Chương LXIV. NGƯỜI ĐÀN ÔNG ÁO ĐỎ
Nỗi tuyệt vọng của Athos dần nhường chỗ cho một niềm đau nén lặng, và chính sự kìm nén ấy càng mài giũa thêm trí tuệ sáng suốt vốn có của người đàn ông phi thường.
Bị thôi thúc bởi một ý niệm duy nhất-lời thề đã thốt ra và trọng trách đang gánh vác-anh là người cuối cùng trở về phòng. Nhờ chủ quán tìm giúp một tấm bản đồ của vùng, anh cúi mình xem xét, rà soát tường tận từng ngả đường được vạch ra. Nhận thấy từ Béthune đến Armentières có bốn lối đi khác nhau, anh liền cho gọi các người hầu tới.
Planchet, Grimaud, Bazin và Mousqueton nhất tề có mặt. Họ đón nhận những mệnh lệnh rành rọt, quả quyết và đanh thép từ Athos.
Các ngươi phải nhổ neo ngay lúc rạng đông ngày mai để tỏa đi Armentières-mỗi người theo một ngả khác nhau. Planchet, kẻ lanh lợi nhất nhóm, sẽ bám theo vết bánh của cỗ xe ngựa đã bị bốn người bạn nổ súng đánh chặn, cỗ xe từng được tên hầu của Rochefort theo hầu, như đã nhắc tới từ trước.
Athos ưu tiên giao phó nhiệm vụ cho các người hầu, bởi lẽ trong suốt thời gian họ đi theo phục vụ anh và bầu bạn, anh đã sớm nhìn thấu những phẩm chất sắc bén và chuyên biệt ở từng người. Thêm nữa, những kẻ hầu hạ lân la dò hỏi sẽ ít khơi dậy sự đề phòng hơn là các bậc chủ nhân, và họ cũng dễ dàng lấy được thiện cảm từ những kẻ bị gạn hỏi. Quan trọng hơn cả, Milady quen mặt các chủ nhân nhưng lại chẳng mảy may biết đến đám người hầu; trong khi đó, họ lại nắm rõ ả tới từng đường tơ kẽ tóc.
Cả bốn người phải tập hợp vào đúng mười một giờ sáng hôm sau. Nếu phát hiện ra sào huyệt của Milady, ba người sẽ phục kích canh gác; người còn lại phải tức tốc phi ngựa về Béthune để bẩm báo cho Athos, đồng thời dẫn đường cho bốn người bạn. Sau khi đâu vào đấy, đám người hầu nhất tề lui gót.
Athos bèn đứng dậy khỏi ghế, thắt kiếm ngang hông, quấn tấm áo choàng rồi cất bước rời khỏi nhà trọ. Lúc bấy giờ đã ngót nghét mười giờ đêm. Giờ đó, như lệ thường ở các thị trấn tỉnh lẻ, phố xá vốn thưa thớt bóng người. Ấy vậy mà, Athos lại lộ rõ vẻ nôn nóng, tha thiết muốn tóm được một ai đó để cất lời thăm hỏi. Rốt cuộc, anh cũng chạm mặt một kẻ bộ hành đi ngang qua trong đêm muộn. Anh tiến bước tới chỗ ông ta và thì thầm vài lời. Kẻ bị hỏi vội vã lùi lại trong hoảng loạn, chỉ đáp lại vài lời của chàng ngự lâm quân bằng một cái chỉ tay đứt quát. Athos ngỏ ý ban cho người đàn ông nửa đồng pistole cốt để ông ta chịu đi cùng mình, nhưng kẻ nọ một mực cự tuyệt.
