Chương 14: KẺ ĐẾN TỪ MEUNG

Đám đông xúm đen xúm đỏ không phải để chờ xem một kẻ sắp sửa thắt cổ, mà là mải mê dán mắt vào một kẻ đã bị treo cổ lủng lẳng.

Chiếc xe ngựa khựng lại chừng một phút, rồi tiếp tục lăn bánh, vất vả lách qua đám đông hỗn loạn. Xe rẽ qua phố St. Honoré, luồn lách vào phố Bons Enfants, cuối cùng đỗ xịch trước một cánh cửa thấp lè tè.

Cửa mở. Hai gã vệ binh đỡ lấy Bonacieux từ tay viên sĩ quan đang phải xốc nách ông. Chúng lôi tuột ông qua một hành lang tối tăm, leo lên một bậc thang rồi bỏ mặc ông lại trong phòng chờ.

Suốt dọc đường, ông chẳng hề hay biết gì. Bonacieux lê bước như một kẻ mộng du, đôi mắt lờ đờ nhìn mọi thứ xung quanh mờ ảo qua một bức màn sương. Bên tai văng vẳng đủ thứ âm thanh nhưng tâm trí hoàn toàn trống rỗng. Lẽ ra, dẫu có bị lôi ra pháp trường ngay lúc ấy, ông cũng chẳng màng phản kháng hay hé răng cất lấy một lời van xin.

Ông ngồi bệt trên chiếc băng ghế, lưng thõng tựa vào tường, hai tay buông thõng bất lực, đúng ngay cái tư thế mà lũ vệ binh vừa ném ông xuống.

Thế nhưng, khi ngước mắt nhìn quanh, chẳng thấy đao to búa lớn, cũng chẳng có bóng dáng nào đe dọa sinh mạng, ông dần định thần lại. Chiếc băng ghế êm ái, bức tường bọc da Cordova1 tuyệt mỹ, còn những tấm rèm lụa điểm hoa đỏ tươi, được vén lên bởi mấy chiếc móc vàng rực rỡ, đang khẽ bay lất phất trước cửa sổ. Mối hiểm nguy tử thần hóa ra chỉ là do ông tự mình dọa mình. Thế là ông rụt rè xoay đầu ngó nghiêng, liếc dọc liếc ngang.

Chẳng thấy ai quát nạt, ông bèn vớt vát lại chút can đảm, rụt rè thu một chân lại rồi đến chân kia. Cuối cùng, phải chống cả hai tay, ông mới có thể nâng cái thân hình nặng nề của mình ra khỏi chiếc băng ghế để đứng thẳng dậy.

Đúng lúc đó, một viên sĩ quan có khuôn mặt khá hiền từ đẩy cửa bước vào. Y ngoái lại trao đổi vài câu với ai đó ở phòng bên trước khi bước đến chỗ người tù binh.

"Tên ông là Bonacieux phải không?" y hỏi.

"Vâng, thưa ngài," người chủ tiệm tạp hóa lắp bắp, hồn xiêu phách lạc. "Tôi xin nghe lệnh."

"Vào đi," viên sĩ quan nói.

Nói đoạn, y né sang một bên nhường lối. Bonacieux cúi đầu tuân lệnh, răm rắp bước vào căn phòng nơi dường như người ta đang chực sẵn để đón ông.

Đó là một thư phòng rộng thênh thang nhưng lại ngột ngạt và kín bưng, bốn bề bày biện đủ loại vũ khí. Lò sưởi đang cháy rực, dẫu lúc này mới chỉ chớm thu. Chính giữa căn phòng là một chiếc bàn vuông vức, xếp đầy giấy tờ sổ sách, phủ lên trên là một tấm bản đồ khổng lồ phác họa thành trì La Rochelle.

