perhaps a little more so in camp than elsewhere, resolved to go incognito and spend the festival of St. Louis at St. Germain, and asked the cardinal to order him an escort of only twenty Musketeers. The cardinal, who sometimes became weary of the king, granted this leave of absence with great pleasure to his royal lieutenant, who promised to return about the fifteenth of September.
M. de Tréville, being informed of this by his Eminence, packed his portmanteau; and as without knowing the cause he knew the great desire and even imperative need which his friends had of returning to Paris, it goes without saying that he fixed upon them to form part of the escort.
The four young men heard the news a quarter of an hour after M. de Tréville, for they were the first to whom he communicated it. It was then that D’Artagnan appreciated the favor the cardinal had conferred upon him in making him at last enter the Musketeers-for without that circumstance he would have been forced to remain in the camp while his companions left it.
It goes without saying that this impatience to return toward Paris had for a cause the danger which Mme. Bonacieux would run of meeting at the convent of Béthune with Milady, her mortal enemy. Aramis therefore had written immediately to Marie Michon, the seamstress at Tours who had such fine acquaintances, to obtain from the queen authority for Mme. Bonacieux to leave the convent, and to retire either into Lorraine or Belgium. They had not long to wait for an answer. Eight or ten days afterward Aramis received the following letter:
“MY DEAR COUSIN, Here is the authorization from my sister to withdraw our little servant from the convent of Béthune, the air of which you think is bad for her. My sister sends you this authorization with great pleasure, for she is very partial to the little girl, to whom she intends to be more serviceable hereafter.
“I salute you,
“MARIE MICHON”
To this letter was added an order, conceived in these terms:
“At the Louvre, August 10, 1628
“The superior of the convent of Béthune will place in the hands of the person who shall present this note to her the novice who entered the convent upon my recommendation and under my patronage.
“ANNE”
It may be easily imagined how the relationship between Aramis and a seamstress who called the queen her sister amused the young men; but Aramis, after having blushed two or three times up to the whites of his eyes at the gross pleasantry of Porthos, begged his friends not to revert to the subject again, declaring that if a single word more was said to him about it, he would never again implore his cousins to interfere in such affairs.
There was no further question, therefore, about Marie Michon among the four Musketeers, who besides had what they wanted: that was, the order to withdraw Mme. Bonacieux from the convent of the Carmelites of Béthune. It was true that this order would not be of great use to them while they were in camp at La Rochelle; that is to say, at the other end of France. Therefore D’Artagnan was going to ask leave of absence of M. de Tréville, confiding to him candidly the importance of his departure, when the news was transmitted to him as well as to his three friends that the king was about to set out for Paris with an escort of twenty Musketeers, and that they formed part of the escort.
Their joy was great. The lackeys were sent on before with the baggage, and they set out on the morning of the sixteenth.
The cardinal accompanied his Majesty from Surgères to Mauzes; and there the king and his minister took leave of each other with great demonstrations of friendship.
The king, however, who sought distraction, while traveling as fast as possible-for he was anxious to be in Paris by the twenty-third-stopped from time to time to fly the magpie, a pastime for which the taste had been formerly inspired in him by de Luynes, and for which he had always preserved a great predilection. Out of the twenty Musketeers sixteen, when this took place, rejoiced greatly at this relaxation; but the other four cursed it heartily. D’Artagnan, in particular, had a perpetual buzzing in his ears, which Porthos explained thus: “A very great lady has told me that this means that somebody is talking of you somewhere.”
At length the escort passed through Paris on the twenty-third, in the night. The king thanked M. de Tréville, and permitted him to distribute furloughs for four days, on condition that the favored parties should not appear in any public place, under penalty of the Bastille.
The first four furloughs granted, as may be imagined, were to our four friends. Still further, Athos obtained of M. de Tréville six days instead of four, and introduced into these six days two more nights-for they set out on the twenty-fourth at five o’clock in the evening, and as a further kindness M. de Tréville post-dated the leave to the morning of the twenty-fifth.
