Chương XIII. ÔNG BONACIEUX

Giữa muôn vàn biến cố vừa qua, hẳn độc giả cũng nhận thấy có một nhân vật liên quan mà ta dường như đã lãng quên, bất chấp tình cảnh của ông ta đang ngàn cân treo sợi tóc. Đó chính là ông Bonacieux, một nạn nhân đáng kính của những âm mưu chính trị và tình ái đan cài quá đỗi tinh vi trong cái thời đại hào hoa sặc mùi hiệp sĩ này.

Thật may mắn, độc giả có thể nhớ, hoặc không-nhưng thật may mắn là chúng ta đã hứa sẽ không bỏ rơi ông ta.

Đám sĩ quan bắt giữ Bonacieux đã điệu ông thẳng đến ngục Bastille. Nơi đây, ông vừa đi ngang qua một toán lính đang nạp đạn súng hỏa mai vừa run lẩy bẩy. Sau đó, ông bị tống xuống một dãy hành lang ngập nửa bề sâu dưới lòng đất, trở thành bia đỡ đạn cho những lời lăng mạ thô bỉ và sự đối xử tàn tệ nhất từ những kẻ bắt giữ mình. Đám sĩ quan thừa biết chúng chẳng phải nương tay với một gã quý tộc nào cả, nên cứ thế mà đối xử với ông chẳng khác gì một tên nông dân hạ đẳng.

Khoảng nửa giờ sau, một viên thư ký xuất hiện. Sự có mặt của y tuy chấm dứt chuỗi hành hạ thể xác, nhưng lại chẳng thể xoa dịu nỗi khiếp sợ trong lòng ông, bởi y mang theo lệnh điệu ông Bonacieux đến Phòng Khảo thí. Thông thường, tù nhân sẽ bị thẩm vấn ngay trong xà lim; nhưng với ông Bonacieux, người ta lại dành cho một ngoại lệ.

Hai tên lính gác xốc nách nhà buôn vải đi qua một khoảng sân, bước vào hành lang có ba lính canh chốt giữ, rồi thô bạo đẩy ông qua một cánh cửa để vào căn phòng trần thấp. Đồ đạc ở đó chẳng có gì ngoài một cái bàn, một cái ghế và một viên ủy viên đang ngồi cắm cúi viết.

Theo cái khoát tay của viên ủy viên, hai tên lính gác đưa tù nhân đến gần bàn rồi lùi lại đủ xa để không thể nghe thấy gì.

Bấy giờ, viên ủy viên mới ngẩng mặt khỏi đống giấy tờ để dò xét xem mình sắp sửa đối phó với hạng người nào. Đó là một gã có diện mạo cực kỳ gớm ghiếc: mũi nhọn hoắt, gò má nhô cao vàng vọt, đôi mắt ti hí nhưng sắc lẹm như dao, cùng nét mặt lai tạp giữa chồn hôi và cáo già. Cái đầu gã lắc lư trên chiếc cổ dài ngoẵng linh hoạt, thò ra từ tấm áo choàng đen rộng thùng thình, nom hệt như một con rùa thò đầu ra khỏi mai. Viên ủy viên bắt đầu tra hỏi ông Bonacieux về tên tuổi, thân phận và nơi ở của ông.

Bị cáo run rẩy khai báo mình tên là Jacques Michel Bonacieux, năm nay năm mươi mốt tuổi, từng làm nghề buôn vải nay đã nghỉ hưu, hiện ngụ tại số 14 phố Rue des Fossoyeurs.

Thay vì tiếp tục thẩm vấn, viên ủy viên lại tuôn ra một tràng giáo huấn dài dòng, răn đe về những hiểm họa chực chờ giáng xuống đầu một thường dân vô danh tiểu tốt dám cả gan nhúng mũi vào chuyện quốc gia đại sự. Để tăng thêm phần dọa dẫm, gã còn ca ngợi hết lời quyền uy và những chiến công hiển hách của vị Hồng y giáo chủ1-một vị bộ trưởng độc nhất vô nhị, vượt xa các bậc tiền bối và là tấm gương sáng ngời cho hậu thế-kẻ mà không một ai có thể ngáng đường mà không phải trả giá đắt.