Đứng sừng sững trước lò sưởi là một người đàn ông vóc dáng tầm thước nhưng toát lên vẻ ngạo nghễ, uy quyền. Ánh mắt ông sắc lẹm, vầng trán cao rộng, khuôn mặt gầy guộc lại càng thêm dài bởi chòm râu royal - hay imperial2, theo cách người ta vẫn gọi bây giờ - nằm gọn gàng ngay dưới bộ ria mép sắc sảo. Dẫu mới chỉ chừng ba mươi sáu, ba mươi bảy tuổi, nhưng mái tóc, bộ râu đều đã lốm đốm hoa râm. Ngoại trừ việc không mang gươm, người đàn ông ấy toát ra trọn vẹn khí chất của một người lính. Đôi ủng da màu vàng nhạt vẫn còn vương chút bụi đường, minh chứng cho một ngày dài cưỡi ngựa không ngơi nghỉ.

Người đàn ông đó chính là Armand Jean Duplessis, Hồng y Richelieu. Nhưng đây không phải là vị hồng y tiều tụy, khọm rọm như hình ảnh người ta thường khắc họa sau này - một ông lão gầy gò, chịu đựng nỗi đau đớn như một vị tử đạo, lưng còng, giọng thều thào, vùi mình trong chiếc ghế bành lọt thỏm như một nấm mồ định sẵn; một kẻ chỉ còn thoi thóp nhờ sức mạnh trí tuệ, mưu đồ xưng bá châu Âu chỉ bằng những suy tính vô tận. Không, đây là Richelieu ở thời kỳ đỉnh cao phong độ; một hiệp sĩ năng nổ, gan dạ, dẫu thể chất không mấy tráng kiện nhưng lại được chống đỡ bởi một sức mạnh tinh thần phi thường, biến ông thành một trong những vĩ nhân xuất chúng nhất từng tồn tại. Ngay lúc này, sau khi đã hậu thuẫn Công tước xứ Nevers tại lãnh địa Mantua, sau khi đè bẹp Nîmes, Castres và Uzes, ông đang ráo riết chuẩn bị để đánh đuổi quân Anh khỏi Đảo Ré và bủa vây La Rochelle.

Thoạt nhìn, chẳng có dấu hiệu nào cho thấy đây là một vị hồng y. Với những kẻ chưa từng diện kiến, khó lòng mà đoán được họ đang đứng trước mặt ai.

Người chủ tiệm tạp hóa tội nghiệp rúm ró nép mình nơi ngưỡng cửa, trong khi đôi mắt của vị hồng y sắc như dao cau, dán chặt vào ông, như muốn bóc trần mọi bí mật sâu kín nhất trong cuộc đời ông.

"Tên Bonacieux là nhà ngươi đấy sao?" ông hỏi, phá vỡ sự im lặng.

"Vâng, thưa Đức ngài," viên sĩ quan đáp.

"Tốt lắm. Đưa đống giấy tờ kia cho ta, rồi lui ra."

Viên sĩ quan nhanh nhẹn gom mấy tờ giấy trên bàn, cung kính đưa bằng hai tay, rồi cúi rạp người chào trước khi quay bước.

Liếc qua, Bonacieux rụng rời nhận ra đó chính là bản khẩu cung của ông tại nhà ngục Bastille3. Chốc chốc, người đàn ông bên lò sưởi lại rời mắt khỏi những trang giấy, phóng ánh nhìn lạnh lẽo xoáy sâu vào tận tâm can ông chủ tiệm khốn khổ.

Sau mười phút chú tâm đọc và mười giây ngẫm nghĩ, vị hồng y dường như đã tỏ tường.

"Cái đầu này thì làm sao đủ sức bày mưu tính kế," ông khẽ lẩm bẩm, "nhưng chẳng sao; để ta xem thế nào đã."

"Nhà ngươi bị buộc tội phản quốc," vị hồng y cất giọng chậm rãi, rành rọt.