Athos liền cất bước vào con phố mà gã đàn ông vừa vạch ngón tay chỉ lối. Thế nhưng, khi đến một ngã tư đường, anh lại khựng bước, tỏ vẻ bối rối. Dù vậy, anh vẫn đứng sững lại đó, bởi chưng ngã tư chính là chốn trao cho anh nhiều cơ may bắt gặp người qua lại hơn bất cứ nơi nào khác. Chừng vài phút sau, một người gác đêm rảo bước ngang qua. Athos cất lời lặp lại câu hỏi y đúc như những gì anh đã dò hỏi kẻ đầu tiên. Người gác đêm nọ cũng lộ rõ vẻ khiếp đảm chẳng kém, đến lượt ông ta cũng khước từ việc đồng hành cùng Athos, chỉ lặng lẽ đưa tay chỉ hướng con đường mà anh cần phải đi.
Athos bám theo hướng vừa được chỉ định, cứ thế tiến đến vùng ngoại ô nằm tĩnh lặng ở phía đối lập của thành phố so với cửa ngõ mà anh cùng các bạn từng đi vào. Tại chốn này, anh lại tỏ vẻ băn khoăn và lúng túng, rồi dừng gót lần thứ ba.
May mắn thay, một gã ăn mày lê bước ngang qua, tiến thẳng đến chỗ Athos để ngửa tay xin bố thí. Athos liền ngỏ ý trả cho gã nửa đồng crown để gã chịu dẫn đường đến nơi anh cần đến. Gã ăn mày thoạt tiên hãy còn ngần ngừ, nhưng khi bắt gặp ánh bạc lấp lánh lóe lên trong màn đêm, gã gật đầu ưng thuận và sải bước đi trước Athos.
Khi đến góc một con phố, gã chỉ tay về phía một căn nhà nhỏ bé, đứng trơ trọi, hiu hắt và nhuốm màu ảm đạm. Athos dảo bước tiến về phía ngôi nhà, trong lúc gã ăn mày, ngay sau khi vơ lấy phần thưởng, đã ba chân bốn cẳng chuồn mất dạng.
Athos rảo bước quanh ngôi nhà một vòng trước khi mắt anh có thể phân định được đâu là cánh cửa, nằm lẩn khuất giữa lớp sơn đỏ rực của cả khối nhà. Chẳng một tia sáng nào le lói lọt qua khe hở của những cánh cửa chớp; cũng chẳng có lấy một âm thanh nào chứng tỏ chốn này có người sinh sống. Nơi đây tăm tối và lặng ngắt như một nấm mồ.
Athos nện cửa ba lần nhưng chẳng có lấy một lời hồi đáp. Thế nhưng, ở tiếng gõ thứ ba, những tiếng bước chân rộn lên từ bên trong. Rốt cuộc cánh cửa cũng hé mở, và một người đàn ông hiện diện. Người này vóc dáng cao lớn, nước da nhợt nhạt, để râu và tóc đen tuyền.
Athos và ông ta trao đổi vài lời bằng chất giọng trầm đục, đoạn người đàn ông cao lớn ra hiệu cho chàng ngự lâm quân bước vào trong. Athos chớp ngay lấy sự ưng thuận ấy, và cánh cửa khép chặt lại sau lưng anh.
Người đàn ông mà Athos lặn lội cất công tìm kiếm, người mà anh phải vất vả lắm mới rò ra tung tích, đã dẫn anh vào thẳng phòng thí nghiệm của mình. Tại đó, ông ta đang chúi mũi dùng những sợi dây sắt để ráp nối các khúc xương khô của một bộ hài cốt người. Toàn bộ khung xương đã được lắp ghép hoàn chỉnh, chỉ trừ phần hộp sọ vẫn còn nằm chỏng chơ trên mặt bàn.
Tất thảy những món đồ đạc còn sót lại đều phơi bày một điều: người ngụ trong căn nhà này đắm chìm vào việc nghiên cứu khoa học tự nhiên. Kia là những bình thủy tinh cỡ lớn chứa đầy những con rắn, được dán nhãn phân loại kỹ càng; này là những con thằn lằn phơi khô phát ra thứ ánh sáng tựa ngọc lục bảo được lồng trong những khung gỗ đen đồ sộ. Còn vắt vẻo trên trần nhà và buông thõng xuống các góc phòng là những chùm thảo dược hoang dã tỏa hương ngai ngái, ắt hẳn ẩn chứa những công dụng bí truyền mà người thường không tài nào biết được. Chẳng có lấy một mái ấm gia đình, cũng chẳng có bóng dáng người hầu kẻ hạ; người đàn ông cao lớn ấy sống thui thủi một mình giữa ngôi nhà trơ trọi.