Chấm dứt bài diễn thuyết, gã giương đôi mắt diều hâu xoáy chặt vào Bonacieux tội nghiệp, gầm gừ bảo ông hãy tự liệu mà suy ngẫm về tình cảnh bi đát của mình.

Nhà buôn vải đã nghĩ thông suốt từ lâu; ông ta thầm rủa xả cái ngày mà ông Laporte nảy nòi ra ý định gả cô con gái đỡ đầu cho mình, và đặc biệt căm hận cái khoảnh khắc nàng được nhận làm Quản lý Đồ vải cho Vương hậu.

Về bản chất, ông Bonacieux là một kẻ ích kỷ tận xương tủy, hám lợi bần tiện, lại thêm thói hèn nhát tột cùng. Tình yêu mỏng manh mà người vợ trẻ khơi gợi trong ông chẳng thấm tháp vào đâu, và hoàn toàn không đủ sức chống chọi lại những bản ngã hèn mọn vừa kể trên. Vì thế, Bonacieux thực sự đã thấm thía những lời đe dọa.

"Nhưng thưa ngài Ủy viên," ông ta cố giữ giọng điềm tĩnh, "xin ngài hãy tin rằng, hơn ai hết, tôi luôn thấu hiểu và ngưỡng mộ những công lao vĩ đại của Đức Hồng y độc nhất vô nhị đang cai quản chúng ta."

"Thật sao?" viên ủy viên nheo mắt hoài nghi. "Nếu quả đúng như vậy, làm thế quái nào nhà ngươi lại rớt xuống ngục Bastille?"

"Làm sao tôi rớt xuống đó, hay đúng hơn là vì cớ gì tôi lại ở đây," Bonacieux đáp, "điều đó tôi thực tình không tài nào giải thích nổi, vì chính tôi cũng mù tịt; nhưng chắc chắn một điều, tôi không bao giờ-ít nhất là cố ý-làm mất lòng Đức Hồng y."

"Dù vậy, nhà ngươi hẳn đã nhúng chàm, bởi nhà ngươi đang ở đây và bị buộc tội phản quốc."

"Tội phản quốc!" Bonacieux thất kinh hồn vía kêu rú lên; "tội phản quốc! Làm sao một người buôn vải khốn khổ, luôn căm ghét bọn Huguenot và kinh tởm bọn Tây Ban Nha, lại có thể mang tội phản quốc? Xin ngài hãy soi xét, chuyện đó hoàn toàn vô lý!"

"Ông Bonacieux," viên ủy viên gằn giọng, ánh mắt như muốn nhìn thấu tâm can bị cáo, "ông có vợ chứ?"

"Vâng, thưa ngài," nhà buôn vải run rẩy đáp, linh cảm sóng gió đang chực chờ ập tới; "nghĩa là, tôi đã từng có một người."

"Cái gì, nhà ngươi 'đã từng có một người'? Vậy nhà ngươi đã làm gì với cô ta, nếu nhà ngươi không còn cô ta nữa?"

"Người ta đã bắt cóc cô ấy, thưa ngài."

"Người ta bắt cóc cô ta? À!"

Tiếng "À" đầy ẩn ý này khiến Bonacieux lờ mờ nhận ra sự việc đang rẽ sang một hướng tồi tệ hơn.

"Người ta đã bắt cóc cô ta," viên ủy viên gặng hỏi tiếp; "và ông có biết kẻ nào đã làm chuyện đó không?"

"Tôi nghĩ là tôi biết."

"Hắn là ai?"

"Mong ngài nhớ cho, tôi không dám khẳng định điều gì, thưa ngài Ủy viên, tôi chỉ nghi ngờ thôi."

"Nhà ngươi nghi ngờ ai? Nào, cứ tự nhiên mà nói."

Ông Bonacieux rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nên chối bay chối biến hay khai sạch sành sanh? Nếu giấu giếm, người ta sẽ sinh nghi rằng ông biết quá nhiều nên mới không dám cạy răng; còn nếu thành khẩn, ít ra ông cũng chứng minh được thiện chí của mình. Suy đi tính lại, ông quyết định tuôn ra hết.