"Tôi cũng đã nghe người ta nói vậy thưa... thưa Đức ngài," Bonacieux thốt lên, vội vã dùng ngay danh xưng mà ông vừa học lỏm từ viên sĩ quan. "Nhưng tôi xin thề có Chúa là tôi chẳng biết mô tê gì cả."

Vị hồng y cố nhịn một nụ cười mỉm.

"Nhà ngươi đã thông đồng với vợ mình, với phu nhân de Chevreuse, và cả với Công tước Buckingham."

"Thưa Đức ngài, quả thật tôi có nghe cô ấy nhắc đến mấy cái tên đó," ông chủ tiệm rụt rè đáp.

"Và trong dịp nào?"

"Cô ấy bảo Hồng y Richelieu đã giăng bẫy dụ Công tước Buckingham đến Paris để tiêu diệt ngài ấy và... và để tiêu diệt cả Vương hậu nữa."

"Cô ta nói thế sao?" vị hồng y gằn giọng, đôi mắt tóe lửa.

"Vâng, thưa Đức ngài, nhưng tôi đã rầy la cô ấy ngay. Tôi bảo cô ấy thật rồ dại khi thốt ra những lời lẽ như vậy, và rằng Đức ngài không đời nào-"

"Câm ngay! Nhà ngươi đúng là một gã ngốc," vị hồng y quát tháo.

"Thưa Đức ngài, vợ tôi cũng vừa mắng tôi y hệt như vậy."

"Nhà ngươi có biết kẻ nào đã bắt cóc vợ mình không?"

"Không, thưa Đức ngài."

"Nhưng nhà ngươi vẫn còn nghi ngờ chứ?"

"Vâng, thưa Đức ngài; nhưng ngài Ủy viên có vẻ không hài lòng về điều đó, nên tôi cũng không dám đoái hoài tới nữa."

"Vợ nhà ngươi đã bỏ trốn rồi. Nhà ngươi có biết chuyện đó không?"

"Trời ơi, không thưa Đức ngài! Tôi chỉ mới biết chuyện khi bị tống giam, qua lời kể của ngài Ủy viên - một người rất đỗi nhã nhặn."

Vị hồng y lại phải nén một nụ cười.

"Vậy là nhà ngươi hoàn toàn mù tịt về tung tích của vợ mình kể từ khi ả bỏ trốn sao?"

"Hoàn toàn mù tịt, thưa Đức ngài; nhưng có khi cô ấy lại mò về điện Louvre rồi cũng nên."

"Tính đến một giờ sáng nay thì ả vẫn bặt vô âm tín."

"Lạy Chúa lòng lành! Vậy thì chuyện gì có thể xảy ra với cô ấy cơ chứ?"

"Cứ yên tâm, chúng ta sẽ sớm biết thôi. Chẳng có điều gì lọt qua khỏi mắt vị hồng y; ngài ấy biết hết mọi chuyện."

"Nếu quả thật là vậy, thưa Đức ngài, ngài có tin rằng vị hồng y sẽ rủ lòng thương mà cho tôi biết vợ tôi đang ở đâu không?"

"Có thể ngài ấy sẽ rộng lượng; nhưng trước hết, nhà ngươi phải khai sạch sành sanh mọi điều nhà ngươi biết về mối quan hệ giữa vợ mình và phu nhân de Chevreuse."

"Nhưng thưa Đức ngài, tôi thề là tôi không biết gì hết; tôi đã từng giáp mặt vị phu nhân ấy bao giờ đâu."

"Thế mỗi lần đến đón vợ từ điện Louvre, nhà ngươi có đưa ả về thẳng nhà không?"

"Chẳng mấy khi, thưa Đức ngài; cô ấy thường vướng bận công chuyện với mấy người thợ may vải lanh, nên tôi hay phải đưa cô ấy đến đó."

"Và có bao nhiêu người thợ may vải lanh như vậy?"

"Hai người, thưa Đức ngài."

"Bọn họ ở đâu?"

"Một người ở phố Vaugirard, người kia ở phố La Harpe."