Athos phóng tầm mắt lạnh lùng và dửng dưng lướt qua những món đồ vật vừa được miêu tả. Theo lời mời của người mà anh cất công tìm kiếm, anh lặng lẽ ngồi xuống cạnh ông ta.
Đoạn, anh phân trần cho ông ta rõ ngọn nguồn của chuyến viếng thăm, cùng cái sự vụ mà anh đang cần đến ông ta. Nhưng anh chỉ vừa mới tỏ bày xong bề yêu cầu, gã lạ mặt, người vốn nãy giờ vẫn đứng trân trân trước chàng ngự lâm quân, đã giật lùi lại với vẻ mặt kinh hoảng tột độ và một mực chối từ. Thấy thế, Athos điềm nhiên rút từ trong túi áo ra một mẩu giấy nhỏ, phía trên có biên hai dòng chữ, kèm theo một chữ ký và một con dấu, rồi chìa nó ra cho kẻ vừa hối hả bộc lộ thái độ chống đối. Người đàn ông cao lớn nọ vừa đưa mắt quét qua hai dòng chữ, nhìn thấy chữ ký và nhận diện được con dấu, liền rạp đầu xuống như để thể hiện rằng ông ta không còn dám hé răng phản bác nửa lời, và hoàn toàn quy phục tuân lệnh.
Athos chẳng đòi hỏi gì thêm. Anh đứng phắt dậy, cúi đầu chào, rảo bước ra ngoài, rồi quay trở lại đúng con đường anh đã đến, bước vào nhà trọ và trở về phòng mình.
Khi rạng đông vừa hé, D’Artagnan bước vào phòng và hỏi xem họ cần phải làm gì.
"Chờ đợi," Athos đáp lời.
Vài phút sau, bề trên của tu viện sai người đến báo cho các ngự lâm quân biết lễ tang sẽ cử hành vào buổi trưa. Về phần kẻ đầu độc, tuyệt nhiên không có chút tin tức nào, ngoại trừ phỏng đoán ả đã trốn thoát qua khu vườn. Trên mặt cát vẫn in hằn những dấu chân của ả, nhưng cánh cửa vườn đã bị khóa chặt. Chiếc chìa khóa cũng không cánh mà bay.
Đến giờ đã định, Huân tước de Winter cùng bốn người bạn tiến vào tu viện. Tiếng chuông trầm mặc vang lên, cửa nhà nguyện mở rộng, nhưng tấm rào chấn song ngăn cách khu vực hát thánh ca đã đóng kín. Giữa khu vực ấy, thi hài người thiếu phụ xấu số, khoác trên mình bộ áo dòng tĩnh lặng, được đặt trang trọng ngay chính giữa. Ở hai bên và phía sau những chấn song mở thông vào tu viện, toàn thể cộng đồng nữ tu dòng Cát Minh1 đã tụ họp đông đủ. Họ thành kính lắng nghe buổi lễ thiêng liêng, hòa chung giọng hát với các linh mục mà chẳng cần nhìn thấy hay để cho bất kỳ phàm nhân nào nhìn thấy mình.
Ngay tại cửa nhà nguyện, D’Artagnan lại cảm thấy dũng khí trong lòng vơi dần. Cậu quay lại tìm Athos, nhưng người bạn của cậu đã biến mất từ lúc nào.
Quyết tâm theo đuổi sứ mệnh báo thù, Athos đã yêu cầu được dẫn ra khu vườn. Tại đó, lần theo những dấu chân nhẹ nhàng in hằn rõ nét trên nền cát mà người đàn bà kia để lại dọc đường đi, anh tiến thẳng về phía cánh cửa thông ra bìa rừng. Anh yêu cầu mở cửa rồi lặng lẽ bước ra ngoài.