"Tôi nghi ngờ," ông rụt rè nói, "một gã đàn ông cao lớn, ngăm đen, dáng điệu oai vệ, trông bề ngoài hệt như một bậc đại chúa tể. Theo tôi thấy, hắn đã vài lần bám đuôi chúng tôi khi tôi đứng đợi vợ ở cổng điện Louvre để đưa cô ấy về nhà."

Viên ủy viên chợt tỏ vẻ bồn chồn.

"Và tên hắn?" gã vội hỏi.

"Ồ, tên hắn thì tôi chịu; nhưng nếu có chạm mặt, tôi dám thề sẽ nhận ra hắn ngay tắp lự, dù hắn có đứng giữa cả ngàn người."

Sắc mặt viên ủy viên thoắt cái tối sầm lại.

"Nhà ngươi nói nhà ngươi sẽ nhận ra hắn giữa một ngàn người sao?" gã gằn từng chữ.

"Ý tôi là," Bonacieux kêu lên, nhận ra mình vừa trót lỡ lời, "ý tôi là-"

"Nhà ngươi vừa nói là nhà ngươi sẽ nhận ra hắn," viên ủy viên cắt ngang. "Thế là quá tốt, và nhiêu đó là đủ cho ngày hôm nay. Trước khi đi xa hơn, ta phải bẩm báo cho người khác biết rằng nhà ngươi nhận diện được kẻ đã bắt cóc vợ mình."

"Nhưng tôi chưa từng nói với ngài là tôi biết hắn!" Bonacieux tuyệt vọng gào lên. "Ngược lại, tôi đã nói với ngài-"

"Đưa tù nhân đi!" viên ủy viên ra lệnh cho hai lính gác.

"Chúng tôi phải giam ông ta ở đâu?" tên lính hỏi.

"Tống xuống ngục tối."

"Ngục nào ạ?"

"Lạy Chúa! Ngục nào tiện nhất thì quẳng xuống, miễn là khóa chặt lại," viên ủy viên đáp trả bằng một vẻ lạnh lùng khiến Bonacieux tội nghiệp hồn xiêu phách lạc.

"Than ôi, than ôi!" ông ta tuyệt vọng rên rỉ, "tai họa giáng xuống đầu tôi rồi; vợ tôi chắc hẳn đã gây ra tội tày đình nào đó. Bọn họ đinh ninh tôi là tòng phạm, và sẽ xử trảm tôi cùng cô ấy. Cô ấy hẳn đã khai ra; cô ấy hẳn đã cung xưng mọi thứ-đàn bà sao mà yếu đuối đến thế! Một ngục tối! Tống ngay vào cái ngục đầu tiên nhìn thấy! Đúng thế! Một đêm sẽ chóng qua thôi; và ngày mai sẽ là bánh xe tra tấn, là giá treo cổ! Ôi, lạy Chúa, lạy Chúa lòng lành, xin hãy thương xót con!"

Mặc kệ những lời than khóc thảm thiết của Bonacieux-những âm thanh mà có lẽ chúng đã nghe đến nhẵn tai-hai tên lính gác vẫn kẹp chặt hai bên cánh tay tù nhân rồi xốc đi, trong khi viên ủy viên hối hả vạch vội một bức thư và sai sĩ quan túc trực hỏa tốc đi gửi.

Bonacieux cả đêm không chợp mắt; chẳng phải vì xà lim quá đỗi tồi tàn, mà bởi nỗi bất an trong lòng quá đỗi lớn lao. Ông lão ngồi thâu đêm trên chiếc ghế đẩu, giật mình thon thót trước từng tiếng động nhỏ nhặt nhất; và khi những tia nắng đầu tiên le lói xuyên qua song sắt, ngay cả ánh bình minh dường như cũng nhuốm màu tang tóc.