"Thế nhà ngươi có cùng cô ta vào trong nhà bọn họ không?"

"Chưa bao giờ, thưa Đức ngài; tôi chỉ đứng chầu chực ngoài cửa."

"Vậy ả viện cớ gì để được đi vào một mình?"

"Cô ấy chẳng thèm viện cớ gì sất; cô ấy bảo tôi đứng đợi, thế là tôi đợi."

"Nhà ngươi đúng là một người chồng dễ dãi hiếm thấy đấy, ông Bonacieux thân mến của ta," vị hồng y mỉm cười.

"Ngài ấy gọi mình là ông thân mến," người chủ tiệm mừng thầm trong bụng. "Tạ ơn Chúa! Mọi chuyện êm xuôi rồi."

"Ông có nhận ra những cánh cửa đó không?"

"Có chứ."

"Ông có nhớ số nhà không?"

"Có."

"Đọc lên xem nào."

"Số 25 trên phố Vaugirard; 75 trên phố La Harpe."

"Tốt lắm," vị hồng y gật gù.

Nói rồi, ông cầm lấy chiếc chuông bạc, khẽ rung lên. Viên sĩ quan lập tức bước vào.

"Đi đi," ông hạ giọng, "tìm Rochefort. Bảo hắn đến gặp ta ngay lập tức, nếu hắn đã về."

"Thưa Đức ngài, Bá tước đang ở đây," viên sĩ quan đáp, "ngài ấy đang xin được diện kiến Đức ngài ngay lập tức."

"Vậy thì cho hắn vào!" vị hồng y ra lệnh dứt khoát.

Viên sĩ quan lao ra ngoài với sự lanh lẹ mà mọi tùy tùng của vị hồng y đều đã được trui rèn.

"Với Đức ngài!" Bonacieux há hốc miệng, ngớ người ra kinh ngạc.

Viên sĩ quan đi chưa đầy năm giây, cánh cửa bật mở, và một người mới bước vào.

"Đúng là hắn!" Bonacieux hoảng hốt thét lên.

"Hắn! Hắn nào?" vị hồng y nhướng mày.

"Kẻ đã bắt cóc vợ tôi."

Vị hồng y rung chuông lần thứ hai. Viên sĩ quan lại xuất hiện.

"Giao tên này cho lũ vệ binh, bảo chúng giữ hắn lại, chờ khi nào ta gọi."

"Không, thưa Đức ngài, không, không phải hắn đâu!" Bonacieux cuống cuồng kêu lên; "tôi nhầm rồi. Rõ ràng là một người khác, chẳng giống hắn chút nào. Vị này, tôi dám cá bằng cả tính mạng, là một bậc chính nhân quân tử."

"Đưa gã ngốc này ra ngoài!" vị hồng y khoát tay.

Viên sĩ quan túm lấy cánh tay Bonacieux, lôi tuột ông trở lại phòng chờ, nơi hai gã vệ binh đang đứng gác.

Nhân vật mới xuất hiện nãy giờ vẫn sốt ruột dõi mắt theo Bonacieux. Ngay khi bóng gã vừa khuất và cánh cửa khép lại, y vội vã tiến tới gần vị hồng y:

"Họ đã gặp nhau!"

"Ai cơ?" Đức Hồng y gặng hỏi.

"Người đàn ông đó và cô ta."

"Vương hậu và gã công tước sao?" Richelieu thốt lên.

"Vâng."

"Ở đâu?"

"Ngay tại điện Louvre."

"Khanh có chắc chắn không?"

"Hoàn toàn chắc chắn."

"Ai đã mật báo cho khanh chuyện đó?"

"Phu nhân de Lannoy, một người luôn một lòng tận tâm với Đức ngài, như ngài đã biết."

"Tại sao bà ấy không bẩm báo sớm hơn?"