“Good Lord!” said D’Artagnan, who, as we have often said, never stumbled at anything. “It appears to me that we are making a great trouble of a very simple thing. In two days, and by using up two or three horses (that’s nothing; I have plenty of money), I am at Béthune. I present my letter from the queen to the superior, and I bring back the dear treasure I go to seek-not into Lorraine, not into Belgium, but to Paris, where she will be much better concealed, particularly while the cardinal is at La Rochelle. Well, once returned from the country, half by the protection of her cousin, half through what we have personally done for her, we shall obtain from the queen what we desire. Remain, then, where you are, and do not exhaust yourselves with useless fatigue. Myself and Planchet are all that such a simple expedition requires.”
To this Athos replied quietly: “We also have money left-for I have not yet drunk all my share of the diamond, and Porthos and Aramis have not eaten all theirs. We can therefore use up four horses as well as one. But consider, D’Artagnan,” added he, in a tone so solemn that it made the young man shudder, “consider that Béthune is a city where the cardinal has given rendezvous to a woman who, wherever she goes, brings misery with her. If you had only to deal with four men, D’Artagnan, I would allow you to go alone. You have to do with that woman! We four will go; and I hope to God that with our four lackeys we may be in sufficient number.”
“You terrify me, Athos!” cried D’Artagnan. “My God! what do you fear?”
“Everything!” replied Athos.
D’Artagnan examined the countenances of his companions, which, like that of Athos, wore an impression of deep anxiety; and they continued their route as fast as their horses could carry them, but without adding another word.
On the evening of the twenty-fifth, as they were entering Arras, and as D’Artagnan was dismounting at the inn of the Golden Harrow to drink a glass of wine, a horseman came out of the post yard, where he had just had a relay, started off at a gallop, and with a fresh horse took the road to Paris. At the moment he passed through the gateway into the street, the wind blew open the cloak in which he was wrapped, although it was in the month of August, and lifted his hat, which the traveler seized with his hand the moment it had left his head, pulling it eagerly over his eyes.
D’Artagnan, who had his eyes fixed upon this man, became very pale, and let his glass fall.
“What is the matter, monsieur?” said Planchet. “Oh, come, gentlemen, my master is ill!”
The three friends hastened toward D’Artagnan, who, instead of being ill, ran toward his horse. They stopped him at the door.
“Well, where the devil are you going now?” cried Athos.
“It is he!” cried D’Artagnan, pale with anger, and with the sweat on his brow, “it is he! let me overtake him!”
“He? What he?” asked Athos.
“He, that man!”
“What man?”
“That cursed man, my evil genius, whom I have always met with when threatened by some misfortune, he who accompanied that horrible woman when I met her for the first time, he whom I was seeking when I offended our Athos, he whom I saw on the very morning Madame Bonacieux was abducted. I have seen him; that is he! I recognized him when the wind blew upon his cloak.”
“The devil!” said Athos, musingly.
“To saddle, gentlemen! to saddle! Let us pursue him, and we shall overtake him!”
“My dear friend,” said Aramis, “remember that he goes in an opposite direction from that in which we are going, that he has a fresh horse, and ours are fatigued, so that we shall disable our own horses without even a chance of overtaking him. Let the man go, D’Artagnan; let us save the woman.”
“Monsieur, monsieur!” cried a hostler, running out and looking after the stranger, “monsieur, here is a paper which dropped out of your hat! Eh, monsieur, eh!”
“Friend,” said D’Artagnan, “a half-pistole for that paper!”
“My faith, monsieur, with great pleasure! Here it is!”
The hostler, enchanted with the good day’s work he had done, returned to the yard. D’Artagnan unfolded the paper.
“Well?” eagerly demanded all his three friends.
“Nothing but one word!” said D’Artagnan.
“Yes,” said Aramis, “but that one word is the name of some town or village.”
“Armentières,” read Porthos; “Armentières? I don’t know such a place.”
“And that name of a town or village is written in her hand!” cried Athos.
“Come on, come on!” said D’Artagnan; “let us keep that paper carefully, perhaps I have not thrown away my half-pistole. To horse, my friends, to horse!”
And the four friends flew at a gallop along the road to Béthune.