Sau đó, mọi nghi ngờ của anh đều được xác thực; con đường mà cỗ xe ngựa chạy trốn uốn lượn quanh khu rừng. Athos men theo con đường ấy một lúc, ánh mắt dán chặt xuống mặt đất. Những vệt máu mờ nhạt, rỉ ra từ vết thương của gã đàn ông cưỡi ngựa hộ tống hoặc từ một trong những con ngựa kéo, lốm đốm rơi vãi trên đường. Đi được khoảng ba phần tư dặm, khi chỉ còn cách Festubert chừng năm mươi bước chân, một vết máu lớn hơn hiện ra; mặt đất quanh đó bị móng ngựa giẫm nát bươm. Nằm giữa khu rừng và cái nơi đáng nguyền rủa này, hơi lùi lại phía sau chỗ đất bị cày xới một chút, lại hiện lên những dấu chân nhỏ nhắn y hệt như trong khu vườn. Cỗ xe ngựa đã dừng lại ngay tại đây. Và cũng chính tại nơi này, Milady đã bước ra khỏi rừng để leo lên xe tẩu thoát.
Thỏa mãn với phát hiện vừa rồi-manh mối đã xác thực mọi mối nghi ngờ của mình-Athos trở về nhà trọ. Tại đây, ngài bắt gặp Planchet đang sốt ruột chờ đợi.
Mọi chuyện quả nhiên diễn ra đúng như dự tính của Athos.
Planchet đã cất bước men theo con đường. Cũng giống như Athos, gã phát hiện ra những vệt máu vương vãi, cũng ghi nhớ kỹ nơi bầy ngựa từng dừng chân. Nhưng gã còn tiến xa hơn Athos. Khi ghé vào một quán trọ ở làng Festubert để nhâm nhi ly rượu, Planchet chẳng cần cất lời dò hỏi cũng nghe ngóng được tin tức: vào lúc tám giờ rưỡi tối hôm trước, một người đàn ông bị thương hộ tống một phu nhân trên chiếc xe trạm2 đã phải dừng bước vì không thể gắng gượng thêm. Người ta kháo nhau rằng tai nạn là do bọn cướp chặn xe giữa rừng gây ra. Kẻ bị thương đành nán lại ngôi làng, còn người đàn bà lập tức đổi một trạm ngựa khác để đi tiếp.
Planchet liền đi tìm tay xà ích đã đánh cỗ xe nọ và sớm tìm ra hắn. Tay này cho biết đã đưa người phụ nữ đến tận Fromelles; từ Fromelles, ả tiếp tục lên đường hướng về Armentières. Chớp lấy thời cơ, Planchet chọn một lối đi tắt, và trước bảy giờ sáng, gã đã có mặt tại Armentières.
Nơi đó chỉ có một quán trọ duy nhất mang tên Bưu Điện. Planchet bước vào, đóng giả làm một gã hầu đang thất nghiệp muốn kiếm việc làm. Trò chuyện với đám người trong quán chưa đầy mười phút, gã đã dò la được thông tin đắt giá: khoảng mười một giờ đêm qua, có một người phụ nữ đã đến đây một mình. Ả thuê một căn phòng, cho gọi ông chủ quán lên và đánh tiếng rằng mình định lưu lại vùng này một thời gian.
Với Planchet, ngần ấy thông tin đã là quá đủ. Gã tức tốc đến điểm hẹn, thấy những người hầu khác đều đã tề tựu đông đủ. Gã cẩn thận cắt cử họ canh gác quanh mọi lối ra vào của nhà trọ, rồi vội vã quay về báo cáo cho Athos. Vị quý tộc vừa nghe xong những tin tức này thì những người bạn của ngài cũng bước vào.
Gương mặt ai nấy đều hằn lên vẻ u sầu và ảm đạm; ngay cả nét mặt vốn hiền hòa của Aramis nay cũng đượm buồn.
"Chúng ta phải làm gì đây?" D'Artagnan cất tiếng hỏi.
"Chờ đợi!" Athos đáp.
Thế rồi, mỗi người lặng lẽ trở về căn phòng riêng của mình.