"Không rõ do tình cờ hay đã sinh lòng cảnh giác, Vương hậu đã lệnh cho phu nhân de Surgis ngủ lại trong phòng và giữ bà ấy bên cạnh suốt cả ngày."

"Thôi được, chúng ta đã đi sau một bước! Giờ thì phải tìm cách phục thù."

"Tôi nguyện dốc toàn tâm toàn ý phò tá Đức ngài; xin ngài cứ yên tâm."

"Chuyện xảy ra thế nào?"

"Vào khoảng mười hai giờ trưa, Vương hậu đang ngồi cùng các thị nữ-"

"Ở đâu?"

"Trong buồng ngủ của ngài ấy-"

"Kể tiếp đi."

"Thì có người tới và dâng lên một chiếc khăn tay từ người thợ giặt."

"Và rồi sao?"

"Vương hậu lập tức tỏ ra vô cùng xúc động; và bất chấp lớp phấn son điểm trang, sắc mặt ngài ấy rõ ràng đã trở nên nhợt nhạt-"

"Và rồi sao nữa?"

"Sau đó, ngài ấy đứng phắt dậy, cất giọng khác hẳn ngày thường: 'Các quý cô,' ngài ấy nói, 'hãy đợi ta mười phút, ta sẽ quay lại ngay.' Đoạn, ngài ấy mở cửa hành lang bí mật và bước ra ngoài."

"Tại sao phu nhân de Lannoy không đến báo cho khanh ngay lập tức?"

"Lúc đó chưa có gì làm bằng chứng; vả lại, Vương hậu đã hạ lệnh 'Các quý cô, hãy đợi ta,' nên bà ấy đâu dám trái lệnh."

"Vương hậu đã đi khỏi đó bao lâu?"

"Ba phần tư giờ."

"Không một thị nữ nào đi theo hầu sao?"

"Chỉ có mình Dona Estefania."

"Sau đó ngài ấy có quay lại không?"

"Có; nhưng chỉ để lấy một chiếc tráp nhỏ bằng gỗ hồng sắc, trên nắp có khắc tên viết tắt của ngài ấy, rồi lại vội vã rời đi ngay."

"Và khi quay lại lần cuối, ngài ấy còn mang theo chiếc tráp đó không?"

"Không."

"Phu nhân de Lannoy có biết bên trong chiếc tráp ấy đựng thứ gì không?"

"Có thưa ngài; là những mặt dây chuyền kim cương mà Quốc vương đã ban tặng."

"Vậy là ngài ấy quay lại với hai bàn tay trắng?"

"Vâng."

"Thế nên phu nhân de Lannoy quả quyết rằng ngài ấy đã trao chúng cho Buckingham?"

"Bà ấy dám chắc về điều đó."

"Làm sao bà ấy lại có thể chắc chắn như vậy?"

"Trong suốt cả ngày hôm ấy, với tư cách là đệ nhất hầu phòng, phu nhân de Lannoy đã cố tình tìm kiếm chiếc tráp, vờ như hốt hoảng khi không thấy nó đâu, và cuối cùng đã đánh bạo dò hỏi Vương hậu."

"Và Vương hậu phản ứng ra sao?"

"Ngài ấy đỏ bừng mặt, đáp rằng vì tối hôm trước đã lỡ làm hỏng một mặt dây chuyền nên đã sai người gửi đến chỗ thợ kim hoàn để tu sửa."

"Phải gọi gã thợ kim hoàn đó đến ngay để đối chứng xem có đúng như vậy không."

"Tôi đã cất công đi tìm gặp ông ta rồi."

"Gã thợ ấy nói sao?"

"Ông ta chẳng hề hay biết gì về chuyện đó."

"Tuyệt, tuyệt lắm! Rochefort, mọi chuyện vẫn chưa phải là ngõ cụt; và có lẽ... có lẽ mọi bề rồi sẽ đâu vào đấy thôi."