Đột nhiên, nghe tiếng chốt cửa khua loảng xoảng, ông giật nảy mình trong nỗi kinh hoàng tột độ. Đinh ninh rằng người ta đến áp giải mình ra đoạn đầu đài; nên khi chỉ thấy viên ủy viên tối qua cùng viên thư ký bước vào thay vì gã đao phủ hằng tưởng tượng, ông lão mừng rỡ đến mức suýt chút nữa đã ôm chầm lấy cả hai.

"Chuyện của ông đã rắc rối hơn nhiều kể từ tối qua đấy, ông bạn tốt ạ. Ta khuyên ông nên thành khẩn khai báo mọi sự; bởi lẽ chỉ có sự ăn năn hối lỗi của ông mới hòng xoa dịu được cơn thịnh nộ của Đức Hồng y."

"Trời đất ơi, tôi sẵn lòng khai tuốt tuột!" Bonacieux tru tréo, "Chí ít là tất tật những gì tôi biết. Xin ngài cứ tra vấn, tôi van ngài!"

"Trước tiên, vợ ông đang ở đâu?"

"Sao cơ, chẳng phải tôi đã bẩm báo với ngài rằng cô ấy đã bị người ta bắt cóc khỏi tay tôi rồi sao?"

"Đúng là vậy, nhưng vào lúc năm giờ chiều hôm qua, nhờ có ông tiếp tay, cô ta đã trốn thoát."

"Vợ tôi trốn thoát ư!" Bonacieux thảng thốt. "Ôi, sinh vật bất hạnh! Thưa ngài, nếu cô ấy đã trốn thoát thì thề có Chúa, đó chẳng phải lỗi của tôi."

"Thế thì ông có việc gì mà lại đi vào phòng của ông d'Artagnan, người hàng xóm của ông, người mà ông đã hàn huyên xôn xao suốt cả ban ngày?"

"À, vâng, thưa ngài Ủy viên; vâng, chuyện đó là thật, và tôi xin thú nhận mình đã hồ đồ. Tôi quả có đến tìm ông d'Artagnan."

"Mục đích của chuyến viếng thăm đó là gì?"

"Để van nài ông ấy giúp tôi tìm lại vợ. Tôi đinh ninh mình có quyền cất công dò la tung tích cô ấy. Xem ra tôi đã bị lừa gạt, xin ngài rộng lượng thứ lỗi cho."

"Thế ông d'Artagnan đã hồi đáp ra sao?"

"Ông d'Artagnan hứa sẽ giúp đỡ tôi; nhưng tôi sớm nhận ra ông ấy chỉ đang phản bội mình."

"Ông đang dối trá công lý. Ông d'Artagnan đã thông đồng với ông; và theo như thỏa thuận, ông ta đã đánh đuổi toán cảnh sát đến bắt vợ ông, rồi đưa cô ta đến nơi an toàn."

"Ông d'Artagnan bắt cóc vợ tôi á! Thôi nào, ngài đang nói cái gì với tôi vậy?"

"Phước đức thay, ông d'Artagnan hiện đang ở trong tay chúng ta, và ông sẽ được đối chất với ông ta ngay tắp lự."

"Có Chúa chứng giám, tôi chẳng mong gì hơn thế!" Bonacieux mừng rỡ rống lên; "tôi sẽ không buồn khi được nhìn thấy gương mặt của một người quen."

"Dẫn ông d'Artagnan vào đây," viên ủy viên hạ lệnh với lính gác. Hai tay lính gác dẫn Athos bước vào.

"Ông d'Artagnan," viên ủy viên cất lời, hướng mắt về phía Athos, "hãy khai báo ngọn ngành những gì đã diễn ra ngày hôm qua giữa anh và người đàn ông này."

"Nhưng..." Bonacieux hốt hoảng kêu lên, "đây đâu phải ông d'Artagnan mà ngài định cho tôi đối mặt!"

"Cái gì! Không phải ông d'Artagnan ư?" viên ủy viên sửng sốt thốt lên.

"Hoàn toàn không phải," Bonacieux cả quyết trả lời.

"Thế tên của quý ông này là gì?" viên ủy viên dò hỏi.

"Tôi chịu, làm sao thưa với ngài được; tôi đâu có biết ông ấy."

"Sao! Nhà ngươi không biết hắn?"