Lúc tám giờ tối, Athos truyền lệnh đóng yên ngựa, đồng thời báo cho Huân tước de Winter cùng các bạn mình chuẩn bị lên đường.
Chỉ trong chốc lát, cả năm người đã tề chỉnh. Ai nấy đều cẩn thận kiểm tra vũ khí và sửa soạn tươm tất. Athos bước xuống sau cùng, lúc này D’Artagnan đã chễm chệ trên lưng ngựa, bắt đầu tỏ ra sốt ruột.
"Kiên nhẫn nào!" Athos cất tiếng, "Nhóm chúng ta vẫn còn thiếu một người."
Bốn kỵ binh kinh ngạc đưa mắt nhìn quanh, trong đầu cố lục lọi xem người vắng mặt kia có thể là ai.
Vừa lúc đó, Planchet dắt ngựa của Athos tới; chàng ngự lâm quân nhẹ nhàng xoay người nhảy phốc lên yên.
"Đợi tôi một lát," anh nói, "tôi sẽ quay lại ngay." Nói rồi, anh thúc ngựa lao đi nước đại.
Một phần tư giờ sau, anh quay trở lại, đi theo sau là một người đàn ông vóc dáng cao lớn, khuôn mặt giấu kín sau chiếc mặt nạ và toàn thân quấn gọn trong một tấm áo choàng lớn màu đỏ.
Huân tước de Winter cùng ba chàng ngự lâm quân đưa mắt nhìn nhau đầy dò hỏi. Thế nhưng chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời, bởi tất thảy đều không biết danh tính của người đàn ông bí ẩn này. Dù vậy, họ vẫn tin chắc rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa, bởi mọi bề đều do một tay Athos thu xếp.
Đúng chín giờ, dưới sự dẫn đường của Planchet, toán kỵ binh nhỏ bắt đầu khởi hành, bám sát theo dấu vết lộ trình của cỗ xe ngựa kia.
Đó quả là một cảnh tượng u sầu-sáu người đàn ông lặng lẽ tiến bước trong câm lặng, mỗi người chìm sâu vào những dòng suy tưởng của riêng mình. Bầu không khí quẩn quanh nét buồn bã như tận cùng của sự tuyệt vọng, nặng nề và ảm đạm tựa một bản án trừng phạt.
-
Dòng Cát Minh (Carmelite) là một dòng tu Công giáo. Các nữ tu của dòng này thường chọn lối sống khép kín (ẩn tu), tách biệt với thế giới bên ngoài để tập trung cầu nguyện. Điều này giải thích vì sao họ tham dự thánh lễ sau các chấn song và không để cho phàm nhân nhìn thấy. ↩
-
Loại xe ngựa chở khách thời xưa, di chuyển trên các tuyến đường cố định. Xe thường dừng tại các trạm dọc đường để thay ngựa mới, giúp duy trì tốc độ di chuyển nhanh chóng và liên tục trên những quãng đường dài. ↩
Chapter LXIV. THE MAN IN THE RED CLOAK
The despair of Athos had given place to a concentrated grief which only rendered more lucid the brilliant mental faculties of that extraordinary man.
Possessed by one single thought-that of the promise he had made, and of the responsibility he had taken-he retired last to his chamber, begged the host to procure him a map of the province, bent over it, examined every line traced upon it, perceived that there were four different roads from Béthune to Armentières, and summoned the lackeys.
Planchet, Grimaud, Bazin, and Mousqueton presented themselves, and received clear, positive, and serious orders from Athos.
They must set out the next morning at daybreak, and go to Armentières-each by a different route. Planchet, the most intelligent of the four, was to follow that by which the carriage had gone upon which the four friends had fired, and which was accompanied, as may be remembered, by Rochefort’s servant.
Athos set the lackeys to work first because, since these men had been in the service of himself and his friends he had discovered in each of them different and essential qualities. Then, lackeys who ask questions inspire less mistrust than masters, and meet with more sympathy among those to whom they address themselves. Besides, Milady knew the masters, and did not know the lackeys; on the contrary, the lackeys knew Milady perfectly.