"Thú thật là tôi chưa bao giờ mảy may hoài nghi tài trí của Đức ngài-"

"Rằng ta sẽ dọn dẹp sạch sẽ những đống lộn xộn do thuộc hạ gây ra-phải vậy không?"

"Đó đúng là những gì tôi định nói, giá như Đức ngài cho phép tôi được dứt lời."

"Nhưng trước mắt, khanh có biết hiện giờ Nữ công tước de Chevreuse và Công tước Buckingham đang nương náu ở đâu không?"

"Không, thưa Đức ngài; tai mắt của tôi hoàn toàn mất dấu bọn họ."

"Nhưng ta thì biết."

"Đức ngài sao?"

"Phải; hoặc ít ra là ta đoán vậy. Hai kẻ đó, một kẻ ở số 25 phố Vaugirard; kẻ còn lại ở số 75 phố La Harpe."

"Đức ngài có muốn hạ lệnh bắt giữ cả hai ngay lập tức không?"

"Muộn mất rồi; chúng đã cao chạy xa bay."

"Nhưng dẫu sao, chúng ta cũng nên phái người đến kiểm chứng xem sao."

"Hãy dẫn theo mười vệ binh của ta và khám xét thật gắt gao hai căn nhà đó."

"Tuân lệnh, thưa Đức ngài." Rochefort đáp lời rồi tức tốc sải bước ra khỏi phòng.

Hồng y, khi chỉ còn lại một mình, đăm chiêu suy nghĩ trong giây lát rồi rung chuông lần thứ ba. Viên sĩ quan khi nãy lại xuất hiện.

"Đưa tù nhân vào đây lần nữa," vị hồng y ra lệnh.

Ông Bonacieux lại bị áp giải vào, và theo một cái khoát tay của hồng y, viên sĩ quan liền lui bước.

"Nhà ngươi đã lừa gạt ta!" hồng y cất giọng nghiêm nghị.

"Tôi ư," Bonacieux thảng thốt kêu lên, "tôi mà dám lừa gạt Đức ngài sao!"

"Vợ ông, khi đến phố Vaugirard và phố La Harpe, không phải là đi tìm thợ may vải lanh."

"Vậy thì cô ta đến đó làm gì, lạy Chúa công bình?"

"Cô ta đến đó để gặp mặt Nữ công tước de Chevreuse và Công tước Buckingham."

"Vâng," Bonacieux kêu lên, những ký ức về chuyện đó chợt ùa về, "vâng, đúng là thế. Đức ngài nói chí phải. Tôi đã nhiều lần bảo vợ tôi rằng thật nực cười khi những tay thợ may vải lanh lại sống trong những ngôi nhà không hề có biển hiệu; nhưng cô ta luôn cười nhạo tôi. Ôi, thưa Đức ngài!" Bonacieux tiếp tục, phủ phục dưới chân vị hồng y, "ôi, ngài đích thực là bậc hồng y vĩ đại, bậc kỳ tài được cả thế giới kính phục!"

Vị hồng y, dẫu cho chiến thắng trước một kẻ thấp hèn như Bonacieux chẳng có gì đáng để tự hào, nhưng không vì thế mà ngài không tận hưởng chút khoái trá thoáng qua; rồi gần như ngay tức khắc, như thể vừa nảy ra một mưu tính mới, môi ngài điểm một nụ cười. Chìa tay về phía gã chủ tiệm, ngài bảo, "Đứng lên đi, bạn của ta, ông là một người tử tế."

"Đức Hồng y đã chạm tay vào tôi! Tôi đã chạm tay vào bậc vĩ nhân!" Bonacieux thốt lên. "Bậc vĩ nhân đã gọi tôi là bạn!"

"Phải, bạn của ta, phải," vị hồng y lặp lại, bằng cái giọng bề trên thỉnh thoảng ngài vẫn khoác lên mình nhưng chẳng mảy may đánh lừa được ai tường tận ngài; "và vì ông đã bị nghi oan, nên, ông xứng đáng được đền bù. Đây, hãy nhận lấy túi tiền một trăm đồng pistole này, và thứ lỗi cho ta."