"Không."

"Nhà ngươi chưa từng chạm mặt hắn sao?"

"Có chứ, tôi từng gặp ông ấy rồi, nhưng tôi không biết ông ấy tự xưng danh là gì."

"Tên anh là gì?" viên ủy viên quay sang vặn hỏi Athos.

"Athos," chàng Lính ngự lâm dõng dạc đáp.

"Nhưng đó đâu phải là tên người; đó là tên một ngọn núi2 mà," vị quan tòa đáng thương kêu lên, ông ta bắt đầu mất bình tĩnh.

"Đó là tên của tôi," Athos điềm nhiên nói.

"Nhưng anh từng bảo tên anh là D'Artagnan cơ mà."

"Ai, tôi á?"

"Đúng, là anh."

"Có người nói với tôi: 'Ông là ông d'Artagnan?'. Tôi bèn đáp: 'Ngài nghĩ vậy sao?'. Đám lính gác của ngài cứ quả quyết nằng nặc điều đó. Tôi chẳng buồn cãi lý với họ; vả lại, tôi có thể bị lầm tưởng."

"Thưa anh, anh đang nhạo báng sự tôn nghiêm của công lý đấy."

"Không hề," Athos bình thản đáp.

"Anh chính là ông d'Artagnan."

"Ngài thấy không, thưa ngài, ngài lại vừa nói thế nữa kìa."

"Nhưng thưa ngài Ủy viên, tôi xin thề với ngài," đến lượt Bonacieux cuống cuồng chen ngang, "chuyện này không có mảy may nghi ngờ nào. Ông d'Artagnan là người thuê nhà của tôi, dẫu ông ấy có không trả tiền nhà cho tôi đi chăng nữa - thì chính vì thế tôi lại càng phải biết ông ấy. Ông d'Artagnan là một chàng thanh niên mới mười chín đôi mươi, còn quý ông đây ít ra cũng phải ngoại tam tuần. Ông d'Artagnan sung vào đội Vệ binh của ông Dessessart, còn quý ông đây thuộc đội Lính ngự lâm của ông de Tréville. Ngài cứ nhìn quân phục của ông ấy xem, thưa ngài Ủy viên, ngài hãy nhìn quân phục của ông ấy!"

"Đúng thật," viên ủy viên lẩm bẩm; "pardieu3, đúng thật."

Ngay lúc ấy, cánh cửa xịch mở, một phái viên do người gác ngục Bastille dẫn đường bước vào, đệ trình một phong thư cho viên ủy viên.

"Ôi, người phụ nữ bất hạnh!" viên ủy viên kêu lên.

"Sao cơ? Ngài nói gì cơ? Ngài đang nói về ai vậy? Tôi hy vọng không phải là vợ tôi!"

"Trái lại, chính là thị đấy. Chuyện của nhà ngươi thật đẹp mặt."

"Nhưng thưa ngài," gã buôn vải bối rối phân trần, "xin ngài vui lòng cho tôi biết cớ sao việc riêng của tôi lại đâm ra tồi tệ hơn bởi bất cứ thứ gì vợ tôi làm trong khi tôi đang bị giam cầm thế này?"

"Bởi vì những gì cô ta làm nằm trong một kế hoạch đã được mưu tính kỹ lưỡng giữa hai người - một kế hoạch thâm độc."

"Tôi xin thề với ngài, thưa ngài Ủy viên, ngài đã lầm to rồi. Tôi chẳng hay biết một mảy may gì trên đời về những hành tung của vợ tôi, tôi hoàn toàn đứng ngoài những việc cô ấy làm; và nếu cô ấy có rồ dại nhúng chàm vào bất cứ chuyện gì, tôi xin ruồng bỏ cô ấy, tôi từ mặt cô ấy, tôi nguyền rủa cô ấy!"

"Chậc!" Athos chép miệng nói với viên ủy viên, "nếu ngài không cần tôi nữa, hãy tống tôi đi đâu đó cho rảnh. Ông Bonacieux của ngài phiền toái quá sức."