All four were to meet the next day at eleven o’clock. If they had discovered Milady’s retreat, three were to remain on guard; the fourth was to return to Béthune in order to inform Athos and serve as a guide to the four friends. These arrangements made, the lackeys retired.
Athos then arose from his chair, girded on his sword, enveloped himself in his cloak, and left the hôtel. It was nearly ten o’clock. At ten o’clock in the evening, it is well known, the streets in provincial towns are very little frequented. Athos nevertheless was visibly anxious to find someone of whom he could ask a question. At length he met a belated passenger, went up to him, and spoke a few words to him. The man he addressed recoiled with terror, and only answered the few words of the Musketeer by pointing. Athos offered the man half a pistole to accompany him, but the man refused.
Athos then plunged into the street the man had indicated with his finger; but arriving at four crossroads, he stopped again, visibly embarrassed. Nevertheless, as the crossroads offered him a better chance than any other place of meeting somebody, he stood still. In a few minutes a night watch passed. Athos repeated to him the same question he had asked the first person he met. The night watch evinced the same terror, refused, in his turn, to accompany Athos, and only pointed with his hand to the road he was to take.
Athos walked in the direction indicated, and reached the suburb situated at the opposite extremity of the city from that by which he and his friends had entered it. There he again appeared uneasy and embarrassed, and stopped for the third time.
Fortunately, a mendicant passed, who, coming up to Athos to ask charity, Athos offered him half a crown to accompany him where he was going. The mendicant hesitated at first, but at the sight of the piece of silver which shone in the darkness he consented, and walked on before Athos.
Arrived at the angle of a street, he pointed to a small house, isolated, solitary, and dismal. Athos went toward the house, while the mendicant, who had received his reward, left as fast as his legs could carry him.
Athos went round the house before he could distinguish the door, amid the red color in which the house was painted. No light appeared through the chinks of the shutters; no noise gave reason to believe that it was inhabited. It was dark and silent as the tomb.
Three times Athos knocked without receiving an answer. At the third knock, however, steps were heard inside. The door at length was opened, and a man appeared, of high stature, pale complexion, and black hair and beard.
Athos and he exchanged some words in a low voice, then the tall man made a sign to the Musketeer that he might come in. Athos immediately profited by the permission, and the door was closed behind him.
The man whom Athos had come so far to seek, and whom he had found with so much trouble, introduced him into his laboratory, where he was engaged in fastening together with iron wire the dry bones of a skeleton. All the frame was adjusted except the head, which lay on the table.
All the rest of the furniture indicated that the dweller in this house occupied himself with the study of natural science. There were large bottles filled with serpents, ticketed according to their species; dried lizards shone like emeralds set in great squares of black wood, and bunches of wild odoriferous herbs, doubtless possessed of virtues unknown to common men, were fastened to the ceiling and hung down in the corners of the apartment. There was no family, no servant; the tall man alone inhabited this house.
Athos cast a cold and indifferent glance upon the objects we have described, and at the invitation of him whom he came to seek sat down near him.
Then he explained to him the cause of his visit, and the service he required of him. But scarcely had he expressed his request when the unknown, who remained standing before the Musketeer, drew back with signs of terror, and refused. Then Athos took from his pocket a small paper, on which two lines were written, accompanied by a signature and a seal, and presented them to him who had made too prematurely these signs of repugnance. The tall man had scarcely read these lines, seen the signature, and recognized the seal, when he bowed to denote that he had no longer any objection to make, and that he was ready to obey.
Athos required no more. He arose, bowed, went out, returned by the same way he came, re-entered the hôtel, and went to his apartment.
At daybreak D’Artagnan entered the chamber, and demanded what was to be done.
“To wait,” replied Athos.
Some minutes after, the superior of the convent sent to inform the Musketeers that the burial would take place at midday. As to the poisoner, they had heard no tidings of her whatever, only that she must have made her escape through the garden, on the sand of which her footsteps could be traced, and the door of which had been found shut. As to the key, it had disappeared.