"Tôi thứ lỗi cho ngài sao, thưa Đức ngài!" Bonacieux nói, ngập ngừng không dám nhận túi tiền, hẳn vì sợ món quà đầy vẻ giả tạo này chỉ là một trò đùa cợt. "Nhưng ngài có thể tống giam tôi, ngài có thể tra tấn tôi, ngài có thể treo cổ tôi; ngài nắm quyền sinh sát trong tay, và tôi chẳng có lấy nửa lời oán thán. Thứ lỗi cho ngài sao, thưa Đức ngài! Chắc hẳn ngài không có ý đó!"

"Ái chà, ông Bonacieux thân mến của ta, ông thật hào hiệp trong chuyện này. Ta thấu hiểu điều đó và ta cảm ơn ông. Thế thì, hãy nhận lấy chiếc túi này, và rời khỏi đây mà không thấy quá muộn phiền nhé."

"Tôi xin cáo lui trong sự choáng ngợp vô biên."

"Vậy thì, vĩnh biệt, hay nói đúng hơn là au revoir4 (hẹn gặp lại), vì ta mong chúng ta sẽ còn tái ngộ."

"Bất cứ khi nào Đức ngài muốn, tôi luôn sẵn sàng tuân lệnh."

"Sẽ thường xuyên đấy, ta cam đoan với ông, vì ta tìm thấy đôi điều vô cùng thú vị trong cuộc trò chuyện cùng ông."

"Ôi! Thưa Đức ngài!"

"Hẹn gặp lại, ông Bonacieux, hẹn gặp lại!"

Và vị hồng y ra hiệu bằng tay, Bonacieux đáp lễ bằng một cái cúi gập người sâu. Sau đó, ông lui gót bước ra ngoài. Khi đã ra tới phòng chờ, vị hồng y vẫn còn nghe thấy tiếng ông ta hét lên trong sự phấn khích tột độ, "Đức ngài vạn tuế! Đức ngài vạn tuế! Vị hồng y vĩ đại vạn tuế!" Vị hồng y mỉm cười lắng nghe sự bộc phát ồn ào của ông Bonacieux; và rồi, khi những tiếng tung hô tắt hẳn, ngài nói, "Tốt lắm! Từ nay trở đi kẻ đó sẽ sẵn lòng xả thân vì ta." Sau đó, vị hồng y lại cẩn thận xem xét tấm bản đồ La Rochelle đang mở rộng trên bàn, dùng bút chì vạch lộ trình cho con đê chắn sóng nổi tiếng, công trình mà mười tám tháng sau sẽ phong tỏa bến cảng của thành phố bị vây hãm. Đương lúc ngài chìm sâu vào những toan tính chiến lược, cánh cửa bật mở, và Rochefort quay lại.

"Sao rồi?" vị hồng y háo hức hỏi, đứng bật dậy với sự lanh lẹ cho thấy ngài vô cùng xem trọng nhiệm vụ vừa giao cho ngài bá tước.

"Thưa," Rochefort đáp lời, "một phụ nữ trẻ trạc hai mươi sáu hoặc hai mươi tám tuổi, và một người đàn ông từ ba mươi lăm đến bốn mươi tuổi, quả thực đã trọ tại hai ngôi nhà mà Đức ngài chỉ định; nhưng người phụ nữ đã rời đi đêm qua, còn người đàn ông cũng đã rời đi sáng nay."

"Chính là họ!" vị hồng y kêu lên, liếc nhìn đồng hồ; "và bây giờ đã quá muộn để đuổi theo. Nữ công tước đang ở Tours, và công tước ở Boulogne. Bọn chúng hẳn đang hướng đến London."

"Mệnh lệnh của Đức ngài là gì?"