Viên ủy viên chĩa ngón tay về phía Athos và Bonacieux, gằn giọng: "Canh gác chúng cẩn mật hơn bao giờ hết."

"Và tuy nhiên," Athos nói với sự điềm tĩnh thường ngày của mình, "nếu ông d'Artagnan là người dính líu đến vụ này, tôi chẳng thấy mình có thể thế chỗ ông ấy kiểu gì."

"Cứ làm như ta dặn," viên ủy viên quát tháo, "và phải giữ bí mật tuyệt đối. Ngươi hiểu không!"

Athos nhún vai, và lặng lẽ rảo bước theo những người lính gác của mình, bỏ lại đằng sau ông Bonacieux đang cất lên những lời than vãn đủ làm tan nát cả cõi lòng một con hổ.

Bọn họ tống giam người buôn vải vào đúng cái ngục tối mà ông đã trải qua đêm trước, rồi bỏ mặc ông thui thủi một mình suốt cả ngày. Bonacieux sụt sùi khóc lóc không ngừng, đúng chuẩn một kẻ buôn bán nhát gan chứ chẳng mang chút cốt cách nhà binh nào như ông từng tự nhận. Buổi tối, quãng chừng chín giờ, ngay lúc ông vừa định ngả lưng, chợt có tiếng bước chân vang lên ngoài hành lang. Tiếng chân mỗi lúc một gần ngục tối, rồi cánh cửa bật mở, những gã lính canh lố nhố hiện ra.

"Theo ta," một viên sĩ quan đi theo sau đám lính canh cất lời.

"Theo ngài!" Bonacieux thất thanh, "Theo ngài vào giờ này ư! Lạy Chúa tôi, đi đâu cơ chứ?"

"Đến nơi mà bọn ta được lệnh phải giải ông tới."

"Nhưng ngài đáp thế thì khác gì không trả lời cơ chứ."

"Dù vậy, đó là câu trả lời duy nhất mà ta có thể nói."

"Ôi, lạy Chúa, lạy Chúa tôi!" người buôn vải khốn khổ thì thầm, "Kỳ này thì nắm chắc phần chết rồi!" Ông lầm lũi bước theo đám lính gác một cách vô hồn, chẳng buồn phản kháng.

Ông bị áp giải dọc theo hành lang cũ, băng qua một khoảng sân trước khi tiến đến một dãy nhà khác. Cuối cùng, ngay cổng sân trước, một cỗ xe ngựa được bốn tên lính kỵ binh hộ tống đã chực sẵn. Bọn họ tống ông lên xe, viên sĩ quan ngồi cạnh ông, cánh cửa đóng sập lại khóa trái, biến cỗ xe thành một ngục tối di động. Chiếc xe lăn bánh chậm chạp nặng nề hệt như một chiếc xe tang. Qua những ô cửa sổ đóng kín mít, người tù chỉ nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng những ngôi nhà và vỉa hè; nhưng với một người rành rẽ Paris đến từng chân tơ kẽ tóc như Bonacieux, ngần ấy cột mốc, biển hiệu và ánh đèn cũng đủ để ông nhận ra mọi con phố. Chừng xe đến St. Paul4-nơi hành quyết những tử tù của ngục Bastille-ông suýt ngất lịm đi và vội vàng làm dấu thánh giá hai lần. Ông cứ ngỡ cỗ xe sẽ dừng lại tại đó, thế nhưng nó vẫn lầm lũi tiến bước.

Đi xa hơn một chút, nỗi kinh hoàng càng bóp nghẹt lấy ông khi xe băng qua nghĩa trang St. Jean5, nơi chôn cất những tội phạm quốc gia. Tuy nhiên, có một điều giúp ông đôi chút yên lòng; ông nhớ ra rằng bọn tội phạm này thường bị chặt đầu trước khi đem chôn, và ông tự vuốt cổ để chắc rằng đầu mình vẫn còn yên vị. Nhưng khi thấy cỗ xe rẽ sang đường hướng về La Grêve6, và khi nhận ra mái nhà nhọn hoắt của tòa thị chính Hôtel de Ville7 lấp ló lúc xe đi qua dưới mái vòm, ông đinh ninh rằng đời mình đến đây là chấm dứt. Ông van nài xin xưng tội với viên sĩ quan, nhưng bị cự tuyệt phũ phàng, thế là ông rú lên những tiếng kêu thảm thiết đến mức viên sĩ quan phải quát lên rằng, nếu ông còn tiếp tục tra tấn màng nhĩ gã, gã sẽ nhét giẻ vào mồm ông.