At the hour appointed, Lord de Winter and the four friends repaired to the convent; the bells tolled, the chapel was open, the grating of the choir was closed. In the middle of the choir the body of the victim, clothed in her novitiate dress, was exposed. On each side of the choir and behind the gratings opening into the convent was assembled the whole community of the Carmelites, who listened to the divine service, and mingled their chant with the chant of the priests, without seeing the profane, or being seen by them.
At the door of the chapel D’Artagnan felt his courage fall anew, and returned to look for Athos; but Athos had disappeared.
Faithful to his mission of vengeance, Athos had requested to be conducted to the garden; and there upon the sand following the light steps of this woman, who left sharp tracks wherever she went, he advanced toward the gate which led into the wood, and causing it to be opened, he went out into the forest.
Then all his suspicions were confirmed; the road by which the carriage had disappeared encircled the forest. Athos followed the road for some time, his eyes fixed upon the ground; slight stains of blood, which came from the wound inflicted upon the man who accompanied the carriage as a courier, or from one of the horses, dotted the road. At the end of three-quarters of a league, within fifty paces of Festubert, a larger bloodstain appeared; the ground was trampled by horses. Between the forest and this accursed spot, a little behind the trampled ground, was the same track of small feet as in the garden; the carriage had stopped here. At this spot Milady had come out of the wood, and entered the carriage.
Satisfied with this discovery which confirmed all his suspicions, Athos returned to the hôtel, and found Planchet impatiently waiting for him.
Everything was as Athos had foreseen.
Planchet had followed the road; like Athos, he had discovered the stains of blood; like Athos, he had noted the spot where the horses had halted. But he had gone farther than Athos-for at the village of Festubert, while drinking at an inn, he had learned without needing to ask a question that the evening before, at half-past eight, a wounded man who accompanied a lady traveling in a post-chaise had been obliged to stop, unable to go further. The accident was set down to the account of robbers, who had stopped the chaise in the wood. The man remained in the village; the woman had had a relay of horses, and continued her journey.
Planchet went in search of the postillion who had driven her, and found him. He had taken the lady as far as Fromelles; and from Fromelles she had set out for Armentières. Planchet took the crossroad, and by seven o’clock in the morning he was at Armentières.
There was but one tavern, the Post. Planchet went and presented himself as a lackey out of a place, who was in search of a situation. He had not chatted ten minutes with the people of the tavern before he learned that a woman had come there alone about eleven o’clock the night before, had engaged a chamber, had sent for the master of the hôtel, and told him she desired to remain some time in the neighborhood.
Planchet had no need to learn more. He hastened to the rendezvous, found the lackeys at their posts, placed them as sentinels at all the outlets of the hôtel, and came to find Athos, who had just received this information when his friends returned.
All their countenances were melancholy and gloomy, even the mild countenance of Aramis.
“What is to be done?” asked D’Artagnan.
“To wait!” replied Athos.
Each retired to his own apartment.
At eight o’clock in the evening Athos ordered the horses to be saddled, and Lord de Winter and his friends notified that they must prepare for the expedition.
In an instant all five were ready. Each examined his arms, and put them in order. Athos came down last, and found D’Artagnan already on horseback, and growing impatient.
“Patience!” cried Athos; “one of our party is still wanting.”
The four horsemen looked round them with astonishment, for they sought vainly in their minds to know who this other person could be.
At this moment Planchet brought out Athos’s horse; the Musketeer leaped lightly into the saddle.
“Wait for me,” cried he, “I will soon be back,” and he set off at a gallop.
In a quarter of an hour he returned, accompanied by a tall man, masked, and wrapped in a large red cloak.
Lord de Winter and the three Musketeers looked at one another inquiringly. Neither could give the others any information, for all were ignorant who this man could be; nevertheless, they felt convinced that all was as it should be, as it was done by the order of Athos.
At nine o’clock, guided by Planchet, the little cavalcade set out, taking the route the carriage had taken.
It was a melancholy sight-that of these six men, traveling in silence, each plunged in his own thoughts, sad as despair, gloomy as chastisement.