"Tuyệt đối không rò rỉ nửa lời về chuyện đã qua. Hãy để Vương hậu được sống trong sự an tâm tuyệt đối; hãy để bà ấy không hề mảy may nghi ngờ rằng chúng ta đã nắm được bí mật của bà. Cứ để bà ấy tin rằng chúng ta đang ráo riết săn lùng một âm mưu nào đó. Cử người giữ ấn tín Séguier đến cho ta."

"Còn người đàn ông đó, Đức ngài đã làm gì ông ta?"

"Người đàn ông nào?" vị hồng y hỏi lại.

"Tên Bonacieux ấy."

"Ta đã làm với hắn tất thảy những gì có thể. Ta đã biến hắn thành kẻ dò xét chính vợ mình."

Bá tước de Rochefort cúi chào, ngầm thừa nhận sự cao tay của vị chủ nhân xuất chúng, rồi lui gót rời đi.

Khi căn phòng chỉ còn lại một mình, vị hồng y từ tốn ngồi xuống và chắp bút viết một bức thư. Ngài cẩn trọng niêm phong phong thư bằng con dấu đặc biệt của riêng mình. Ngay sau đó, ngài giật chuông. Lần thứ tư, viên sĩ quan lại bước vào.

"Truyền Vitray tới gặp ta," ngài cất giọng, "và bảo hắn chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi xa."

Chỉ một khoảnh khắc sau, người được triệu gọi đã đứng thẳng tắp trước mặt ngài. Chân mang ủng, gót đeo cựa, bộ dạng hắn lộ rõ vẻ sẵn sàng lên ngựa.

"Vitray," ngài dặn dò, "ngươi phải phi ngựa hết tốc lực đến tận London. Tuyệt đối không được dừng lại nghỉ ngơi dù chỉ là một chốc lát trên đường. Nhiệm vụ của ngươi là giao tận tay bức thư này cho Milady. Còn đây là lệnh phiếu rút hai trăm đồng pistole; hãy đến gặp thủ quỹ của ta để lấy tiền. Nếu ngươi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và có mặt ở đây trong vòng sáu ngày, ngươi sẽ được thưởng thêm một khoản tương đương."

Người đưa tin không nói nửa lời. Hắn chỉ lặng lẽ cúi đầu nhận bức thư cùng lệnh phiếu, rồi kính cẩn lui ra ngoài.

Bức thư ấy mang nội dung như sau:

THƯA PHU NHÂN, Hãy tìm cách tham dự buổi dạ vũ đầu tiên có mặt Công tước Buckingham. Ngài ấy sẽ cài mười hai mặt dây chuyền kim cương lên chiếc áo doublet. Phu nhân hãy tiếp cận ngài ấy ở cự ly gần nhất có thể, và cắt lấy hai viên.

Ngay khi những mặt dây chuyền ấy rơi vào tay phu nhân, hãy lập tức báo tin cho ta.



  1. Da thuộc xuất xứ từ thành phố Córdoba (Tây Ban Nha), nổi tiếng khắp châu Âu thời bấy giờ vì chất lượng hảo hạng, thường được giới quý tộc dùng để bọc tường hoặc làm đồ nội thất. 

  2. Kiểu để râu với một chỏm nhỏ dưới cằm. 'Royal' (hoàng gia) là cách gọi thời vua Louis XIII, sau này thế kỷ 19 đổi thành 'imperial' (đế chế) do hoàng đế Napoleon III ưa chuộng. 

  3. Pháo đài và nhà tù nổi tiếng ở Paris, từng là biểu tượng cho quyền lực tuyệt đối của hoàng gia Pháp, nơi thường giam giữ những tội phạm chính trị hoặc những nhân vật chống đối triều đình. 

  4. Một lời chào tạm biệt trong tiếng Pháp mang nghĩa 'hẹn gặp lại', được Hồng y dùng thay cho từ 'vĩnh biệt' (adieu - tạm biệt mãi mãi) để ngụ ý rằng ông ta vẫn còn cần đến Bonacieux.