Sự đe dọa này phần nào khiến Bonacieux bình tâm lại. Nếu bọn họ định hành quyết ông ở La Grêve, thì việc bịt miệng ông ngay sát pháp trường có ích lý gì. Quả thực, cỗ xe đã đi ngang qua chốn tử địa đó mà chẳng hề nán lại. Vậy thì chẳng còn nơi nào khác đáng sợ ngoài Ngã tư Kẻ phản bội8 (Traitor's Cross); và cỗ xe đang lao thẳng trên con đường dẫn tới nơi đó.

Lần này thì mọi nghi ngờ đều tan biến; Ngã tư Kẻ phản bội chính là nơi hành quyết những tội phạm thứ cấp. Bonacieux đã từng hão huyền tự nâng tầm mình khi nghĩ rằng bản thân đủ tư cách để chịu tội tại St. Paul hay Quảng trường de Grêve; nào ngờ hành trình và số phận của ông lại rẽ lối kết thúc ở nơi ngã tư đầy ô nhục này! Ông vẫn chưa nhìn thấy cây thánh giá rùng rợn ấy, nhưng một dự cảm hắc ám nào đó khiến ông thấy như thể nó đang sừng sững chực chờ nuốt chửng lấy mình. Khi chỉ còn cách nó chừng hai mươi bước chân, tiếng ồn ào của đám đông chợt dội vào tai ông, và cỗ xe khựng lại. Mọi thứ đã vượt quá giới hạn chịu đựng của Bonacieux tội nghiệp, người vốn đã rã rời thể xác lẫn tinh thần bởi bao nỗi khiếp đảm liên tiếp giáng xuống; ông buông một tiếng rên rỉ yếu ớt, nghe hệt như tiếng thở dài trăng trối của một kẻ hấp hối, rồi lịm đi.



  1. Tước vị chức sắc cao cấp trong Giáo hội Công giáo. Trong bối cảnh lịch sử Pháp thế kỷ 17, tước vị này thường ngầm chỉ Hồng y Richelieu, người nắm giữ quyền lực chính trị tối cao tương đương một Tể tướng dưới thời Vua Louis XIII. 

  2. Ám chỉ Núi Athos (Mount Athos) nằm ở Hy Lạp, một trung tâm tu viện quan trọng của Chính thống giáo phương Đông, thường được mệnh danh là "Núi Thánh". 

  3. Một thán từ cổ trong tiếng Pháp, bắt nguồn từ chữ "par Dieu" (nhân danh Chúa), thường được dùng để thề thốt hoặc bày tỏ sự ngạc nhiên, khẳng định mạnh mẽ. 

  4. Giáo xứ Saint-Paul ở Paris, nơi có khu nghĩa trang chuyên dùng để chôn cất những tù nhân bị hành quyết hoặc chết trong ngục Bastille. 

  5. Nghĩa trang Saint-Jean-en-Grève ở Paris, từng là nơi chôn cất phổ biến dành cho những tử tội bị hành quyết tại quảng trường La Grêve. 

  6. Quảng trường Place de Grève (ngày nay là Place de l'Hôtel-de-Ville) ở trung tâm Paris. Trong lịch sử, đây là địa điểm khét tiếng thường xuyên diễn ra các buổi hành quyết công khai. 

  7. Tòa thị chính của thủ đô Paris, trung tâm hành chính của thành phố, nằm đối diện quảng trường Place de Grève. 

  8. Dịch từ nguyên gốc "Croix-du-Trahoir" (hoặc Croix-du-Tiroir), một ngã tư cổ ở Paris nổi tiếng với một cây thánh giá, đồng thời cũng là một địa điểm hành quyết quen thuộc dành cho các tội phạm thứ cấp.